VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Người
kể chuyện cổ tích Việt Nam: Nguyễn Đổng Chi
Tên tuổi của Nguyễn Đổng Chi không chỉ nổi
tiếng trong giới văn học mà còn đi sâu vào tâm trí
nhiều người Việt Nam bởi ông đã dành rất nhiều tâm
huyết để viết nên những câu chuyện cổ tích thân
thương với nhiều thế hệ người Việt.
Nguyễn Đổng Chi sinh trưởng trong một gia đình
nhà Nho yêu nước ở xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, Hà
Tĩnh. Cụ thân sinh ra ông là Nguyễn Hiệt Chi, một
nhà giáo đức độ và là người sáng lập ra trường Dục
Thanh (Phan Thiết), . Chú ruột của ông là Nguyễn
Hàng Chi, người bị xử chém năm 1908 vì “tội danh”
cầm đầu phong trào chống thuế ở Nghệ Tĩnh. Cả dòng
họ này tên Chi, chỉ khác nhau từ đệm vì theo giáo
sư Huệ Chi, con trai trưởng của ông cho biết: Các
bậc tiền bối lấy tên của những anh hùng để đặt cho
con cháu, mong con cháu noi theo tiền nhân, như:
Đổng là Phù Đổng Thiên Vương, chữ Từ trong Từ Chi
là Đào Duy Từ, chữ Hưng trong Hưng Chi là Trần Hưng
Đạo. Thời thanh niên, Nguyễn Đổng Chi đã tham gia
phong trào Dân chủ phản đế (1936 -1939)
Nguyễn Đổng Chi mất mẹ từ thuở thiếu thời,
được bà cô ở vậy nuôi đến lúc trưởng thành. Tuy
chỉ học hết bậc Thành chung, nhưng ông đã biết tận
dụng tủ sách của cha ông để tự học. Chuyện kể rằng
có một hôm ông đến phố Bát Đàn trông hộ bà cô cửa
hàng bát đĩa, có một người Pháp vào xem một chiếc
bát có in chữ Hàn và đề nghị ông giải nghĩa. Sau
lần ấy, tự thấy mình chữ Hán chưa tốt, ông tự cạo
trọc đầu, yên tâm ngồi học ba, bốn năm liền, cho
đến khi trình độ chữ Hán của ông trở nên uyên thâm,
ít người theo kịp. “Kho tàng chuyện cổ tích Việt
Nam” là một trong những bộ sách lớn nhất trong các
công trình nghiên cứu của ông, nó quy tụ mọi nguồn
cổ tích mà ông dày công tìm tòi trong suốt 50 năm.
Năm tập sách cả thảy có 2740 trang, một phần lớn
số trang được dành cho hơn 200 cốt truyện chọn lọc,
được sắp xếp theo hệ thống rất rạch ròi.
Giáo sư Nguyễn Đổng Chi là người thu phục
được nhân tâm, được các bạn đồng nghiệp nể trọng
bởi cái đức, cái tài của ông. Về tính thanh đạm
và thái độ làm việc nghiêm túc của giáo sư, có người
đã kể lại một câu chuyện giản dị: Ngày ấy còn trong
thời bao cấp, người ta còn kháo nhau: “Đâu có hội
thảo thì đi để được cải thiện”. trong một cuộc hội
thảo quốc tế, nhiều người từ thành phố Hồ Chí Minh
ra Hà Nội dự cũng chỉ vì có ông tham dự. Có người
hỏi đùa ông: Hội thảo quốc tế chắc liên hoan phải
to lắm? Ông chất phác trả lời: “Không có gì cả,
ai nấy đều phải tự lo bữa trưa! Bản thân ông đi
mua vài cái bánh tẻ ăn lót bụng”.
Nguyễn Đổng Chi đã qua đời hơn 20 năm, những
tác phẩm của ông vẫn sống với nhiều thế hệ người
đọc, giới văn học lấy sách của ông để được tham
khảo, nghiên cứu.

Sự
tích cây huyết dụ
Ngày xưa
có một người chuyên mua lợn về giết thịt để mang
bán ở chợ. Nhà bác ta ở bên cạnh một ngôi chùa làng.
Hàng ngày, vào lúc mờ sáng là lúc sư cụ bên chùa
theo lệ thường thức dậy tụng kinh. Và cũng theo
lệ thường, chú tiểu dậy gõ một hồi chuông mai. Bấy
giờ cũng là lúc bác sửa soạn giết lợn, cho nên bác
ta quen lấy tiếng chuông làm chừng thức dậy làm
việc hằng ngày. Cứ như thế, ngày nào cũng như ngày
ấy không bao giờ sai lạc.
Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà
dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy
vái để, miệng nói: "Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!".
Sư hỏi người đàn bà: - "A-di-đà-Phật! Cứu mạng
là cứu thế nào? Bần tăng phải làm gì đây?".
Người mẹ có bộ điệu hãi hùng ấy trả lời: - "Ngày
mai xin hòa thượng hãy đánh chuông chậm lại. Như
vậy mẹ con chúng thiếp rất đội ơn". Nhà sư
tỉnh dậy không hiểu thế nào cả. Nhưng tờ mờ sáng
hôm đó, vâng theo lời báo mộng, sư cụ chỉ lâm râm
đọc kinh cầu nguyện mà không đánh thức chú tiểu
dậy thỉnh chuông.
Lại nói chuyện hôm ấy bác đồ tể ngủ một giấc li
bì. Mãi đến lúc mặt trời lên chừng một cây sào,
tiếng chuông chùa mới bắt đầu vang rền làm cho bác
giật mình choàng dậy. Thấy trời đã quá trưa, bác
không dám giết lợn như thường lệ, vì nếu làm thịt
thì khi đưa ra đến chợ, chợ đã vãn người rồi. Tức
mình vì lỡ mất một buổi chợ, bác ta lật đật sang
chùa trách sư cụ. Sư cụ bèn đem câu chuyện nằm mộng
đêm qua để phân trần với ông hàng xóm không phải
lỗi tại mình.
Nhưng lúc bước chân về chuồng lợn của nhà thì bác
đồ tể ngạc nhiên thấy con lợn cái mua ngày hôm qua
toan giết thịt sáng đó, đã đẻ được năm con lợn con.
Vừa mừng vừa sợ, bác ta kể cho mọi người biết sự
lạ lùng: - "Ðúng là linh hồn người đàn bà ẩn
trong con lợn cái đã tìm cách cứu bầy con của mình
khỏi chết".
Tự nhiên bác đồ tể đâm ra suy nghĩ. Bác thấy bàn
tay của mình đã từng vấy máu biết bao nhiêu là sinh
mạng. Trong một lúc hối hận đến cực điểm, bác ta
cầm cả con dao bầu chạy sang chùa bộc bạch nỗi lòng
với sư cụ. Bác ta quả quyết cắm con dao của mình
trước sân chùa, thề trước Phật đài từ nay xin giải
nghệ.
Không rõ bác đồ tể rồi sau đó thế nào, nhưng con
dao của bác tự nhiên hóa thành một loại cây có lá
đỏ như máu và nhọn như lưỡi dao bầu, người ta vẫn
gọi là cây huyết dụ (1).

|