VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày sinh của Nguyễn Đình Chiểu ( 01-7-1822)
''Văn
tế nghĩa sĩ Cần Giuộc'' - Ngôi đền thiêng trong
văn học
Cụ Nguyễn Đình Chiểu
Nhà phê bình Hoài Thanh, trong bài viết Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc - một trong những bài văn hay nhất
của chúng ta đã công nhận là từ trước khi có tác
phẩm này, trong văn chương chưa hề có một cái nhìn
yêu thương và kính phục như vậy đối với người nông
dân: Nhớ linh xưa: cui cút làm ăn - toan lo nghèo
khó”, và ông viết: "Bao nhiêu yêu thương trong
hai từ cui cút ấy”!
Cũng xin nói "cui cút" là từ ngữ "đặc
Nam Bộ" nhưng thực ra ai cũng hiểu, và sách
giáo khoa Văn học lớp 11 cũng đã chú thích khá rõ:
"Cui cút làm ăn: có nghĩa là làm ăn lẻ loi,
thầm lặng một cách tội nghiệp". Thực ra, trường
ngữ nghĩa của "cui cút" còn rộng và sâu
hơn "tội nghiệp" rất nhiều. Chỉ trong
một câu văn 8 chữ: “cui cút làm ăn; toan lo nghèo
khó" đã hiện lên đầy đủ một vòng đời không
lối thoát của người nông dân Việt, người "dân
ấp dân lân" Nam Bộ. Bắt đầu bằng cui cút, vật
lộn làm ăn, toan lo để cuối cùng kết thúc trong
nghèo khó. Cứ ngỡ họ sẽ mãi mãi cam chịu như thế:
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ, và đúng như
cụ Đồ Chiểu đã tả: Việc cuốc việc cày việc bừa việc
cấy tay vốn quen làm; tập khiên tập súng tập mác
tập cờ mắt chưa từng ngó. Họ thật thà và ngây thơ
lắm, đến nỗi: Trông tin quan như trời hạn trông
mưa, nhưng họ cũng dữ dằn lắm đó nghe: Ghét thói
mọi như nhà nông ghét cỏ. Đừng đùa với họ, nhất
là đừng lừa họ, bịp họ! Đọc văn tế phải đặc biệt
chú ý đến phép đối ngẫu, cả đại đối và tiểu đối.
Người ta nói dường như từ văn tế đến thơ văn xuôi
là một khoảng cách khá gần, đúng là như thế. Văn
tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong khi tuân thủ chặt chẽ
lề luật của một bài văn tế thông thường, đã vượt
lên thành một tác phẩm văn học độc đáo có một không
hai. Đây là lần đầu tiên trong văn học thành văn
Việt Nam xuất hiện hình ảnh người nông dân - chiến
sĩ, người cố nông, bần nông - nghĩa sĩ. Và Nguyễn
Đình Chiểu là nhà thơ Việt đầu tiên công khai vẽ
lên và ngợi ca hình ảnh người anh hùng Chẳng qua
là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Giọng thơ bi thiết, hào sảng, dữ dội, dịu dàng,
khi đôn hậu lúc quật cường ấy chính là giọng điệu
chủ của văn học viết về chiến tranh, cuộc chiến
tranh bắt đầu từ người dân, người lính, những nghĩa
sĩ vô danh trùng trùng điệp điệp đã làm nên đất
nước này và thề gìn giữ đất nước này.
Xin hãy đọc đoạn văn viết về thân phận con người
trong chiến tranh này và so sánh: Chùa Tôn Thạnh
năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng
trăng rằm; đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi
phận bạc trôi theo dòng nước đổ - Đau đớn bấy! Mẹ
già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong
lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng
xế dật dờ trước ngõ. Có thể coi đó là những câu
thơ hay câu văn viết về chiến tranh thực nhất và
hay nhất mọi thời đại. Nếu không phải là "nhà
thơ của nhân dân", nếu không sống đến tận cùng
tâm cảm niềm đau nỗi khổ của nhân dân thì không
bao giờ viết được một áng văn như Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc.
Đúng, cụ Đồ Chiểu chỉ là một nhà thơ mù, một "người
hát rong của nhân dân". Sinh thời cụ cũng không
có chức tước gì, cũng chẳng được (hoặc không muốn
nhận) đồng nhuận bút nào từ những tác phẩm của mình,
nhưng một số tác phẩm cụ để lại mà tiêu biểu nhất
là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã làm giàu cho nền
văn học Việt Nam ở vào thời điểm thử thách khắc
nghiệt nhất cho văn học và cho cả lịch sử đất nước.
Chớ động vào những ngôi đền thiêng do chính nhân
dân dựng lên! Cụ Đồ Chiểu "thảo dân" và
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là ngôi đền thật, ngôi
đền thiêng của văn học chúng ta. Hãy cẩn trọng khi
chạm đến nó.
Văn
tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Hỡi ôi!
Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi tợ
phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng
vang như mõ.
Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó.
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết
ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn
quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ,
mắt chưa từng ngó.
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông
tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên
vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét
cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo
dê, bán chó.
Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn
kình; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này
dốc ra tay bộ hổ.
Khá thương thay:
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính
diễn binh; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa
làm quân chiêu mộ.
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chín chục
trận binh thư, không chờ bày bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu
bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài
sắm dao tu, nón gõ.
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà
dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng
chém rớt đầu quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp
rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng
Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình
như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma
ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu
thiếc, tàu đồng súng nổ.
Ôi !
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm
vội bỏ.
Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa
bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm
hùm treo mộ.
Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn
chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh
đánh giặc cho cam tâm; vốn không giữ thành, giữ
lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.
Nhưng nghĩ rằng:
Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta;
bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.
Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô
bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính
mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm
hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng
vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di
rất khổ.
Ôi thôi thôi !
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng
son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang sa một khắc
đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya
leo lét trong lều; não nùng thay, vợ yếu chạy tìm
chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Ôi !
Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.
Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên
bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai,
ai cứu đặng một phường con đỏ.
Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh
chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng
ngay trải muôn đời ai cũng mộ.
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo
giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành
rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ
thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám
bởi một câu vương thổ.
Hỡi ôi thương thay !
Có linh xin hưởng.
( THANH NIEN)

|