VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nghĩ
về vấn nạn của môn văn trong nhà trường hiện nay
Nhân chuyện
em Nguyễn Phi Thanh phản ứng bài giảng Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc:
Nghĩ về vấn nạn của môn văn trong nhà trường hiện
nay
Sau khi Báo Người Lao động đăng bài Suy nghĩ về
một bài thi văn... lạc đề, giới thiệu bài tập làm
văn của em Nguyễn Phi Thanh, lớp 11A18 Trường THPT
Việt Đức, Hà Nội trong cuộc thi học sinh giỏi văn
không chuyên của TP. Hà Nội, sự việc bỗng trở thành
một hiện tượng không chỉ trong ngành giáo dục mà
còn là một hiện tượng xã hội. Chuyện này không chỉ
sôi sục trong nước mà còn tràn ra các trang web
hải ngoại bằng việc nối mạng, làm chấn động người
Việt Nam trên khắp thế giới.
Trước hết cần cảm ơn em Nguyễn Phi Thanh đã dám
dũng cảm viết bài tập làm văn trong kỳ thi học sinh
giỏi văn phản ứng lại đề thi và bài Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc, phê phán cách giảng dạy môn văn khô
cứng, một chiều, đơn điệu trong trường học hôm nay.
Thầy giáo ra đề thi cho cuộc thi học sinh giỏi
văn của TP. Hà Nội năm nay là người chưa nắm được
bản chất cái hay nơi tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Đề thi ra như sau:
“Em hãy giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc”. Xin lỗi, với đề thi này, thử hỏi
chính thầy ra đề thi liệu có làm bài được hay không?
Ngay cả với một nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ
văn đang được “xóa mù tiến sĩ tới huyện” như bây
giờ chắc cũng đành cắn bút ngồi chơi mà thôi. Đề
thi văn trên có thể là một đề thi cho luận văn tiến
sĩ mỹ học chứ sao lại biến thành đề thi học sinh
giỏi văn lớp 11? Học sinh trung học chưa hề được
học môn mỹ học, các em làm sao mà biết được CÁI
BI là một phạm trù của CÁI ĐẸP trong mỹ học. Nói
đến thể loại văn tế nói chung và nói đến bài văn
tế này của Nguyễn Đình Chiểu là phải nói đến CÁI
BI, CÁI HÙNG, tức chất BI TRÁNG của tác phẩm. Chất
bi tráng trong tác phẩm này là sự than khóc, tiếc
thương những người chân đất chống Pháp hi sinh đồng
thời qua nỗi thương khóc mà khơi lên tính chất anh
hùng của các nghĩa sĩ. Quan niệm CÁI BI trong mỹ
học chưa được dạy trong nhà trường nên nó không
đồng nghĩa với VẺ ĐẸP văn chương nơi trình độ ban
đầu tiếp nhận của học sinh. VẺ ĐẸP văn chương mà
một học sinh lớp 11, 12 được dạy trong nhà trường
là vẻ đẹp của tính lãng mạn trong tình yêu, trong
cảnh thiên nhiên, trong tình cảm bay bổng, êm dịu
giữa con người với Tổ quốc, cha mẹ, đồng bào, đất
nước, trong vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ...
Như vậy, người ra đề thi văn trên đã lạc đề, đã
không hiểu được chính tác phẩm văn tế trên, đúng
như Giáo sư (GS) Trần Thanh Đạm đã nói trên Báo
Người lao động ngày 13-5-2005: “Giảng dạy và học
tập bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc phần nào đã vượt
quá sức thầy trò nhà trường trung học phổ thông”.
Một bài văn tế hay thuộc hàng kiệt tác như trên
vượt quá sức hiểu của thầy trò trường THPT như ý
kiến của GS. Trần Thanh Đạm, một vị giáo sư từng
tham gia soạn sách giáo khoa văn trung học, sao
vẫn để trong chương trình học văn lớp 11? Ta cần
phải hoan hô học sinh Nguyễn Phi Thanh về bài làm
văn: chê bài văn tế chưa hay và chê đề bài văn trên
là kém, vì em đã nói thật! Vì sao vậy? Vì dạy như
thế, ra đề như thế thì học sinh làm sao mà thấy
VẺ ĐẸP của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cho được! Không
thấy hay, không hiểu được CÁI HAY mà vẫn bắt học
trò làm bài tập làm văn ra rả khen hay là hội chứng
DẠY và HỌC văn giả dối. Mà cái giả dối là cái phản
văn học nhất. Nên việc nói thật ra ý nghĩ của mình
là không thấy bài văn tế kia hay của em Thanh quả
tình cần đưa vào chuyên đề thảo luận lớn cấp nhà
nước: rằng dạy văn mà học trò càng học càng không
thấy môn văn HAY và HẤP DẪN, càng học văn càng sợ
môn văn như phần lớn học sinh hiện nay thì quả tình
chính nhà trường đã là nơi đầu tiên tạo mối nguy
cho tinh thần NHÂN VĂN của dân tộc, của đất nước
vậy! Xin nhắc lại câu thơ của Chế Lan Viên: “Nguyễn
Du viết Kiều đất nước hóa thành văn”.
Muốn biết một đất nước, một dân tộc hưng thịnh
hay suy vong, người ta nhìn vào học sinh nước đó
YÊU hay GHÉT môn văn! Thời thuộc Pháp, nước mất
mà học trò các cấp vẫn yêu nhất môn VIỆT VĂN, đấy
là dấu hiệu HƯNG THỊNH của dân tộc, dấu hiệu của
lòng dân yêu nước vẫn âm ỉ sục sôi, thế nào cũng
dấy lên làm cách mạng giành lại đất nước. Còn hiện
nay, nước ta độc lập rồi mà sao học trò lại sợ môn
văn đến thế? Một học sinh lớp 11 thuộc hàng giỏi
văn, được đi thi học sinh giỏi văn toàn Hà Nội như
em Nguyễn Phi Thanh lại nói thẳng ra trong bài thi
rằng em chẳng thấy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay
ho ra sao thì có phải là dấu hiệu của tinh thần
dân tộc đang suy vong trong lớp trẻ, hay là do môn
văn được dạy trong nhà trường đã giết chết chính
thẩm mỹ tiếp nhận văn học nơi học sinh? Dạy văn
chính là quá trình truyền vào tâm hồn con trẻ cái
thẩm mỹ văn chương, cái linh hồn ông cha; để rồi
đến lượt mình, chúng lại truyền sang các thế hệ
con cháu toàn bộ HỒN VÍA CHA ÔNG náu mình trong
văn chương. Nếu học sinh Việt Nam hiện nay không
thấy được CÁI HAY, CÁI ĐẸP trong văn học, trong
tâm hồn ông cha thì tác hại của nó sẽ vô cùng to
lớn, ảnh hưởng đến ngay cả sự tồn vong của dân tộc
và đất nước Việt Nam trong tương lai.
Cái lỗi này còn đổ cho ai được nữa, chính là cái
lỗi của NỀN GIÁO DỤC = BỘ GIÁO DỤC, lỗi của sách
giáo khoa dạy văn và các thế hệ thầy giáo dạy văn
đang đứng lớp. Nghĩa là vấn đề của MÔN VĂN trong
nhà trường hiện nay không ổn, đang là một vấn nạn;
thay vì hướng dẫn học sinh tiếp cận với cái hay,
cái đẹp của tác phẩm, lại đẩy các em ngày càng xa
với tâm hồn cha ông giấu trong trang sách; ví dụ
như bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thuộc hàng kiệt
tác văn chương dân tộc mà em Thanh - một học sinh
giỏi văn của Hà Nội không biết nó hay ở chỗ nào
thì thà ĐỪNG DẠY MÔN VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG còn hơn
là dạy kiểu giết chết sáng tạo như hội chứng dạy
theo VĂN MẪU hiện nay.
Từ năm 1994 đến nay, chúng tôi (T.M.H) đã viết
hàng trăm bài báo phê bình lối dạy văn sai lạc của
các sách giáo khoa (SGK) văn trung học. Những bài
phê bình SGK văn của chúng tôi đã in trên khắp báo
chí trong Nam ngoài Bắc, in trong 4 tập tiểu luận
phê bình của chúng tôi: Thơ phản thơ, Phê bình phản
phê bình, Hầu chuyện các giáo sư và Văn học - phê
bình - tranh luận... Năm 2000, Bộ Giáo dục - Đào
tạo đã cho sửa chữa lại SGK văn trung học, gọi là
sách “chỉnh lý và hợp nhất”, có sửa hàng trăm lỗi
theo sự phê bình của chúng tôi đã chỉ ra trước đó.
Các vị giáo sư soạn SGK đã tiếp thu phê bình, sửa
cái sai cũ, nhưng lại sinh ra hàng trăm cái sai
mới ngay trong SGK văn trung học đang được giảng
dạy hiện nay.
Ví dụ như bộ SGK dành cho miền Bắc do các giáo
sư Trường Đại học Sư phạm Hà Nội soạn, trong đó
có phần giảng dạy về tác giả - tác phẩm Nguyễn Đình
Chiểu do Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình
Chú soạn đã mắc những sai lầm hết sức hệ trọng,
làm như chính GS. Nguyễn Đình Chú chẳng có sự hiểu
biết sơ đẳng nào về Nguyễn Đình Chiểu cả, đến nỗi
ngay trong SGK chính dành cho học sinh lớp 11, GS.
Chú đã nhầm câu thơ hay nhất của Nguyễn Đình Chiểu:
“Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương” thành ra
thơ Xuân Diệu thì thử hỏi việc dạy về Nguyễn Đình
Chiểu của Bộ Giáo dục - Đào tạo trong nhà trường
còn hơn cả sự đùa cợt, quá sức vô trách nhiệm. Suốt
từ năm 1991 - 2000 cái nhầm chết người THƠ NGUYỄN
ĐÌNH CHIỂU NHẦM THÀNH THƠ XUÂN DIỆU trong chính
sách giáo khoa Văn 11 của Bộ Giáo dục - Đào tạo
dạy về chính Nguyễn Đình Chiểu vẫn cứ để nguyên,
vẫn không ai phát hiện ra thì thử hỏi nhà trường
có phải là nơi dạy môn văn chân chính hay không?
Xin dẫn chứng CÁI NHẦM CHẾT NGƯỜI của SGK trích
trang 30, sách giáo khoa Văn 11, NXB Giáo dục 1991,
do GS. Nguyễn Đình Chú soạn viết nguyên văn như
sau: Theo em, hai câu thơ “Quán rằng ghét việc tầm
phào/Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm” có những
gì đáng quý (cả về mặt văn chương). Chú ý, từ hai
câu thơ này, Xuân Diệu đã viết: “Bởi chưng hay ghét
cũng là hay thương”. Chính là nhờ chúng tôi (T.M.H)
phê bình nên các giáo sư và Bộ Giáo dục - Đào tạo
mới biết rằng câu thơ hay nhất của Nguyễn Đình Chiểu
kia không phải là câu thơ của Xuân Diệu đấy!
Bài giảng về Nguyễn Đình Chiểu trong SGK chỉnh
lý hợp nhất đang dạy hiện nay cũng lại do GS. Nguyễn
Đình Chú soạn nên nó còn vô vàn những cái sai không
sao hiểu nổi. Xin bạn đọc tìm đọc bài phê bình của
chúng tôi Bài về Nguyễn Đình Chiểu trong sách giáo
khoa chỉnh lý hợp nhất hay chuyện thật như đùa in
trong cuốn VĂN HỌC - PHÊ BÌNH - TRANH LUẬN của Trần
Mạnh Hảo, NXB Lao động - 2004. Giáo sư Nguyễn Đình
Chú gần như hiểu sai rất nhiều từ trong thơ văn
Nguyễn Đình Chiểu nơi SGK. Ví dụ từ “tà” trong câu
“Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”, giáo sư cũng
giảng sai “tà” cần hiểu như CHÍNH - TÀ, như sau:
“TÀ: xiên xẹo, không ngay thẳng”... “Viết văn là
đâm kẻ gian tà, đâm mấy cũng không xiên xẹo”. Sách
giáo khoa VĂN 11 đang dạy cho cả nước hiện nay còn
giảng sai hàng chục từ ngữ trong các bài văn thơ
Nguyễn Đình Chiểu.
Xin trích ra đây một đoạn giảng văn mẫu của SGK
Văn 11 (trích trong sách hướng dẫn giáo viên - Văn
học 11 - NXB Giáo dục, 6-2000) do GS. Nguyễn Đình
Chú viết, trích lại từ bài phê bình của chúng tôi
trong sách đã dẫn, như sau: “Trong việc giảng giải
văn bản nghệ thuật, trước hết cần tránh thái độ
dung tục hóa, thô thiển hóa, tán nhảm hóa tác phẩm
khi phân tích”. Rất tiếc trong phần giảng dạy về
Nguyễn Đình Chiểu, tác giả Nguyễn Đình Chú đã nhiều
lần mắc phải nhược điểm này. Ví dụ đoạn văn dưới
đây trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: “Đau đớn
bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét
trong lều. Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng,
cơn bóng xế dật dờ trước ngõ” được tác giả phân
tích, giảng giải dung tục, thô thiển trong “sách
Văn 11 - giáo viên” trang 28, một lối giảng văn
khó tin, cũng là chuyện thật mà như đùa, như sau:
“... Mẹ đã mất con thì dù trẻ mấy cũng thành già
hết (mẹ già). Con dù lớn đến mấy, khỏe đến mấy trong
tình thương của mẹ vẫn là trẻ cả (khóc trẻ). Vợ
đã mất chồng thì dù có khỏe bao nhiêu cũng là vợ
yếu. Cách tạo hình, tạo cảnh để gợi cảm tối đa:
mẹ khóc con không phải lúc nào mà lúc đêm khuya,
không phải ở nơi nào khác mà ở trong lều. Vợ tìm
chồng không phải lúc nào khác mà là lúc bóng xế...”.
Đoạn văn trên nên xếp vào loại văn hài thì đúng
hơn là văn của sách giáo khoa...
Thông qua bài viết của em Nguyễn Phi Thanh, học
sinh lớp 11, chúng tôi xin mạnh dạn có một số ý
kiến nêu trên. Đã đến lúc Bộ Giáo dục - Đào tạo
cần chủ động thay đổi cơ chế, tăng cường trách nhiệm
trong giảng dạy và đặc biệt trong khâu biên soạn
sách giáo khoa để lấy lại thẩm mỹ văn chương cho
học sinh. Nếu không, từ cách dạy VĂN PHÁ VĂN này
sẽ là một trong những nguy cơ cho cả dân tộc trong
thế hệ tương lai.
Trần Mạnh Hảo

|