VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Cảm
nghĩ về Nguyễn Đình Chiểu
Trong 66 năm của đời mình (1822 - 1888), Nguyễn
Đình Chiểu phải gánh chịu hai bất hạnh lớn lao ảnh
hưởng đến toàn bộ sáng tác của ông: sự mù lòa và
nỗi đau mất nước. Sau khi đỗ tú tài ở trường Gia
Định (1843), ông ra Huế hoûc, đợi khoa thi Kỷ Dậu
(1849), nhưng đúng năm đó, mẹ ông mất, ông bỏ thi
về hộ tang mẹ, rồi bị lâm bệnh, hỏng mắt. Có thể
nói toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đã được
ông viết trong cảnh mù lòa ngồi dạy hoûc. Nhân dân
thương mến goûi ông là Đồ Chiểu.
Thơ Nguyễn Đình Chiểu có sức phổ cập kỳ lạ, đặc
biệt ở Nam Bộ. Truyện thơ Lục Vân Tiên 2082 câu
lục bát được kể truyền miệng như một tác phẩm dân
gian. Sức phổ cập ấy trước đây mới thấy ở Truyện
Kiều của Nguyễn Du. Yếu tố gì tạo nên sức phổ cập
ấy? Chắc không hẳn vì cái đẹp của văn chương. Điểm
nổi bật ở thơ Nguyễn Đình Chiểu lại là tính nhân
dân. Thơ ông đáp ứng nhu cầu tình cảm, nhu cầu tư
tưởng của nhân dân và được diễn đạt bằng lời ăn
tiếng nói thường ngày của đời sống.
Nhân dân tế các nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng văn tế
của ông, nhân dân khóc Trương Định cùng với tiếng
khóc của thơ ông. Lòng ông cùng bà con chạy giặc
càn phiên chợ: Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây/
Một bàn cờ thế phút sa tay/ Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ
chạy/ Mất ổ bầy chim dáo dác bay... Mỗi vui buồn,
yêu thương, căm giận của ông đều gắn với đời dân.
Thơ ông là tình cảm của dân. Còn dân thì lấy thơ
ông để tâm sự với lòng mình. Truyện Lục Vân Tiên
là đạo lý của nhân dân về hiếu thảo, trung tín,
tiết nghĩa. Qua đấy nhân dân tham gia luận bàn về
những nguyên lý ứng xử bằng kinh nghiệm sống của
chính mình, của nông dân Nam Bộ lam làm và chống
ngoại xâm. Đằng sau mỗi nhân vật của Lục Vân Tiên
là một loại người đang hiện diện trong xã hội. Nguyễn
Đình Chiểu rất nhuyễn trong tình cảm nhân dân. Ông
xót xa kiểu xót xa của dân: Đau đớn bấy, mẹ già
ngồi khóc trẻ, ngoûn đèn khuya leo lét trong lều/
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế
dật dờ trước ngõ. Ông uất giận kiểu uất giận của
dân: Tấc đất ngoûn rau ơn chúa, tài bồi cho nước
nhà ta / Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha
nó. Trong cảm xúc, ít khi Nguyễn Đình Chiểu bắt
nguồn từ sách vở. Có thể ông dùng điển tích để chứng
minh cho lập luận nào đó, nhưng xúc động của ông
bao giờ cũng bắt nguồn từ việc ngoài đời, từ thời
sự cuộc sống. Ông không chế tạo ra thơ mà thơ ông
là thái độ tức thời của ông trước thời cuộc. Khi
ông viết Bờ cõi xưa đà chia đất khác? Nắng sương
nay há đội trời chung là lúc ông bỏ đất Gia Định
giặc chiếm về sống ở Bến Tre. Triết lý của Nguyễn
Đình Chiểu đầy tính thực tiễn, đó là triết lý của
hành động, để hành động. Hành động của ông là đánh
giặc, là nâng cao dân trí, là chống lại đói nghèo.
Ông bàn về đạo lý, về tôn giáo cũng chỉ nhằm mục
đích ấy. Nguyễn Đình Chiểu luôn luôn có cái nhìn
biện chứng, lấy thực tiễn làm troûng, lấy lợi ích
của nhân dân làm gốc. Ông chống bịp bợm của moûi
thứ tôn giáo, nhưng những người tốt thì ở tôn giáo
nào ông cũng ngợi ca. Ông ca ngợi phẩm cách của
ông quán, ông tiều, ông chài, ông thầy thuốc, chú
tiểu đồng, ông cũng ca ngợi nhà sư Hớn Minh, ông
đạo sĩ "ba nghìn thế giới ta là vô danh".
Ông luận tội boûn thầy pháp, thầy địa lý reo rắc
mê tín, ngu dân để trục lợi: Khiến cho đời chuộng
lăng nhăng. Ông lên án boûn trốn việc vào chùa làm
thầy: Vô chùa làm chước cạo đầu/ Trốn vua theo Phật
luống cầu rảnh tay. Ông luận tội boûn ăn hối lộ:
Trau dồi đao bút cho tươi/ Án sinh làm tử cất mươi
xàng xàng/ Dắt người vào tội thác oan... Trong Dương
Từ Hà Mậu, Nguyễn Đình Chiểu có sáng kiến du lịch
địa ngục để phơi bày tội lỗi của lũ người ác độc
trên trần gian. Nguyễn Đình Chiểu thường dùng thơ
lục bát. Ba truyện thơ dài ông đều dùng thể này.
Đây là thể của ca dao, từng được Nguyễn Du dùng
để viết Kiều. Thơ Nguyễn Đình Chiểu ít có sự trau
chuốt từng câu chữ, có lẽ do mắt kém, nhưng bù lại,
ông giữ được cái sống động của ngôn ngữ nông dân
Nam Bộ: trực tiếp, bộc tuệch mà rất có duyên.
Cho đến nay, qua bao nhiêu biến động xã hội, nông
dân Nam Bộ rất say Lục Vân Tiên, một phần cũng do
màu sắc địa phương rất đậm đà của ngôn ngữ. Ngay
với Đường luật, Nguyễn Đình Chiểu cũng bình dân
hóa đi bằng khẩu ngữ Lao xao rừng cụm nghe chim
chíp/ Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi. Nguyễn Đình
Chiểu đã nhiều phen bày mưu tính kế với Trương Định
đánh Pháp.
Năm 1883, Pông-sông, tỉnh trưởng Bến Tre hứa phụ
cấp và trả lại đất đai của riêng
ông, ông khước từ tất cả: Đất vua không trả thì
đất của tôi có xá gì. Cuộc đời ông,
tác phẩm của ông là tấm gương sáng cho moûi người
Việt Nam yêu nước, đặc biệt cho những người cầm
bút:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
M. T. H

|