| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

Cẩm
Thành, ai đã đặt tên ? (03/04/2006)
Cái tên "Cẩm Thành" do ai đặt? Có người
nghĩ đến Nguyễn Cư Trinh… Nhưng theo "Đại Nam
nhất thống chí" quyển 8, đến Gia Long năm thứ
6, lỵ sở Quảng Ngãi mới dời tới nơi cố định… Nguyễn
Cư Trinh là Tuần vũ Quảng Ngãi năm 1750, tức là
trước khi có thành Quảng Ngãi hơn nửa thế kỷ. Cho
nên không thể nói ông là tác giả địa danh "Cẩm
Thành". Để góp phần vào việc tìm hiểu địa danh
văn học "Cẩm Thành", tôi xin thử nêu ra
một vài tư liệu sau đây để bạn đọc hiểu thêm về
địa danh này.
Có người cho rằng, Nguyễn Cư Trinh là người đưa
ra hai chữ "Cẩm Thành" để ca ngợi cảnh
đẹp tỉnh thành Quảng Ngãi lúc bấy giờ. Có lẽ người
ta căn cứ vào 12 bài thơ nôm vịnh 12 cảnh đẹp của
Quảng Ngãi trong quyển "Quảng Nghĩa thập nhị
cảnh" (Sách Hán Nôm chép tay) mà trong đó có
hai bài "Thiên Ấn niêm hà" và "Thạch
Bích tà dương" có nói đến hai chữ "Cẩm
Thành" chăng? Xin nêu ra đây làm dẫn chứng:
1. Thiên Ấn niêm hà
Phong cảnh ta đây thật rất xinh/ Niêm hà có ấn
tượng của trời xanh
Xanh kia dấu tích còn vuông vức/ Nhận lại non sông
rõ dáng hình
Cách thức còn in đồ cổ tự/ Cỏ cây nào phụ tiếng
chung linh
Châu sa để dưới chân chờ mãi/ Trấn chỉ sau lưng
phía Cẩm Thành.
2. Thạch Bích tà dương
Non núi dăng dăng đổi cả trời/ Một hòn Thạch Bích
tiếng muôn đời
Đá xây đứng sững y như vách/ Bóng xế soi về khắp
mọi nơi
Con mọi khôn dòm vô đất nước/ Dân ta còn khỏi nhiễm
tanh hôi
Cẩm Thành được thế thêm bền bỉ/ Cây cỏ ngàn thu
cũng dựa hơi.
Gần đây có người viết lại thành sách hẳn hoi: "Rồi
trong khoảng 3 năm lãnh đạo công cuộc bảo vệ kinh
dinh vùng núi đồi ở Quảng Ngãi, Nguyễn Cư Trinh
còn sáng tác 12 bài thơ nôm vịnh những kỳ quan của
xứ Quảng Ngãi. Đó là những bài thơ miêu tả cảnh
thiên nhiên kỳ diệu, cảnh sinh hoạt tấp nập và trù
phú nơi ông đang trấn nhậm(1).
Như chúng ta điều biết, trong khi làm Tuần vũ
Quảng Ngãi, nhân cảnh "sơn kỳ thủy tú"
ở nơi đây, Nguyễn Cư Trinh đã không ngần ngại gắn
cho mười cảnh đẹp, mỗi cảnh một mỹ từ như mười bức
tranh tuyệt tác mang đậm chất thơ. Đó là: Thiên
Ấn niêm hà./ Long Đầu hí thủy./ Thiên Bút phê vân./
La Hà thạch trận./ Thạch Bích tà dương./ Hà Nhai
vãn độ./ An Hải sa bàn./ Cổ Lũy cô thôn./ Liên Trì
dục nguyệt./ Vu Sơn lộc trường
Còn hai cảnh "Vân Phong trúc vũ" và "Thạch
Cơ điếu tẩu" tương truyền là do người sau có
cảm hứng thêm vào, chứ đâu phải của Nguyễn Cư Trinh.
Nếu như Nguyễn Cư Trinh mới chỉ phát hiện ra mười
cảnh đẹp thì tại sao ông ta lại đã có 12 bài thơ
nôm vịnh cảnh Quảng Ngãi? Chúng tôi cho rằng sự
khẳng định ấy có khi còn vội vã và 12 bài thơ nôm
ấy cũng chưa chắc là của Nguyễn Cư Trinh (tôi sẽ
nói ở sau).
Cũng cần phải nói thêm rằng, trước nay chúng ta
chỉ thường nghe "Thạch Cơ điếu tẩu", chứ
chưa nghe ai nói "Sa Kỳ điếu tẩu" bao
giờ. Đầu đề bài thơ nôm trong "Quảng Nghĩa
thập nhị cảnh" lại viết "Sa Kỳ điếu tẩu".
Mà "Sa Kỳ điếu tẩu" (ông già câu cá ở
cửa Sa Kỳ) thì có gì đẹp, mặc dầu gành đá đó là
một thắng cảnh biểu tượng cho cửa Sa Kỳ! Theo "Quảng
Ngãi tỉnh chí" thì "Liên Trì dục nguyệt"
là chỉ ao sen làng Liên Chiểu thuộc huyện Đức Phổ.
Trong "Quảng Nghĩa thập nhị cảnh" thì,
bài thơ nôm "Liên Trì dục nguyệt" lại
được viết:
Bóng thỏ xưa nay rọi sáng lòa/ Ao sen khéo rửa
mặt Hằng Nga
Rong xanh lớp cũ bầy ngư dước/ Nắng bạc còn dung
chỗ nguyệt ma
Phẩm vật hữu tình nơi cẩm địa/ Thanh Liên chuông
giục xã Ba La
Ngàn thu để dấu trong non nước/ Đẹp mắt anh hùng
lúc lại qua
Và cũng được chú thích như sau: "Bài này vịnh
cảnh ao sen xã Ba La (Tư Nghĩa), ao không lớn chỉ
chừng vài mẫu nhưng hình thể rất đẹp, đẹp nhất là
những đêm trăng gặp mùa sen nở"(2). Tôi chưa
hề được đi thực địa, nên chưa biết hai cảnh ấy đẹp
đến mức nào và ngày nay có còn không? công bình
mà xét thì "Liên Trì" nào mà không "dục
nguyệt", nhưng đã một thắng cảnh tiêu biểu
thì có một chứ không thể có hai được: Chỉ có chừng
ấy thôi mà đã xảy ra chuyện "ông nói gà, bà
cãi vịt" rồi, khiến cho người đọc chẳng biết
đâu mà lần.
Chúng tôi nghĩ rằng, nếu "Quảng Nghĩa thập
nhị cảnh" là của tác giả Nguyễn Cư Trinh thì
địa danh "Cẩm Thành" có khi còn xuất hiện
sớm hơn để cho ông ta đưa vào thơ mình cũng nên.
Nhưng nếu như "Cẩm Thành" mới xuất hiện
từ thế kỷ 19, sau khi tỉnh thành Quảng Ngãi được
dời về làng Chính Mông, là chỗ hiện nay, thì có
khi "Quảng Nghĩa thập nhị cảnh" là một
"ngụy thư" mà người ta đã gán cho Nguyễn
Cư Trinh. Điều đó trong thực tế chưa phải là hiếm:
về vấn đề này, chúng ta cũng có thể đặt ra một câu
hỏi để cùng nhau suy nghĩ. Cùng là thơ vịnh cảnh
theo luật Đường cả, mà những bài thơ trong "Hà
Tiên thập vịnh" được viết bằng chữ Hán, còn
"Quảng Nghĩa thập nhị cảnh" thì lại được
viết bằng chữ Nôm? Nói như thế không có nghĩa là
chúng ta vô tình hạ thấp văn quốc âm, mà là để làm
sáng tỏ hai chữ "Cẩm Thành" xuất hiện
trong "Quảng Nghĩa thập nhị cảnh" có thật
là của Nguyễn Cư Trinh hay không.
Thú thật, nếu không có tạp chí "Cẩm Thành"
số ra mắt bạn đọc hơn 10 năm nay thì Cẩm Thành hay
Qua Thành, Hóa Thành hay Bàn Thành cho đến cả Long
Thành, Loa Thành v.v… với tôi cũng đều là những
địa danh mà thôi! Xin có lời cảm ơn Ban biên tập
" tạp chí Cẩm Thành", và Ban biên tập
báo Quảng Ngãi đã gợi ý cho tôi tu chỉnh bài này.
Các đồng chí đã buộc tôi lục lại đống sách cũ hầu
như đã bị lãng quên trong nhiều năm để tìm ra một
vài chỗ có liên quan đến Cẩm Thành mà mình đã có
lần được đọc.
Hồng Vịnh, (sau vì kỵ húy nên đổi tên là Hồng
Điệp) con trai của Miêu Thanh, cháu nội Minh Mạng,
một nhà thơ thuộc vào loại có cỡ trong Hoàng tộc,
với bút danh Vĩnh Trọng, là tác giả của hai tập
thơ "Đào Trang tập; in năm Canh Dần (`1890)
và "Đào Trang hậu tập". Trong một bài
thơ chữ Hán nhan đề: "Tống Trọng Hồn huynh
(Hồng Chất) chi Quảng Ngãi án sát sứ" (Tiễn
anh là Trọng Hồn (tức Hồng Chất) đi nhận chức án
sát tỉnh Quảng Nghĩa), có hai câu kết như sau:
"Cẩm Thành ninh thiếp bình phản hậu,/ Tảo
báo từ huyên hỉ khí hòa."
Tạm dịch:
"Khi Thành Gấm đó đây yên ổn,/ Sớm báo về
để mẹ được mừng"(3)
Sau 30 năm làm quan, kể từ năm Tự Đức thứ 21 (1871)
đến năm Thành Thái thứ 12 (1901), Thái tử thiếu
phó Trương Quang Đản, Đông các đại học sĩ, sung
cơ mật viện đại thần, kiêm Tổng tài quốc sử quán,
dâng sớ xin về hưu, được vua chuẩn y. Để tiễn một
vị Phụ chính đại thần về trí sĩ, theo thông lệ trong
triều đình hầu hết các vương công, đình thần đều
có thơ văn đầu tặng. Tất cả các bài sớ tấu, thượng
dụ, biếu tạ ơn, thơ lưu biệt đình thần của ông cũng
như các trướng văn, thơ tặng của đồng liêu được
tập hợp thành tập "Thủ chuyết lục"(4),
có lời đề tựa rất trân trọng của Cao Xuân Dục, Hiệp
biện đại học sĩ, kiêm phó Tổng tài Quốc sử quán
lúc bấy giờ. Trong hàng chục bức trướng và hàng
trăm bài thơ, có nhiều bài nói đến địa danh văn
học "Cẩm Thành"; xin nêu một vài dẫn chứng
để làm ví dụ:
Trong bài văn tiễn biệt của Tôn Thất Hồng Hàn
có đoạn:
"Thượng thư Bắc khuyết, thiết tịch Đông môn.
Hương phố thiên chu, nguyện tầm Hoàng Thạch; Cẩm
Thành tiểu tứ, bất phụ Bích Sơn". Nghĩa là:
"Thư dâng cửa Bắc, tiệc mở cửa Đông. Thuyền
con Hương Phố lững lờ, mong tìm Hoàng Thạch; xe
nhỏ Cẩm Thành chậm rãi, không phụ Bích Sơn".
Cảnh nhộn nhịp và bầu không khí vui tươi ở nơi
Trương Quang Đản sắp về nghỉ hưu được Tôn Thất Diễm
vẽ bên trong hai câu của bài thơ họa nguyên vận
như sau:
"Đông Các cung mai thi tịch tịch/ Cẩm Thành
xuân sắc nhật hưu hưu"
Nghĩa là:
"Thơ sôi động dinh quan Đông Các/ Ngày đẹp
tươi xuân sắc Cẩm Thành".
Trong bức trướng của đồng liêu quê ở Quảng Ngãi
đầu tặng có đoạn được viết: "Án lãnh thử hồi,
thanh bạch chi môn đình do tại; Cẩm Thành thị xứ,
điếu du chi cố cựu tương yêu". Nghĩa là: "núi
Ấn về đây, cửa nhà trắng trong còn đó; Cẩm Thành
nơi ấy, bạn bè lui tới cùng mời".
Để tỏ lòng tôn kính một vị thế thần thạc vọng
cao niên, trong hai câu kết của một bài thơ họa
nguyên vận, tổng đốc Lê Trinh viết:
"Cẩm Thành hồi thủ Nam Sơn cận,/ Thời hữu
gia ngôn hiến niệm lưu".
Xin tạm dịch:
"Về lại Cẩm Thành tăng tuổi thọ,/ Mũ đai luôn
xứng với lời khen"
Tư nghiệp Quốc tử giám Quỳ Văn Trung lại viết
hai câu trong bài thơ của mình như sau:
"Cẩm quận giả đường gia hữu thặng,/ Kim Giang
kỳ hội quốc đồng hưu".
Tạm dịch:
"Cả nước mừng Kim Giang hội ngộ,/ Góc nhà
vườn Cẩm Thành treo xe".
Trên đây là những dẫn chứng rất sơ lược về bức
tranh "Cẩm Thành". Tiếc rằng không có
thì giờ nên tôi chỉ điểm qua, mà chưa làm được điều
mà mình muốn làm là nói lên cái hay, cái đẹp của:
"Cẩm Thành sơn kỳ, Mỹ Khê thủy tú", với
những con người tiêu biểu cho "Đông Sơn thịnh
danh, Khúc Giang phong độ". "Thành Gấm"
đâu phải chỉ dành cho những người con quê hương
Quảng Ngãi ngắm nhìn. Ông cha ta đã dày công tô
điểm cho nó ngày càng đẹp thêm, để cho văn nhân,
thi sĩ cả nước nhìn về và ước ao được một lần chiêm
ngưỡng. Chúng ta hãy bảo vệ nó, đừng để nó bị phai
mờ, hoen ố bởi thời gian và thiên nhiên khắc nghiệt.
Đ.T
Thạch Bích tà dương - một trong những cảnh
đẹp ở Quảng Ngãi.

|