|
Nam Cao
Trăng Sáng
Ðiền có bốn cái ghế mây. Tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ
có bốn cái ghế mây này là có giá. Không phải Ðiền mua.
Tính Ðiền rất ghét mua. Từ ngày ra ở riêng đến giờ,
Ðiền mới mua có một lần. ấy là một cái giường bằng gỗ
bưởi của một người cô nghèo khó. Người cô cần tiền để
lấy thuốc ngã nước cho chồng. Còn Ðiền thấy cũng cần
một cái giường. Tháng ba vừa rồi vợ Ðiền mới sinh một
con trai. Nghĩa là bây giờ Ðiền có những hai con. Cả
nhà đúng bốn người, bốn người chất cả vào một cái giường!
Giá mùa rét thì cũng được, chen chúc nhau một tý càng
ấm áp. Nhưng mùa nực, còn gì là vệ sinh?
Năm chừng mười họa, Ðiền cũng còn nghĩ rằng: nên theo
phép vệ sinh. Bởi Ðiền là người có học hẳn hoi. Ðiền
đã có lần làm một ông giáo trường tư trong ngót ba năm,
mà Ðiền có bốn cái ghế mây vừa mới nói. Năm ngoái đây,
cái trường vẫn thuê Ðiền dạy lớp nhất, lấy hai chục
bạc lương một tháng, đột nhiên phải dẹp. Dẹp để nhường
lại mấy căn nhà cho người ta dùng vào việc khác, cần
cho lúc này hơn. Ông hiệu trưởng còn chịu của Ðiền nửa
tháng lương. Tiền học tháng cuối cùng thì chưa thu được.
Chỗ anh em biết tính thế nào cho tiện? Giá ông xoay
được, thì ông trả phắt Ðiền chục bạc, cho đẹp mặt cả
đôi bên. Nhưng ông không xoay được. Mà chẳng lẽ Ðiền
phải thiệt? Thôi thì... thôi thì... - biết nói ra sao
bây giờ? - Ông cười một cách ngượng nghịu bảo Ðiền:
- Thôi! Thế này này, ông Ðiền ạ! Giá ông không ngại,
thì ông đem bộ ghế mây về quê mà dùng. Lão hàng phở
nó trả có bảy hào một cái. Hôm nọ, chỉ căng mây lại
cho hai cái cũng đã mất một đồng. Bán cho lão thì phí
đi. Mà ở nhà ông chưa có ghế...
Lúc ấy, Ðiền phải cố giữ, cái mặt mới không xị xuống.
Thật ra thì Ðiền chán lắm. Ðiền chẳng muốn lấy bốn cái
ghế tý nào. Chao ôi! Cũng mang tiếng là ghế mây!...
Cái thì xộc xệch, cái thì bốn chân rúm lại, và chẳng
cái nào là nước sơn không róc cả ra như là da thằng
hủi. Trông đủ thảm. Ðiền phải bỏ ra bảy hào chịu lấy
một cái vé tàu hỏa để tải mình về quê đã đủ xót ruột
lắm rồi, còn phải nợ mà bỏ tiền ra tải bốn cái ghế già
nua ấy nữa. Nhưng từ chối thì không tiện. Ra sự rằng
mình dỗi. Có lẽ tủi lòng ông hiệu trưởng. ấy là một
điều mà Ðiền chẳng muốn, bởi ông với Ðiền là chỗ bạn
nghèo với nhau. Họ bị tủi vì người ngoài đã lắm. Chẳng
nên để người nọ bị tủi vì người kia... Ðiền đang nghĩ
một cớ gì để thoái thác. Thì ông lại bảo:
- Ông nên đi tàu thủy. Có đắt mới đến năm hào. Năm
hào với năm xu màn là năm hào rưỡi. Vậy cho rằng có
phải trả tiền cước bốn cái ghế, thì cũng chỉ bằng tiền
tàu hỏa thôi. Mà rộng rãi. Ông để hai cái ghế ra, một
cái để ngồi, một cái gác chân, ung dung như ngồi nhà
ông vậy. Tội gì đi tàu hỏa mà chen chúc.
Kể thì cũng là một ý hay. Như thế tránh được cả cái
nạn huých khuỷu tay vào ngực nhau để tranh một cái vé
đi xe lửa. Tránh được cả cái nạn ngồi lên đùi người
khác và để người khác ngồi lên đùi mình. Và ngửi mùi
mồ hôi với mùi phân lợn của những toa tàu hạng tư ...
Nhưng...Ông hiệu trưởng không đợi Ðiền phải nói ra.
Ông đã đoán mà hiểu trước. Nên ông bảo:
- Còn cái sự chuyển những cái ghế thì không ngại. Tôi
sẽ bảo thằng nhỏ buộc hai cái làm một, dùng cái đòn
gánh nước, gánh ra tàu cho ông. Còn từ bến màn về nhà
ông, sẽ thuê một thằng bé nào độ năm xu, hay một hào.
Ðiền nhẩm tính. Như vậy, tất cả có già giặn lắm mới
tốn chừng đồng bạc. Nghĩa là tiêu quá đằng kia hai hào.
Hai hào bốn cái ghế mây! Cho có xộc xệch nữa cũng còn
rẻ chán... Ðiền ưng thuận. Thế là bốn cái ghế mây của
ông hiệu trưởng mà lão hàng phở trả có bảy hào một chiếc,
được đi tàu thủy về quê của Ðiền.
Và thế là Ðiền có bốn cái ghế mây. Ðiền không biết
giá. Nhưng Ðiền đoán chừng mua mới thì cũng đắt. Bây
giờ, mỗi chiếc có khi tới ba bốn đồng. Ba bốn đồng một
chiếc! Thế nghĩa là cả bộ đáng giá ngót hai chục bạc.
Xóm Ðiền cũng chả nhà nào có những đồ đạc đắt tiền như
thế. Vợ Ðiền quý lắm. Thị rất xót xa khi thấy những
ông khách cục súc, sau khi đã nắc nỏm khen bộ ghế vừa
đẹp vừa thanh, liền đặt cái mông đít to bành bạnh như
cái vại lên mặt ghế, khiến mấy sợi mây lún xuống, rồi
co cả hai chân bẩn thỉu lên, ngả cái lưng to như lưng
trâu tựa vào vành ghế, khiến cái vành ghế phai oải hẳn
về đằng sau. Như thế phỏng còn gì là ghế? Có mà ghế
sắt cũng phải hỏng, đừng nói gì ghế mây!... Một hôm
thị bàn với chồng rằng:
- Này, cậu ạ! Người nhà quê họ vô ý lắm. Mình có của
thì mình phải giữ gìn. Hay là ta đem cất những cái ghế
mây đi, kẻo để ai vào cũng leo lên ngồi chồm chỗm, mấy
chốc mà vứt đi?
Thoạt nghe, Ðiền phải bật cười. Ðiền nghĩ đến tính
bủn xỉn của đàn bà. Họ may áo để cất đi. Và mua ghế
để chẳng cho ai ngồi sốt. Ðiền đã toan phản đối. Nhưng
nghĩ ngợi một giây, Ðiền lại bằng lòng. Vợ Ðiền thế
nào chả hơn Ðiền trong cái môn lo liệu việc nhà? Vả
bây giờ Ðiền chỉ là một kẻ ăn nhờ. Vợ Ðiền phải lo cho
chồng từ năm xu húi cái đầu. Thị đã phải gánh lấy tất
cả cái ách gia đình, thì cũng nên để cho thị có quyền
trong gia đình một tý. Kẻo thị lại bảo: dẫu có hỏng
cái gì, Ðiền cũng không phải bỏ tiền thay, nên điền
không xót ruột... Từ hôm ấy, bốn cái ghế mây được treo
lên bốn cái mỏ móc buộc ngoài đầu chái. Chỉ những khi
có khách khứa nào sang trọng, Ðiền mới ra bê vào.
Nhưng những buổi tối có trăng thì dù chẳng có ai, Ðiền
cũng khuân đủ bốn cái ghế ra sân. Rồi Ðiền gọi vợ, con
ra. Vợ bế con nhỏ ngồi một chiếc. Con lớn một chiếc.
Còn một chiếc Ðiền dùng mà gác chân. Họ ngồi ghế, đợi
trăng lên. Nếu con nhỏ không khóc, con lớn không bắt
gãi thì hạnh phúc thật hoàn toàn. Gió thổi tan những
lo lắng, chua cay chất ở lòng. ánh trăng êm xoa nước
mát lên da. Da mềm dịu. Những nét cau có chìm đi tất
cả. Trán vợ Ðiền hóa phẳng phiu, mặt thị tươi hẳn. Thị
trẻ ra mười tuổi. Những phút thảnh thơi ấy, sao mà thị
hiền dịu thế! Ðáng yêu đến thế! Ðiền không nhận ra một
chút gì ở thị nó có dính dáng đến người đàn bà cau có
vẫn ngoác mồm ra mắng con, mắng con ở, mắng mèo, mắng
chó khiến nhà cứ om lên suốt ngày. Thị cúi xuống đứa
con nhỏ, đồng thời ngước đôi mắt âu yếm nhìn con lớn.
Ðứa con lớn cười với thị. Thị cười với nó. Thị cười
với chồng. Ðiền nhìn vợ, nhìn con, lòng sung sướng.
Ðiền mỉm cười với giăng.
Ðiền rất yêu giăng. Cái ấy cũng là thường, bởi óc Ðiền
đẫm văn thơ. Có đọc văn thơ, mới biết giăng là một cái
đẹp và quý lắm. Giăng là cái liềm vàng giữa đống sao.
Giăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời. Giăng
tỏa mộng xuống trần gian. Giăng tuôn suối mát để những
hồn khát khao ngụp lặn. Trăng, ơi trăng! Cái vú mộng
tròn đầy mà thi sĩ của muôn đời mon man! Ðiền không
ân hận chút nào. Hai thân Ðiền bán cả ruộng, vườn đi
để cho Ðiền đi học chẳng phí đâu. Ðã đành các người
chỉ có cái mục đích con làm nên ông phán, ông tham để
ấm thân; các người hoàn toàn thất vọng khi thấy con
leo cau đến tận buồng mà lại hỏng ăn. Ðiền tạng yếu
quá, không được nhận vào công sở; và các người đã vội
cho là tiền con đi học thật là tiền vất xuống sông.
Nhưng Ðiền tin rằng: cái học thức của Ðiền tuy chẳng
giúp Ðiền kiếm nổi miếng ăn, nhưng cũng có ích cho Ðiền
nhiều lắm. Chỉ nói một cái nhờ nó mà Ðiền đọc nổi văn
thơ, và nhờ văn thơ mà hiểu được cái đẹp của gió, của
giăng. Và Ðiền rất phàn nàn cho những tâm hồn cằn cỗi
như tâm hồn của vợ Ðiền. Ðối với thị, giăng chỉ là ...
đỡ tốn hai xu dầu! Dầu lạc lúc này mỗi chai lít hai
đồng. Mới biết các nước đánh nhau cũng có thiệt cho
con nhà nghèo thật. Mỗi tối, thị đốt đèn một lát. Nhưng
một lát cũng đủ tốn hai xu rồi. Những tối có trăng đỡ
tốn hai xu. Hai xu chẳng là bao nhưng mười cái hai xu
đã được hai hào; mười cái hai hào đã được hai đồng bạc;
và mười cái hai đồng bạc... chao ơi! Nếu cứ tính toán
mãi thế, thì biết đến bao giờ cũng được? Sao thị lại
cứ phải luôn luôn tính toán? Những kẻ chỉ suốt đời tính
toán là những kẻ tự làm khổ thân suốt đời... Ðiền vẫn
trách vợ Ðiền như thế đấy. Ðiền có ngờ đâu chính Ðiền
cũng một tật. Và ngay lúc này đây, lúc ngồi ngắm trăng
để tạm quên những cái lo nhỏ nhen của kiếp người, Ðiền
cũng còn tính vẩn vơ. Ðiền thấy giời rộng quá và sao
nhiều quá. Ðiền nhớ đến câu thơ của một thi sĩ Tây phương
ví khoảng trời sao như một cánh đồng. Nếu trời là một
cánh đồng thì cánh đồng ấy thật bao la. Và Ðiền chỉ
cần được một mảnh bằng cái mảng ở sau nóc nhà Ðiền kia,
cũng đủ cho Ðiền không còn phải lo sinh kế nữa. Ðiền
sẽ trao cho vợ Ðiền cai quản. Còn Ðiền lúc ấy có thể
rảnh rang theo đuổi cái mộng của Ðiền...
Ðó là một cái mộng văn chương. Ðã có một thời, Ðiền
chăm chỉ đọc sách, viết văn. Ðiền nao nức muốn trở nên
một văn sĩ. Ðiền sẽ nguyện cam chịu tất cả những thiếu
thốn, đọa đày mà văn nhân nước mình phải chịu. Ðiền
vẫn thường bảo với một người bạn cùng chí hướng: Ðiền
sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm mỗi tháng hàng trăm
bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn...
Nhưng viết luôn mấy năm trời, Ðiền chẳng kiếm được đồng
nào. Trong khi ấy Ðiền vẫn phải ăn. Nhà Ðiền kiết xác
xơ. Các em Ðiền không được đi học. Mà cũng không được
ăn no nữa. Sự túng thiếu đưa đến bao nhiêu là lục đục.
Bố Ðiền bỏ nhà đi. Mẹ Ðiền gồng thuê, gánh mướn kiếm
tiền nuôi hai đứa con thơ. Những đứa con lớn, đứa đi
ở bế em, đứa đi ở chăn trâu, đứa đi xin những cái hoa
chuối, những nắm khoai đội đi chợ xa bán để kiếm vài
xu ăn cho khỏi chết. Ðiền thấy mình ích kỷ. Sự nghiệp
mà làm gì nữa? Bổn phận Ðiền phải nghĩ đến gia đình.
Ðiền phải gây dựng lại gia đình! Ðiền phải tạm quên
cái mộng văn chương để kiếm tiền. Ðiền đi dạy học. Chao
ôi! Dạy học lấy mỗi tháng có hai mươi đồng. Bà mẹ Ðiền
tưởng thế đã là phong lưu lắm. Bà bắt Ðiền cưới vợ.
Vợ Ðiền là một con nhà khá giả, lấy Ðiền vì Ðiền là
người có học. Rồi Ðiền có con. Cái gia đình lớn của
Ðiền đã chẳng được nhờ Ðiền, bây giờ lại thêm một gia
đình con con nữa. Không một phút nào Ðiền không phải
nghĩ đến tiền. óc Ðiền đầy những lo lắng nhỏ nhen. Một
đôi khi chợt nhớ lại cái mộng xưa, Ðiền lại thở dài.
Ðiền tự an ủi: Có tiền rồi sẽ viết. Nhưng Ðiền biết:
chẳng bao giờ Ðiền viết nữa, bởi chắc chắn là suốt đời
Ðiền cũng không có tiền...
Tối nay lại có giăng. Nhưng Ðiền chỉ đem có hai cái
ghế ra sân. Vợ Ðiền hôm nay luật quật suốt cả ngày.
Con ở xin đi ăn giỗ một hôm. Thị lại phải dệt vải lấy
tấm vải để mai đi bán về đưa lãi nợ. Dệt xong thị vội
vàng đi đòi món tiền. Về đến nhà, con bé khóc hết hơi.
Con lớn thì lem luốc, mũi dãi nguếch ngoác bôi đầy mặt.
Nhà cửa còn bề bộn. Con ở vẫn chưa về. Mình thị biết
xoay sở làm sao kịp? Thị thấy lòng sôi lên sùngõ sục,
thị giậm chân bành bạch kêu trời. Thị đánh con lớn,
chửi con nhỏ, quăng cái chổi, đá cái thúng, và càu nhàu
trống không. Rồi thị bế con đi nằm sớm. Ðứa con lớn
thút thít khóc chán cũng lăn ra ngủ.õ Mình Ðiền ngồi
ngoài sân. Ðiền cố thản nhiên. Nhưng da mặt cứ rồm rộm;
nó có vẻ dày lên và tê tê. Ðiền thấy gần như tủi cực.
Vợ Ðiền có lẽ rất yêu Ðiền. Nhưng thị chỉ biết rằng
người ta cần ăn cơm, mặc áo và uống thuốc khi đau ốm.
Thị chỉ cố lo cho chồng ba thức ấy. Thị nhịn ăn để chồng
ăn.õ Thị nhịn mặc cho chồng mặc. Thị bán đến cả yếm,
áo để lo thuốc thang cho chồng. Thị tưởng thế là chồng
sung sướng lắm. Nhưng không phải, Ðiền đã quen với những
tình cảm nồng nàn và những lời nói vuốt ve. Nét mặt
cau có, ngân ngữ cục cằn, và nhất là cái lối yêu quá
đơn sơ - có thể nói thô sơ - của vợ Ðiền làm cho Ðiền
khổ. Ðiền thấy cái đời tình cảm của Ðiền thiếu thốn.
Ðiền không được yêu ai. Còn sống trong cái gia đình
này mãi, giữa những lo lắng nhỏ nhen này mãi, lòng Ðiền
sẽ cạn. Cạn luôn cả nguồn thơ quý báu, mà Ðiền vẫn ao
ước có ngày lại khơi... Trên kia, giăng nhởn nhơ như
một cô gái non vừa mới có nhân tình. Gió nhẹ nhàng đặt
trên lá những bước chân vũ nữ. Những tàu lá chuối láng
trăng đưa đẩy... Ðiền nghĩ đến những người đàn bà nhàn
hạ, vừa tắm bằng một thứ nước thơm tho, mặc áo lụa xanh,
ngả tấm thân mềm trên chiếc ghế xích đu và đưa đẩy đôi
chân thưỡn thẹo...
Tại sao Ðiền lại vụt nghĩ đến những hình ảnh lả lơi
ấy? Chính Ðiền cũng không thể hiểu. Có lẽ Ðiền ước ao
một cái mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn
tay ve vuốt. Có những người đàn bà đẹp, yêu rất khéo,
bởi họ được ăn ngon, mặc đẹp, chăm sóc thịt da và chẳng
làm gì cả. Phải rồi, vợ Ðiền chỉ là một kẻ tục tằn.
Thị chẳng đáng cho Ðiền yêu quý. Cũng chẳng đáng cho
Ðiền thương hại. Ðiền phải đi. Ði để giữ cho lòng mình
tươi lâu. Ðiền sẽ làm bất cứ cái gì đó để có ăn. Rồi
Ðiền bình tĩnh viết. Có như vậy Ðiền viết mới ra hồn
được. Lời phải đẹp. ý phải thanh cao. Ngọn bút của Ðiền
mới khơi nguồn cho những tình cảm đầy thơ mộng. Nghệ
thuật chính là cái ánh trăng xanh huyền ảo nó làm đẹp
đến cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa...
Ðiền lại thấy hiện ra cái bóng dáng yêu kiều của những
người đàn bà nhàn nhã ngả mình trên những cái ghế xích-đu
nhún nhảy... Những người ấy sẽ đọc văn Ðiền. Lòng họ
đẹp thêm lên. Họ sẽ yêu Ðiền. Họ sẽ gửi cho Ðiền những
bức thư xinh xinh ướp nước hoa. Tưởng tượng của Ðiền
tỏa rộng ra như một ánh trăng. Ðiền nghĩ đến những cuộc
tình duyên lãng mạn với những người đàn bà đẹp chỉ biết
trang điểm và yêu đương. Những tiếng gắt gỏng ở trong
nhà lại đưa ra. Vụt cái, trăng mất đẹp. Ðiền cúi mặt,
bẽn lẽn như bị bắt gặp làm việc xấu. Ðiền lắng tai nghe.
Tiếng vợ Ðiền gay gắt hỏi:
- Làm sao thế?
Ðứa con gái vừa mếu máo vừa đáp lại.
- Con đau bụng.
- Giời ơi là giời!
ấy là tiếng vợ Ðiền rên lên. Rồi thị mắng con:
- Ăn bậy lắm! Chết là phải, còn kêu ai?
Ðứa con không dám khóc to. Nó chỉ oằn oại và rít nho
nhỏ trong cổ họng. Thỉnh thoảng nó không còn sức nén,
tiếng khóc bật ra Ðiền nghe một vài tiếng nức nở như
tiếng người nôn oẹ, Ðiền vẫn ngồi cúi mặt. Một nỗi chua
xót gần như là thuộc về thể chất, ứ lên trong lòng Ðiền.
Nó dâng lên đến cổ, xông lên óc. Nước mắt Ðiền ứa ra.
Vợ Ðiền gượng nhẹ đặt đứa con đang ngủ mệt xuống võng.
Thị cầm một con dao ra vườn moi mấy nhánh gừng về rửa
sạch, giã ra. Thị vắt thêm vào đấy nửaõ quả chanh. Thứ
thuốc bách bệnh của con nhà nghèo chỉ gồm có thế. Thị
gạn lấy nước đem lại cho con. Con bé mới ngửi thấy hơi
gừng đã sợ. Nó mím chặt môi. Dỗ thế nào nó cũng không
chịu uống. Thị phải bế nó, đặt nằm ngửa trên đùi, một
tay thị đỡ đầu, một tay thị kề chén nước gừng vào tận
môi con. Con bé mím môi thật chặt. Bực mình thị quát:
- Há mồm ra!
Con bé khóc. Thế là cốc nước gừng đã dốc tuột vào mồm
nó. Nó giãy lên như đỉa phải vôi. Nó phun phè phè. Nó
gào lên. Bao nhiêu nước gừng bắn ra áo mẹ. Thằng cu
con giật mình, khóc thét lên. Vợ Ðiền tức quá, phát
đen đét vào lưng con bé ốm và quăng nó xuống giường
như quăng một con mèo:
- Kệ cha mày! Cho mày chết đi!
Con bé vừa gào vừa van lạy:
- Con lạy bu; Con cay lắm! Con lạy bu! Cay mồm...
- Mày câm ngay không tao tát cho vỡ mặt.
Nó vẫn không chịu lặng. Thị sừng sộ, chực vồ lấy nó:
- Mày có câm không nào?
Nó sợ quá đành phải nín. Nhưng những tiếng rên nho
nhỏ vẫn còn thoát ra... Ðiền thương con lắm. Vút cái,
Ðiền thấy Ðiền không thể nào đi được. Ðiền không thể
sung sướng khi con Ðiền còn khổ. Chao ôi! Trăng đẹp
lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng
trong trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề
ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức
nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết
bao tiếng nghiến răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ
và lầm than?... Không, không, Ðiền không thể nào mơ
mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy.
Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu
óc Ðiền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Ðiền
muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ
Ðiền khổ, con Ðiền khổ, cha mẹ Ðiền khổ. Chính Ðiền
cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như
Ðiền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi
đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ.
Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng
lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia,
thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ
trong lòng Ðiền. Ðiền chẳng cần đi đâu cả. Ðiền chẳng
cần trốn tránh, Ðiền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra
đón lấy tất cả những vang động của đời...
... Sáng hôm sau, Ðiền ngồi viết. Giữa tiếng con khóc,
tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm.
Và cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm
mất gà.
|