Ly Thân
Chương 2
Thực ra, tên cúng cơm của tôi là Trần Húng chứ không
phải Trần Hưng. Sau này lớn lên đi học, thấy cái
tên Húng kỳ cục, tôi van nài cha tôi mãi mới được
đổi từ Húng sang Hưng. Chỉ cần bỏ cái dấu sắc đi
để thêm vào chữ u một cái dấu ư là cuộc đời tôi
mang một ý nghĩa khác. Số là bố tôi từ thuở cha
sinh mẹ đẻ chỉ mê một món thịt chó. Nghe đâu, trong
một cuộc thi ăn thịt chó với bạn bè hồi trẻ, chỉ
một ngày ông đã ăn hết sạch hai con cầy tơ. Từ đó,
bố tôi có biệt danh là ông Hai Cầy.
Bố mẹ tôi sinh được cả thảy bốn người con. Ông
lấy các món ăn trong bữa thịt cầy để đặt tên cho
con cái mới kỳ khôi chứ. Chị cả tôi là Trần Thị
Mơ, gọi trong nhà là chị lá mơ, cái thứ lá mà khi
xơi thịt cầy, nếu không có nó, thịt cầy không còn
là thịt cầy nữa. Tôi là Húng, một thứ rau thơm quan
trọng không kém lá mơ của bữa thịt cầy. Đó là húng
lìu hay húng chó, trong Nam kêu là rau quế. Con
em gái tôi được vinh dự mang một cái tên trong món
ăn bố khoái nhất là rựa mận, cô Trần Thị Mận. Còn
thằng em út tên của nó mới khiếp chứ, thằng Trần
Chìa, tức chả chìa. Cái tên của cậu em tôi mới nghe
cứ tưởng nó gầy teo, ốm nhách, lòi cả xương sườn
ra nhưng nào ngờ nó lại mập ú. Bố tôi bảo mẹ tôi
sinh cho ông một đứa nữa, dù trai hay gái, ông nhất
định sẽ đặt tên cho nó là Tửu, cứ nam văn nữ thị
mà kêu Tửu ơi Tửu, bố sai cái này là thế nào cũng
có cút rượu nhắm. Có lẽ vì vậy mẹ tôi sợ quá nên
không dám sinh nữa. Thành ra cuộc đời bố tôi luôn
luôn thèm rượu và thiếu rượu. Cứ mỗi lần đặt tên
con, mẹ tôi lại gây gổ với bố. Nhưng bố tôi quyết
đặt tên con cái theo ý của mình, dù trời can cũng
không nổi. Cuối cùng mẹ tôi đành khóc lóc nhượng
bộ. Khóc xong, bà ngồi một mình ca cẩm phàn nàn
thật tội nghiệp. Rằng ông đùa giỡn suốt đời không
chán hay sao mà còn lấy cả con cái ra để bỡn cợt.
Tội nghiệp các con, tên với chả tuổi, kêu lên toàn
là món nhắm, e rằng sau này không có cái bỏ vào
lỗ miệng đâu. Bố an ủi mẹ rằng tên con cái hay như
thế còn không chịu, đang đói kêu lên một loạt: này
con lá Mơ, này thằng Húng chó, này con rựa Mận,
hỡi đứa chả Chìa là thấy no cái bụng, sướng cái
miệng liền. Tiếc bà không sinh cho tôi một thằng
cu Tửu, khi buồn chỉ cần gọi tên con là đã say rồi,
đỡ phải mắt tiền ra quán mua rượu bà ơi. Đôi lúc
có tí ngà ngà, bố tôi lại nằm đu đưa trên võng ngâm
Kiều, đọc thơ Tú Xương, Nguyễn Khuyến. Kết thúc
cuộc ngâm vịnh, thế nào ông cũng hát ồ ề câu: sống
trên đời ăn miếng giồi chó, chết xuống âm phủ biết
có hay không?
Tôi nhớ hồi bố tôi lên mạn ngược buôn bán, khi
về mang theo hai con chó con, một bạch một vàng.
Ông bảo thứ chó này quý lắm, mau lớn, to con, giữ
nhà thì bố trộm cũng không dám bén mảng, lại thịt
ngon, nếu có khách ngả ra lúc nào cũng tiện.
Về chó, từ xưa ông bà ta đã có câu: nhất bạch nhì
vàng, tam khoang, tứ đốm. Như thế, riêng trong nhà
mình, ông đã có đến hai con chó nhất nhì thiên hạ
rồi. Rất hay là đôi chó này lại một đực, một cái.
Hôm đưa hai con chó quý này về, bố tôi nhờ ngay
ông hàng xóm sang bắt nghiến con chó vện đực nuôi
trong nhà ra thịt, để mừng hai công tử chó, khiến
hai kẻ ấu thơ kia nhìn thấy mà xanh mặt. Bố tôi
đặt con bạch là mẻ, con vàng là riềng, hai thứ gia
vị thiết cốt nhất của thịt chó. Thiếu hai thứ này,
thịt chó coi như bỏ. Hai con chó con dần dần cũng
quen với tên gọi của mình, nào biết đâu riềng với
mẻ đã ám mình từ ngày bé tí.
Mấy tháng đầu, con riềng và con mẻ kể cũng có hơi
lớn. Nhưng tụi nó lớn rất chậm, mặc dù cơm thừa
canh cặn hai cu cậu lúc nào cũng chén căng rốn.
Nhưng rồi cả năm sau, con riềng với con mẻ mỗi lúc
một mỏi mòn đi, ốm nhom ốm nhách không cách gì nở
nang ra được. Mấy ông hàng xóm bảo bố tôi đổi tên
cho hai con chó này đi, chứ lấy riềng và mẻ mà đặt
cho nó, thì còn bố nó cũng sợ toát mồ hôi hột, sợ
còn chết khiếp được nữa là tụi nó.
Họ còn bàn ra tán vào rằng dù là con vật, nhưng
nó cũng biết chứ, lúc nào cũng bị cái ám ảnh vào
nồi, bị cái hình ảnh riềng với mẻ, mùi thơm của
riềng với mẻ hành hạ, thì thử hỏi làm sao mà yên
tâm sống được cơ chứ. Bố tôi gật gù nghe lời bèn
đổi tên cho hai con riềng con mẻ, nhưng nó vẫn cứ
lì ra, không chịu lớn thêm một tẹo. Càng ngày hai
con chó càng da bọc xương mặc dù chúng ăn thùng
bất chi thình. Mấy ông hàng xóm lại góp ý với bố
tôi là phải đổi tên của bốn đứa con đi, họa may
hai con chó mới đỡ sợ, đỡ mất vía mà yên tâm lớn.
Lúc nào trong nhà cũng nghe gọi nào lá mơ, nào húng,
nào rựa mận với chả chìa thì còn khiếp đảm hơn là
riềng với mẻ ấy chứ. Hừ, đời nào chỉ vì cái chuyện
lớn hay không lớn của hai con chó con mà bố tôi
lại đi đổi tên bốn đứa con. Ông bèn bán quách hai
con chó ốm cho hàng xóm. Nghe đồn khi được nuôi
ở nhà khác với tên khác, hai con chó ma mãnh và
non gan kia lớn nhanh còn không ngờ. Cho hay là
cái nỗi sợ ở đời gớm thật. Đến con chó còn bị nỗi
sợ hành cho còn mòn mỏi, để thân tàn ma dại như
vậy, nữa là con người suốt một đời phải đối diện
với muôn nghìn nỗi sợ trước cái chết, trước bạo
quyền, trước những tai bay vạ gió rủi ro... Tồn
tại phải chăng là cuộc chiến đấu âm thầm quyết liệt
của sinh vật nói chung, của con người nói riêng
trước bao nhiêu nỗi sợ hãi?
Thuở nhỏ, bố tôi học chữ nho, thi mãi không đậu,
phẫn chí về đi cày rồi sắm thuyền đi buôn. Có lẽ
vì ông là người có học nhất của cái làng Bình Hải
bấy giờ, nên bọn cường hào chức sắc rất ghét. Mặc
dù trong bụng không ưa gì kẻ sĩ, nhưng bọn cầm quyền
phải làm ra vẻ ta đây quý người có chữ, trọng kẻ
nhân tài.
Bọn họ hay mời cha tôi tham gia những cuộc chè
chén ngoài đình làng, hay trong nhà quan nhà hào
phú, cốt để gài cho ông say mà lộ rõ cái chân tướng
vẫn giấu trong vẻ ngoài dân dã. Mặc dù bố tôi chúa
ghét cái thời thế đảo điên này, nhưng ông lấy sự
im lặng làm thượng sách, biết cách dùng cái nhu
thắng cái cương. Vả lại, thỉnh thoảng có tí men
vào, ông thường nói với mẹ tôi rằng ông đếch thèm
chấp với cái đời chó đẻ này, còn chưởi ông cũng
không thèm nữa là, có chưởi nó cũng chỉ bẩn cái
miệng mình thôi. Có khi nửa đêm ông tỉnh dậy ngồi
đối diện với ánh trăng suông, nghe chó sủa ma, rồi
hít một hơi dài thuốc lào bằng cái điếu cày gia
truyền, đoạn nói thầm một mình rằng cuộc đời láo
lếu này ạ, chưởi chúng mày thà ông về chưởi chó
còn hơn. Có điều gì buồn bực với thế cuộc là tụi
tôi biết ngay, thế nào đêm ấy ông cũng ngồi chong
mắt nhìn đêm, rít thuốc lào, rì rầm mắng mỏ cái
bàn cái ghế. Có lần tên lý trưởng bảo bố tôi miệng
hến. Ông nhấp ly rượu cười: hừ miệng hến chính là
miệng tôi.
Có lẽ chính vì thái độ nén mình đó mà trong xã
hội phong kiến nhố nhăng, bố tôi đã tránh được bao
tai bay vạ gió. Bố tôi dân mèo mù vớ được cá rán.
Ông lấy được mẹ tôi vừa đẹp người, đẹp nết. Suốt
đời bà lấy sự hy sinh cho chồng con làm 1ẽ sống.
Hồi tôi mới sinh, nhà nghèo lắm, gặp dịp đói kém
bữa cháo bữa rau. Mùa đông rét cắt thịt, nửa đêm
nước sông rạch cạn, mẹ một mình một bóng gọi mấy
bà mấy cô lối xóm dậy đi mò cá. Làng tôi như một
hòn cù lao nằm giữa vùng sông rạch, cá tôm tương
đối nhiều. Có đêm, chỉ bằng hai bàn tay, mẹ tôi
đã mò được cả chục ký lô cá. Bàn tay mẹ đầy vết
nứt nẻ, rỉ máu vì vết gai cá trê, cá úc, cá hau
đâm nát.
Một lần nửa đêm, chị Mơ lay tôi gọi dậy:
- Húng, dậy đi, mẹ chết rồi.
Tôi tỉnh dậy, nghe nóI mẹ chết liền lăn đùng ra
khóc, gọi mẹ khản cả tiếng. Chị tôi dìu tôi ra nhà
ngoài, nơi có rất đông người vây quanh một đống
lửa. Mẹ tôi đang nằm bên đống lửa như một xác chết.
Mẹ tôi bị chết cóng khi đang mò cá dưới sông, rét
quá cứng đờ cả tay chân. Mẹ bị cấm khẩu trợn tròn
đôi mắt. Mấy bà mấy cô cùng mò cá vội khiêng mẹ
về. Những người khiêng mẹ vừa đi vừa ngã dúi dụi
vì rét run như cầy sấy. Trời rét đến bảy tám độ
vẫn ngâm mình dưới nước mò cá, sao không chết cóng
được. Nhưng thật may man, bằng cách sưởi mẹ bên
ngọn lửa, bằng hô hấp nhân tạo, bằng cách cạy miệng
mẹ đổ vào cả tô nước tiểu trộn gừng giã nhỏ, cuối
cùng người ta đã cứu sống được mẹ tôi. Vậy mà chỉ
ít đêm sau, mẹ lại nai nịt vào người mấy cái mền
rách, theo mấy bà xuống sông mò cá.
Ngày bé, tôi là đứa trẻ nghịch ngợm nổi tiếng trong
làng. Mỗi lần nghịch phá, bị hàng xóm đến nhà la
rầy, hoặc phàn nàn kêu ca với mẹ, mẹ tôi lại ngồi
khóc. Hóa ra tôi sợ nước mắt mẹ hơn đòn roi của
bố. Nhìn mẹ khóc, tôi thấy quá đau lòng, còn hơn
những con lươn của bố hằn trên hai mông đít tôi.
Trong nhà, tôi quý nhất con Mận, tức rựa mận, em
kế tôi.
Con bé dại lắm. Mà kẻ dại bao giờ cũng được người
khôn mê. Lại vì ở với kẻ dại lời lắm, tha hồ cho
ta gạt gẫm. Ai đời, lớn tới bốn tuổi mà Mận vẫn
chưa biết đếm. Mẹ tôi đi chợ về chia cho chúng tôi
mỗi đứa mười củ lạc. Tôi ăn cái vèo hết phần mình.
Nhưng Mận để dành. Nó bóc củ lạc bỏ miệng toan nhai,
nhưng sợ hết, lại nhả ra cầm trên tay. Nó lấy ước
mơ của mình ra để đếm hay sao mà mười củ lạc rõ
ràng, lại đếm thành ra hai mươi mốt củ. Tôi ngồi
cạnh Mận làm thân. Đột nhiên, tôi chỉ tay lên mái
nhà hô:
- Mận ơi, nhìn kìa. Con chuột công mất con mèo
nhà ta rồi.
Con bé tưởng thật, vội ngẩng mặt nhìn lên trần
nhà, ngơ ngác hỏi với cái giọng ngọng nghịu: âu...
âu...? Xưa nay, nó mới chỉ biết một vế thật là mèo
tha chuột. Hôm nay, ông anh quý hóa bỗng phát hiện
ra điều kỳ lạ của vế thứ hai, dù thật ngược đời,
nhưng đang xảy ra trên trần nhà: chuột công mèo,
lẽ nào nó không ngó cổ lên nhìn cho được. Vậy là
tôi tranh thủ lúc con em mất cảnh giác, thò tay
sang phần quà cho nó, thó mất dăm sáu củ lạc rang
chứ ít gì đâu. Tuy vậy, khi không nhìn thấy điều
anh vừa chỉ, nó lại cúi xuống đám lạc, vẫn còn hai
mươi mốt củ mới lạ chứ. Bằng những cách thức lừa
mị như vậy, tôi đã dụ dỗ và bóc lột gần hết số lạc
của em gái mới thôi. Trong ký ức tuổi thơ của Mận,
vẫn mơ hồ có một con chuột tha con mèo, nhưng nó
đã không nhìn thấy. Sau này lớn lên, tôi đã học
được cái đức tin thơ ngây của đứa em gái, để suốt
đời ngơ ngác đi tìm cho ra một con chuột vô hình
vừa tha mất con mèo đời sống. Con người từ bao đời
nay, hình như vẫn chưa chịu tuyệt vọng, vẫn dùng
hết cách để cố tìm ra cái chưa có thực bằng cả nhiệt
tình của mình.
Mận là cô bé thật lạ. Mỗi lần ăn xôi đậu đen, nó
vẫn băt tôi nhặt hết đậu ra mới chịu ăn. Nó bảo:
- Xôi gì mà toàn ruồi là ruồi.
Trời, đậu đen, những hạt vừa bùi vừa béo ngon vậy
mà em gái tôi cho toàn là ruồi. Tôi thì vô cùng
thích xơi cái giống ruồi béo ngậy đó. Tôi không
giải thích dài dòng làm gì cho mệt, rằng đậu đen
ngu ạ, ruồi biết bay cơ mà, thứ này cũng đen cũng
bé như vậy, nhưng đâu có biết bay. Nhưng tôi biết
tính con nhóc này, nó đã phán là ruồi, thì có chết,
đậu đen vẫn cứ phải là ruồi.
Tôi nhanh nhẹn nhặt hết ruồi trong đĩa xôi em gái,
rồi cho vào miệng, nhai hết sức ngon lành, thỏa
mãn.
Con Mận kinh ngạc reo lên:
- Mẹ ơi, khiếp quá, anh Húng nhai ruồi.
Tôi vừa ăn vừa buồn cười đến phát nghẹn, vừa thương
hại đứa em gái ngốc ơi là ngốc. ở đời, nếu là ruồi
đi chăng nữa, mà ngon thì cũng cứ nên chén. Từ đó,
Mận phục tôi đến sát đất. Nó đi khoe với bọn trẻ
con hàng xóm rằng anh Húng nhà tao tài hơn cả thánh,
đã ăn bao nhiêu là ruồi. Thấy đám trẻ con lâu la
bốn năm tuổi của tôi tròn xoe mắt thán phục, nên
tôi càng khoái chí, tự vỗ ngực tao ăn ruồi đấy,
khiếp chưa? Nhưng sau cái hãnh diện là đến cái tai
hại. Con Oanh, bạn thân nhất của tôi, nhìn tôi tởm
quá, tuyên bố không thèm chơi với cái thằng ăn ruồi
nữa.
Tôi đã phải đi cải chính, đi giải thích đến khản
cả tiếng, đến suýt đánh nhau với bọn trẻ con hàng
xóm, rằng tôi ăn hạt đậu đen trong xôi, chứ không
phải ăn ruồi, nhưng chúng dứt khoát không nghe.
Tôi đi tới đâu cũng bị trẻ con gọi: ê thằng Húng
chó ăn ruồi. Đến nỗi sau này thành danh rồi, có
người già vẫn kể về tôi cho con cháu rằng ở tại
làng Bình Hải này, ngày xưa có một cậu bé toàn xơi
ruồi là nhà văn Trần Hưng đấy. Bởi vì đậu đen đã
biến thành ruồi từ thời thơ ấu của tôi. Một thằng
oắt con như tôi, dám bắt ruồi ăn, thì thử hỏi trên
đời này, còn thứ gì hắn trừ mà không cho vào miệng.
Sau này khi đã lớn, đôi lúc tôi vẫn nhìn đời bằng
con mắt của Mận nhìn vào đĩa xôi thuở nhỏ.
Tôi nhớ đến mười lăm mười sáu tuổi, con Mận mới
dám ăn bún. Ngày nhỏ, nó cho bún là giun sán. Tôi
đã có kinh nghiệm về cái vẻ ruồi tai hại kia, nên
không còn thích tham dự vào chuyện bún hay giun
của con bé muốn đặt tên lại các sự vật theo sở thích
của mình.
Hồi con Mận đi khoe khắp bàn dân thiên hạ rằng
anh nó có tài ăn ruồi, tôi đã lo sợ và buồn vì con
bé Oanh không thèm chơi với mình nữa. Nhưng nghĩ
lại, tôi không bỏ lỡ cơ hội, tội gì lúc thiên hạ
đang phục mình như vậy, lại không xưng vương. Tôi
bèn xưng mình là vua. Em gái tôi, tức con Mận làm
hoàng hậu. Hoàng hậu năm tuổi mặc quần giải yếm.
Đám quan lại lính lác đa số cởi truồng, thò lò mũi,
áo xống vá chằng vá đụp. Thằng Tỏi, Lê Xuân Tỏi,
con ông Lê Xuân Rồng, giàu nhất làng bên xóm cây
đa, hơn tôi hai tuổi, một lần tìm đến. Tỏi là con
thứ tư của ông Rồng, một ông để râu cá trê, đi đâu
cũng gặp toàn ma là ma. Ông Rồng kể rằng một lần
đi đêm, ma đưa ông vào ngồi giữa bụi tre gai, đến
độ sáng sớm cả làng kéo ra dùng dao phát tre mới
lôi ông ta ra được. Ông Rồng còn kể vô khối chuyện
ma tà chỉ nghe đã muốn ù té chạy, nổi da gà, sởn
tóc gáy. Thầy pháp khuyên ông nên dùng một thử vũ
khí trừ ma rất hữu hiệu là tỏi. Do vậy, ông nhai
tỏi như người ăn trầu, mùi tỏi xông lên hôi hơn
cú, tanh tanh nhẩn nhẩn rất khó chịu. Bất kể lúc
ngủ hay khi thức, trong túi ông lúc nào cũng có
một củ tỏi làm bùa hộ mệnh.
Nghe nói từ khi sử dụng món tỏi ấy, ma cũng đỡ
hành ông. Cho nên đứa con thứ tư ông đặt tên là
Tỏi, âu cũng là dễ hiểu. Tỏi mặc cái quần đùi xanh
đã bạc nhưng chưa hề thủng đít.
Làng tôi thời đó, trẻ con chỉ cần bận một cái quần
không thủng, không vá đã là sự kiện rồi. Ngoài ra
Tỏi còn mặc cái áo màu nâu non rất mới. Một điều
khiến tụi tôi há hốc miệng là Tỏi còn đi đôi guốc
gỗ sơn xanh có vẽ hoa, gõ loong coong lên đường
đất rất vui. Đám trẻ con xóm cây thị của tôi từ
khi sinh ra đến giờ, chưa một lần được xỏ chân vào
guốc dép. Cả bố mẹ chúng cũng suốt đời đi chân đất
đó thôi. Tỏi dắt theo năm sáu đứa con trai, đứa
nào cũng suýt soát tuổi tôi.
Tôi đang chơi trò vua chúa, thấy bọn Tỏi tới liền
bãi trào. Tỏi tuy lên chín, lớn hơn tôi hai tuổi,
nhưng tướng hắn nhỏ thó, vẻ ốm yếu, còi cọc, chỉ
duy hai con mắt la sáng quac, khiến gương mặt hắn
trở nên rất tinh khôn.
Bọn con gái phe tôi đa số ở truồng, thấy Tỏi diện
quá, bèn trơ mắt ếch ra ngó. Chắc chúng đang thèm
khát một bộ đồ lành lặn như Tỏi, lại mơ có cả guốc
đi nữa chứ.
Thằng Tỏi trao guốc cho một đứa mà tôi đoán chắc
là lính hầu. Thằng bé kia cũng dân mặc quần thủng
đít như tôi, ôm guốc của chủ áp vào bụng rất lễ
phép.
Tỏi gọi tôi:
- Húng ơi.
Nó khôn thật, không dám gây sự với đám tôi nên
không thèm kêu tôi là Húng chó như đứa khác.
Con Mận nhanh nhẩu bảo Tỏi:
- Vua chứ, anh Húng đang làm vua đấy nhá.
- Gớm, vua mà phải để thiên hạ nhắc, người ta mới
biết đấy là vua, thì cũng chỉ là thứ vua hạng bét.
Tỏi bèn nhỏ nhẹ, gọi cho em gái tôi vừa lòng:
- Vua ơi.
Tội gì mà tôi không nhận danh hiệu ấy. Tôi trả
lời:
- Ơi!
Tỏi nói tiếp:
- Xin mời vua ra đây nói chuyện riêng với dân.
Tôi sợ gì mà không ra. Vua mà.
Khi Tỏi dắt tôi tới sát gốc cây bàng, xa đám thần
dân đang ăn tiệc bằng đất và các thứ lá, Tỏi hỏi
tôi không còn kiêng nể gì nữa:
- Tao nghe mày ăn được ruồi hả Húng?
Tôi giận quá, tính thoi cho Tỏi một quả vào mặt
để biết thân. Rằng mày đừng có xách mé, lúc vua,
lúc mày, không còn trên dưới gì nữa. Nhưng thấy
quân lính của Tỏi quá mạnh nên tôi đành thôi. Tôi
đáp cho bù lại cái uy vừa bị hắn xúc phạm:
- ừ đấy vua thì cái gì mà không ăn được.
Tỏi cười. Cái cười rất lâu. Hắn móc trong túi áo
ra một cái sâu kèn to bằng ngón tay. Đoạn Tỏi đổ
từ sâu kèn ra giữa lòng bàn tay mình có đến hàng
chục con ruồi thật đã chết, bảo tôi:
- Biếu mày đắy. ăn đi vua.
Tôi hoảng quá, xanh cả mặt. Cái thằng cu Tỏi này
ranh ma quá, đâu có dễ tin như đứa trẻ khác. Điều
gì cũng cứ phải thử cái đã, xem thực hư ra sao.
Tôi bèn đánh bài lờ:
- Vua no rồi.
Tỏi cười ngất, trừng mắt:
- Mày nói dối đúng không?
Nó vừa hỏi vừa liếc nhìn cái đám đệ tử hùng hậu
của mình, có ý đe nếu mày không khai thật, hãy coi
chừng nhừ xương đó con.
Tôi đành phải gật đầu, ngầm thú nhận mình bịp.
Tuy vậy, tôi vẫn chữa thẹn:
- Tao ăn hạt đậu đen trong xôi cơ. Tại em gái tao
bảo tao ăn ruồi đấy chứ.
Thằng Tỏi nghĩ một lúc bảo:
- Tao sẽ báo cho tất cả biết mày nói dối. Tao sẽ
bắt mày ăn ruồi thật trước đám lính của mày. Căi
đồ chỉ quen ăn ruồi giả.
Tôi van nài nó:
- Đừng, mày đừng làm vậy Tỏi ơi. Tao nhường cho
mày làm vua đấy.
Tỏi được nước, bèn sỉ nhục tôi:
- Tao ỉa vào làm vua ấy.
Tôi xuống nước:
- Từ nay tao cũng không dám làm vua nữa đâu.
Tỏi khuyên:
- Thôi, bỏ cái chuyện ruồi với vua đi. Tao vẫn
để cho mày được cái tiếng ăn ruồi nghe chưa!
Tôi gật đầu. Có mỗi cái tài ăn ruồi, mà nó khui
ra là bịp, thì tôi còn gì để làm oai với thiên hạ?
Thằng Tỏi lại vỗ vai tôi:
- Mày có thích đi guốc không?
- Thích.
- Thỉnh thoảng tao cho mày mượn đi vài bước nghe
chưa.
Ôi chao, được xỏ chân vào đôi guốc có sơn hoa của
nó mà đi vài bước, với tôi lúc đó cỏn gì bằng, thật
là một đặc ân. Tỏi ra lệnh tiếp:
- Nhưng tao đi đâu mày phải theo sau đấy. Rồi mày
còn phải xách guốc cho tao nữa chứ. Chịu không?
- Chịu.
Tỏi bảo tôi:
- Mày cứ làm vua nước mày đi, tao không cấm đâu.
Thì ra, Tỏi đã dùng đôi guốc dụ khị được bao nhiêu
đứa đi theo. Chính nó cũng quý đôi guốc hơn vàng.
Đi học, nó bỏ guốc vào cặp xách, tới trường mới
xỏ guốc vô. Trẻ con làng tôi ngày đó, có lẽ duy
nhất chỉ có Tỏi là có guốc đi. Bọn tôi chỉ vì mê
đi guốc mà chấp nhận làm nô lệ cho nó. Riêng đối
với tôi lúc đó, Tỏi còn có một thâm ý. Rằng mày
cứ việc làm vua đi, nhưng là đồ vua xách dép.
Cho tận lúc con Oanh xinh đẹp, bạn thân của tôi
bỏ tôi vì ghê tởm cái tật ăn ruồi. Tôi gặp thằng
Tỏi nhờ nó cải chính giùm cho, nhưng chính nó còn
thề với Oanh là đã chứng kiến cảnh thằng Húng chó
ăn hết ba mươi ba con ruồi đực, mười hai con ruồi
cái trong một nháy mắt. Từ đó, Tỏi đã dụ được đứa
con gái xinh nhất xóm cây Thị, đi theo phe xóm cây
Đa của tụi nó.
Tỏi hay sang nhà tôi chơi. Trưa mẹ tôi đi chợ về,
có quà vẫn chia đều cho mọi đứa. Tỏi cũng có phần
nên càng thân với tôi hơn. Có lần buổi trưa tôi
đang chơi bên nhà hắn, bỗng nhiên Tỏi hét tướng:
- Húng, mẹ mày đi chợ đã về kìa, tới đầu ngõ rồi
đó. Về nhanh không trẻ con nó chén hết bánh đó.
Tôi chạy hớt hải về nhà, nhưng tìm mãi không thấy
mẹ mình đâu. Tôi bèn chạy qua nhà nó, thì thấy mẹ
nó đã đi chợ về, chia bánh cho nó và nó đã ăn sạch.
Sau này tôi mới hiểu là khi nhìn thấy bóng mẹ nó
sắp về, nên bịa ra chuyện mẹ tôi, để tôi cút cho
rảnh. Vì nó sợ sự có mặt của tôi, khiến mẹ nó phải
cho bớt quà đi. Trò chơi gì Tỏi cũng bày đầu, cũng
tổ chức. Nó đã có cái máu cầm quyền, máu ưa thống
trị kẻ khác từ khi còn để chỏm.
Cho hay quyền lực đâu chỉ hấp dẫn thế giới người
lớn. Bằng đôi guốc và sự mưu mẹo, thằng Tỏi đã chinh
phục được gần hết trẻ con làng tôi ngày bé. Nó đã
biết cách trở thành lãnh tụ khi còn trong tuổi đái
dầm.
Tôi nhớ một lần tên Tây đoan trên tỉnh về làng
khám rượu. Bọn tôi đang chơi nặn đất thì thấy trẻ
con, người lớn ùn ùn chạy ra phía bờ sông như ong
vỡ tổ. Không biết chuyện gì, bọn tôi cũng chạy vù
đi. Có người nào đó hô: xe đạp, xe đạp. Tiếng hô
như ngòi pháo châm vào đám trẻ con đang chen nhau
chí chết đổ ra bờ sông. Tôi và hai ba đứa con gái
rơi xuống bờ mương ướt hơn chuột lột, mãi mới bò
lên chạy tiếp được. Thế rồi tôi cũng chen được ra
bờ sông nhìn sang bên kia. ôi chao, một sự lạ lùng.
Ông Tây đoan mặc quần soọc, đội mũ cát, đi xăng
đan đang đạp cái xe gì hai bánh lao vùn vụt. Bọn
tôi phục quá, vỗ tay ầm lên.
Tên Tây đoan dừng lại, dựa xe vào hông, giơ tay
vẫy. Chúng tôi càng vỗ tay tợn. Mấy người lớn thi
nhau giải thích cho đám trẻ con biết đấy là cái
xe đạp, máy móc ghê lắm, phải có bùa phép mới cỡi
lên được. Bữa đó có hai đứa trẻ con rơi xuống sông
tí chết đuối vì chen nhau xem xe. Đấy là lần đầu
tiên trong đời tôi nhìn thấy cái xe đạp. Không biết
bằng cách nào, một ngày sau, thằng Tỏi đã dụ được
tên Tây đoan cho ngồi trên pocbaga để nó chở đi
đến cả chục mét.
Từ đó, uy tín thằng Tỏi càng lên cao một cách khủng
khiếp, trong thế giới trẻ con trong làng. Nó đã
trở thành thần tượng của đám trẻ con nghèo khổ chúng
tôi.
Đến bảy tuổi tôi mới được học vỡ lòng do một ông
giáo già dạy dỗ. Hôm đầu tiên xếp hàng vào lớp,
tôi được xếp đứng trước cô bé Oanh. Oanh là con
gái bác phó Lãm chuyên hàn nồi niêu và làm lò rèn
gần nhà tôi. Trước kia, tôi với Oanh chơi thân nhau
lẫm. Nhưng từ khi nghe đồn tôi ăn ruồi, nó khiếp
quá.
Thấy tôi, nó toàn nhổ nước miếng ra vẻ kinh tởm.
Oanh nghỉ chơi với tôi để sang chơi với cánh thằng
Tỏi. Con bé xinh xắn cho nên đi đâu cũng sướng.
Thằng Tỏi cho Oanh mượn guốc đi có khi cả tiếng
đồng hồ. Một bên dễ thương, một bên có guốc, chơi
với nhau thành ra hai bên đều có lợi. Tôi giận Oanh
từ đó. Cái đồ tham phú phụ bần, mới thấy đôi guốc
đã hoa mắt lên như vậy, huống hồ trước những bả
vinh hoa thật thì còn mê đến mức nào. Thấy Oanh,
tôi làm lơ, coi như không có. Nhưng thật khổ thân
tôi, con bé vẫn có, vẫn tí tởn. Thấy tôi nó còn
nhăn mũi lên, thiếu điều bảo thẳng vào mặt tôi là
cái đồ ăn ruồi.
Hôm lần đầu xếp hàng vào lớp học, Oanh đứng sát
sau tôi mà không biết. Có lẽ có đứa quái quỉ nào
nghịch, xô hàng lên, khiến Oanh dúi vào tôi, đạp
cả chân lên chân tôi nữa trời ạ. Đạp xong, con bé
vẫn rút bàn chân nhỏ nhắn, trang trẻo của mình về
một cách tỉnh bơ, coi như không có chuyện gì xảy
ra vậy. Thực tình, tôi chả thấy đau là gì cả, có
khác gì bàn chân mèo êm như nhung đạp phải chân
mình đâu. Nhưng khi đó, tôi đang ghét Oanh. Trò
đời khi yêu củ ấu cũng tròn, ghét thì bồ hòn cũng
méo. Sau này, mỗi lần hồi tưởng lại chuyện đó, tôi
chắc chắn Oanh vô tình đạp phải chân tôi chứ nào
phải cố ý. Nhưng tôi cho rằng đây là âm mưu của
Oanh để làm nhục tôi. Tôi tính đá cho con bé một
cú, nhưng thấy bọn con trai trong hàng đứa nào cũng
muốn nịnh nọt, muốn lấy lòng để được về phe nó chỉ
vì mặt mũi nó đẹp. Tôi vỡ lẽ ra rằng đứa con gái
đẹp nào cũng lắm kẻ hầu hạ, nhiều lính tráng lâu
la. Tôi dẹp ngay ý định dùng võ lực với Oanh bữa
đó. Nhưng tôi để bụng. Tôi là thằng thù dai nhất
trần đời à mày dám đạp vào chân ông hử? Nhớ lấy
nhé, thế nào rồi ông cũng tìm được cách trả thù
đích đáng cho nó có đi có lại. Suốt một tuần lễ
sau đó, ngày nào xếp hàng vào lởp, tôi cũng tìm
cách đứng sau Oanh, nhưng không lại với những đứa
khác. Dù đám con trai mới bằng hạt mít đi nữa, nhưng
đã rất thích, rất quý trọng, tìm cách đứng gần đứa
bạn gái xinh đẹp. Cuối cùng, tôi đã tìm được cách
đứng sát sau Oanh để tìm cách trả thù. Tôi lừa lừa
giơ thẳng bàn chân đầy đất cát, đạp hết ga xuống
mu bàn chân của đứa con gái sáu tuổi. Thắng lợi
rồi, thù đã trả xong, tôi hí hửng đứng nhìn Oanh
mếu máo khóc. Chắc là con bé đau lắm, khóc rên rỉ
mãi. Nó quay lại vừa chùi nước mắt vừa bảo tôi:
Đồ ác, què chân người ta rồi này. Trời ơi, nhìn
gương mặt con bé lúc đó, sao tôi thấy nó đẹp làm
vậy, dễ thương làm vậy. Những giọt nước mắt của
nó làm tôi tan nát cõi lòng. Chính là tôi đau đớn
quặn thắt chứ không phải nó. Quả là tôi ác với nó
quá. Tôi muốn quỳ xuống đắt, nâng bàn chân bé bỏng
của Oanh lên mà vuốt ve, xoa nan cho hết cơn đau.
Nếu chỉ có hai đứa chắc tôi đã quỳ xuống thật. Nhưng
trước đám đông, dù sao tôi cũng tự ái.
Oanh ngồi xuống lấy tay xoa bàn chân đau. Đoạn
nó đứng lên, mắt còn ngấn nước, bảo tôi: Đền chân
cho tao đi. Tôi buột miệng trả lời: ừ, tao đền.
Tôi nhìn như muốn nuốt sống Oanh vào đôi mắt ốc
nhồi của mình. Bao nhiêu thù hận của tôi với Oanh
từ trước đến giờ, bỗng rơi mất hết, chỉ còn toàn
thương cảm. Có nỗi gì lâng lâng từ gan ruột dâng
lên nghẹn lấy họng tôi, khiến tôi trở thành câm
điếc. Chắc con bé đã hết đau, lấy tay áo vá quệt
nước mắt rồi đứng lên theo hàng vào lớp. Tôi cúi
xuống trộm ngam bàn chân phải của Oanh, nơi tôi
vừa đạp thẳng cánh với tất cả sức vũ phu trâu bò
của đứa con trai bảy tuổi. Bàn chân ấy hơi ửng đỏ
lên như đôi má lúc xấu hổ vậy. Oanh bảo tôi phải
đền chân cho nó. Nếu Oanh cần bàn chân của tôi,
giá có thể chặt được tặng nó tôi cũng vui lòng.
Dường như giây phút ấy đã ảnh hưởng còn toàn bộ
ý nghĩa cuộc đời tôi. Tôi đã mắc nợ Oanh bàn chân
để suốt đời phải trả. Sau này lớn lên, khi có tình
yêu, tôi mới hay rằng trong hành trình trần thế,
con người ta luôn luôn được đi bằng đôi chân của
một người nào đó như là mẹ ta, bạn bè ta hay người
con gái ta yêu. Bữa đó vào lớp học, việc đầu tiên
là tôi phải tự trừng phạt bản thân mình. Hừ, sao
mày dám đạp lên bàn chân của Oanh một cách ác độc
như vậy hả? Tôi dùng bàn chân trái tự đạp thật mạnh
vào bàn chân phải của mình cả chục cái, đau ứa cả
nước mắt. Làm như vậy, tôi thấy an lòng hơn. Tôi
đã tự mình trả thù cho Oanh theo kiểu như vậy đó.
Cũng lạ, từ ngày đó, Oanh không bao giờ gọi tôi
là thằng Húng chó ăn ruồi nữa. Tôi nghĩ chắc con
bé sợ cú đạp chân trời giăng kia. Rằng đừng chọc
cái thằng quỷ sứ ăn ruồi ấy, có ngày nát chân, lấy
gì để đi học, đi chơi. Oanh giận tôi đúng một năm,
không thèm nhìn, không thèm nói chuyện, dù tôi đã
xuống nước đến mức ê mặt. Bấy giờ chúng tôi đã lên
lớp một. Nhà hai đứa gần nhau, cùng đi một đường,
nhưng cô bé không bao giờ chịu đi chung với tôi.
Một lần đi học về, tôi đi trước chờ Oanh ở ngã
ba cây thị. Chả là cách đây mấy tiếng đồng hồ, không
hiểu sao Oanh đánh nhau với hai con bé trong lớp
giờ ra chơi, nếu không có tôi xông vào bênh, chắc
là con bé đã bị cào mặt, bị giật hết tóc tới mức
trọc đầu, vì hai con quạ con kia dữ dằn quá. Vì
vậy, sau lần lập công chuộc tội, tôi đã có cớ làm
lành với Oanh. Thấy tôi đứng chờ, Oanh có vẻ cảm
động. Nó ngồi xuống vệ cỏ, quay mặt ra con mương,
tay bứt cọng cỏ chỉ đưa lên miệng nhấm. Tôi liều
mạng, gần như nín thở, dịu dàng tới sát con bé gọi:
- Oanh ơi.
Oanh vẫn tỉnh bơ, không thèm nhìn tôi, ngúng ngoẳng:
- Không ai thèm thưa đâu mà gọi.
Tôi biết sau hơn một năm, cô bé con này vẫn còn
tức tôi.
Tôi hỏi tiếp:
- Chắc cậu giận tớ năm ngoái đạp vào chân chứ gì?
Oanh cộc lốc:
- Không thèm.
Tôi hạ mình xuống tới mức, có thể biến thành con
chó con ngay bây giờ:
- Húng xin lỗi Oanh.
Oanh nhìn tôi, hai mắt tròn xoe, cười:
- Đừng có xin, tớ không cho đâu.
Tôi chợt thấy cần phải làm một hành động gì ghê
gớm, để chứng tỏ sự chân thành hối cải của mình.
Tôi bèn nhặt ngay một cái vỏ ốc biêu vỡ bên cạnh,
bảo Oanh:
- Oanh hãy nhìn tớ trừng phạt cái bàn chân gây
ra tội lỗi này.
Không hiểu lúc đó ông trời vì sao lại phú cho thằng
lỏi con là tôi một sức mạnh lạ lùng đến thế. Tôi
liều mạng, nghiến răng, dùng cái cạnh sắc nhất của
vỏ ốc vỡ, rạch một cái thật mạnh vào bàn chân phải
của mình, cái bàn chân năm ngoái đã đạp vào chân
Oanh để gây ra mối thù suốt hơn một năm nay. Mọi
việc xảy ra trong nháy mắt trước cái nhìn kinh ngạc
của Oanh. Sau này, nhìn lại hành động rất Chí Phèo
ấy, tôi vẫn chưa thể lý giải nổi. Phải chi cái dũng
khí này theo tôi cho đến giờ, chắc chắn cuộc đời
tôi đã không kết thúc đau buồn và vô nghĩa như thế.
Cho hay, cuộc đời ta thành hay bại, tốt hay xấu,
nhiều khi lại do những tác động của người con gái
nào đó...
Thấy tôi rạch chân mình chảy máu, để trả thù cho
Oanh thì ít, mà để cô bé mủi lòng thương hại thì
nhiều, Oanh sợ quá, khóc ầm lên. Xong, cô xé một
tờ giấy trắng trong quyển vở học của mình ra băng
bó bàn chân cho tôi, nhưng máu vẫn chảy. Vậy là,
cuối cùng hai đứa, tôi tám tuổi và Oanh bảy tuổi,
đã ngây thơ cào đất bột trên đường để đắp vào vết
thương. Do chiến thắng lừng lẫy của cú ăn vạ rạch
chân ấy, hai đứa tôi chơi lại với nhau từ đó. Lớn
lên, chúng tôi đều được gia đình gởi lên tỉnh học
hết đệ nhị rồi đệ tam cấp. Nhớ hồi mẹ tôi cùng với
mẹ Oanh dẫn chúng tôi lên tỉnh tìm nhà trọ học.
Lần đầu tiên, hai đứa bé nhà quê mới thấy thành
phố, thấy điện, thấy nước máy. Việc đầu tiên của
hai bà mẹ là tìm mua cho chúng tôi mỗi đứa một đôi
guốc, chứ lên thành phố ai lại đi chân đất như ở
nhà quê, người ta sẽ chả khinh cho bằng rác ấy.
Lần đầu tiên đi guốc đối với chúng tôi thật là cực
hình. Lúc đau quai guốc làm bàn chân chúng tôi bị
lột da rồi rớm máu.
Đi được vài đường phố, hai chúng tôi đành phải
xách guốc, vừa đi vừa nhìn chân y hệt hai quân ngố
rừng. Thấy hàng bán kem que, hai bà mẹ mua cho chúng
tôi mỗi đứa hai cây ăn cho biết. Mặc dù từ bé đến
giờ đã biết kem kiếc là cái quái gì đâu, bèn ra
vẻ ta đây trước mặt Oanh, cầm que kem cắn cái rụp.
Trời ơi, hai hàm răng tôi tưởng rụng hết, buốt đến
váng óc. Tôi phải nhăn mặt nhổ hết kem ngậm trong
miệng ra đường, kêu nóng quá, nóng quá. Đoạn, tôi
cầm que kem còn lại thổi phù phù cho nguội. Mẹ tôi
cười quá. Oanh cũng cười theo. Cô bé vẫn chưa chịu
ăn cái của lạ này, chờ xem cái đã. Mẹ Oanh bảo tôi:
Kem lạnh chứ không phải nóng đâu cháu ạ. Lúc đầu
bác ăn kem cũng vậy, cứ tưởng nó nóng đến bỏng mồm
bỏng miệng, ai ngờ nó lại lạnh buốt đến mức ấy.
Tôi quê quá, đỏ mặt. Mười ba tuổi rồi mới cầm que
kem, đã không biết thì hỏi người ta, lại hay làm
ra bộ ta đây sành sỏi, rõ cái thằng không biết ngượng.
Tôi tự rủa mình: cái đồ chỉ được nước giỏi ăn ruồi
thôi. Trong làng năm ấy chỉ có tôi và Oanh được
lên tỉnh học. Số là ba năm trước, bố tôi phất lên
được nhờ đi vô tận xứ Mèo, mua được hàng trăm cái
mật gấu với giá rẻ, đưa về tỉnh bán lời quá. Từ
đó, bố tôi có vốn khá, buôn bán phát đạt, số cho
ông được giàu. Ông bèn mua cả chục mẫu ruộng, cho
người ta phát canh thu tô. Thoắt một cái, gia đình
bố mẹ tôi đang từ chó nhảy lên voi. Gia đình Oanh
số trời cũng ủng hộ. Lò rèn của bác phó Lãm, bố
của Oanh suốt ngày đêm phì phà phì phò như voi thở,
bếp than rực hồng và tiếng búa đe chí cha chí chát.
Bác phó Lãm thuê cả chục người thợ, cung cấp dao
cuốc, búa liềm cho khắp cả vùng quê rộng lớn.
Thằng Lê Xuân Tỏi cũng học trên tỉnh, hơn chúng
tôi hai lớp Lúc tôi gặp Tỏi trên trường, cậu ta
đã mười lăm tuổi gần như một chàng trai tỉnh thành
đi xăng-đan, quần tây xanh, sơ mi trang bỏ trong
quần, đầu chải rẽ đôi bóng mượt, nhìn chúng tôi
cười cười vẻ chế giễu. Cuối năm 1944, tôi không
gặp Tỏi trong trường nữa. Việc Tỏi và một số bạn
khác bị đuổi học làm xôn xao anh chị em chúng tôi.
Có người đồn vì Tỏi chủ mưu hại hai bà giáo người
Pháp dữ như hai con cọp cái, tính cực đoan, hay
chưởi dân An nam mít dốt đặc, tuổi đã lớn nhưng
chưa có chồng. Nghe đâu Tỏi đã dắt theo hai trò
khác lẻn vào chỗ phơi đồ của hai bà giáo bí mật
xát ớt, loại ớt hiểm chỉ thiên cay nhất thế giới
vào hai cái coọc-xê của hai bà giáo, khiến suốt
một tuần hai bà giáo phải nghỉ vào bệnh viện điều
trị. Một số đứa thề là đã nhìn thấy hai nạn nhân
này, với hai cặp vú sưng to gần bằng bốn quả đồi.
Nhưng có nguồn tin nói Tỏi vào hội kín bị đuổi học.
Sau này tôi mới biết Tỏi bị cảnh binh Nhật truy
lùng khắp nơi. Khi Cách mạng tháng Tám thành công,
tôi mới biết Tỏi đã hoạt động Việt Minh từ đó.
Khi tới tuổi mười lăm, tôi bỗng nhiên trở thành
một người khác; hiền lành, ít nói, thậm chí còn
có vẻ e lệ nữa là đằng khác. Tôi đã cao lớn, ra
dáng một trang nam nhi. Sau bao nhiêu lần nì nèo,
xin xỏ, bố tôi đã cho phép tôi đổi tên từ Trần Húng
sang thành Trần Hưng. Chỉ cần bỏ đi dấu sắc, thêm
cái dấu ư là tôi đã từ thằng Húng chó ăn ruồi nghịch
ngợm thành ra một thằng Hưng rồi nghe cuộc đời.
Cứ vài ba tháng, tôi lại từ tỉnh về làng xin tiền
bạc hoặc để thăm gia đình bà con. Ai gặp tôi cũng
ngó, không sao nhận ra cái thằng ngày xưa ăn ruồi
nữa. Chả bù cho ngày nào vì thằng Húng chó thù ông
Giáp Lộng không cho câu cá, đã lẻn vào bè sạch cam
non trên ba cây cam sành nhà ông, tuyệt nhiên không
lấy một quả, mà xếp tất cả cam dưới gốc cho ông
già biết tay. Húng chó từng rình cho đám trẻ chăn
trâu mười ba mười bốn tuổi nhảy sông tắm truồng,
mê trò chơi lấy bùa sơn cùng người làm quỷ, bỏ mặc
đống quần áo hôi như cú trên bờ. Vậy là Húng chó
lẻn tới theo kiểu lính đặc công, ôm cả mớ áo quần
ấy giấu tít lên ngọn cây bàng, khiến các cu cậu
phải ngâm mình dưới sông chờ tối mới dám mò về nhà.
Húng chó tổ chức đám trẻ con vào chùa ăn cắp tượng
Phật, lấy bẹ chuổi đóng quan tài đặt tượng, kéo
nhau đi như kiến làm đám ma. Húng chó bắt rắn nước
buộc vào đuôi chú bê nhà ông Thả, khiến đứa con
gái út nhà ông khi gọi bê về chuồng, nhìn thấy sợ
quá ngất xỉu. Húng chó giấu cây gậy vạn năng của
ông Y, bõ nhà thờ, còn rình bên gốc cây gạo lúc
chập tối, giả làm ma dọa ông già bảy mươi, khiến
cụ vắt giò lên cổ chạy thục mạng, té đái ra quần.
Húng chó bỏ hàng chục trái ké ngựa giấu trong túi
áo, rồi thừa cơ xoa lên đầu bọn con gái, khiến chúng
phải mệt công lắm mới gỡ nổi trái ké kia ra khỏi
tóc. Trời ơi, chuyện nghịch phá của Húng chó tôi
có kể thâu đêm suốt sáng cũng không hết. Đến nỗi
bất kỳ vẻ nghịch ngợm của bất cứ đứa nào trong làng,
người ta đều đổ tội cho nó. Thành ra, tôi bị tiếng
oan nhiều lắm, bị đánh chửi nhiều mà nghịch chẳng
bao nhiêu.
Thậm chí nhớ hồi lên tỉnh học rồi, về quê chơi,
gặp dịp thuận lợi, tôi vẫn còn nghịch. ấy là lần
đi qua sân nhà ông Khoản, thấy đang phơi tượng ông
thánh An-rê bằng gỗ mít với nước sơn tuyệt đẹp.
Chắc là chủ nhân mang ngài xuống để lau chùi sạch
bụi, lại để đầu ngài một nơi, thân ngài một nẻo.
Thấy vậy không hiểu ma quỷ cám dỗ làm sao, trông
trước trông sau không thấy ai, tôi bèn thó ngay
cái đầu ông thánh bỏ vào túi, chuồn mất. Tôi công
phu quành xuống chùa ông Lý Đào, bỏ đầu thánh An-rê
vào chiếc bát nhang trước tượng Phật Thích Ca. Ông
Khoản thấy đầu vị thánh thiêng liêng không cánh
mà bay, bèn quỳ xuống làm dấu đọc kinh líu cả lưỡi,
đấm ngực mình thùm thụp, tuyên bố là đầu ngài đã
bay lên trời, khiến cả làng kéo tới khấn vái om
sòm. Chủ nhân bê vị thánh cụt đầu đặt lên bàn thờ,
sợ một phép, đi ra lạy, đi vào vái, rồi mời bà con
có đạo trong làng đến đọc kinh tập thể hàng mấy
chục đêm. Tín đồn nhà ông Khoản có phép lạ bay đi
khắp vùng. Người ta ở khắp nơi kéo nhau đến nhà
ông Khoản, khấn khứa vị thánh cụt đầu đến độ chen
nhau bẹp ruột. Cha xứ bèn nghĩ ra cái kế làm thùng
đựng tiền để bà con bổn đạo đóng góp cung phụng
thánh An-rê. Nghe nói tiền ấy thu được khá nhiều,
nhà thờ và chủ nhân chia nhau. Sau này, một lần
thắp hương trước tượng Phật, ông sư ấm chùa Lý Đào
thấy tượng đầu ông Tây bằng gỗ, râu ria tùm lum,
mắt nhìn không chớp, hoảng hồn la làng. Khi định
thần lại, sư ấm kéo cả vãi, cả tiểu vào chùa quỳ
xuống lạy đầu ông Tây như lạy tà, làm cả tuần cúng
bái. Người xóm đạo nghe tin, tới coi biết ngay là
đầu thánh An-rê nhà ông Khoản, bèn nói ngài bay
vào chùa giảng đạo cho Phật Thích Ca nghe. Ông Khoản,
cha xứ kéo cả họ đạo tới chùa, mang kiệu, xin sư
ấm cho rước đầu ngài về, nhập lại với thân đứng
bơ vơ suốt mấy tháng không đầu. Đám rước đầu ông
thánh đạo có cả sư ấm chap tay đi theo, với tiếng
cha cố hát tiếng Latinh, tiếng con chiên đọc kinh
vang cả góc trời.
Ngay bố mẹ tôi còn kinh ngạc vì sự thay đổi tính
nết của tôi, huống nữa người ngoài. Từ một đứa trẻ
quá quất và oái oăm đó, bỗng nhiên tôi lành như
con búp bê, dễ thương và đứng đắn đến độ người làng
còn phải nghi ngờ, cảnh giác. Tất nhiên, có nhiều
yếu tố làm thay đổi tâm tính tôi. Nhưng cái tác
động mạnh nhất, điều cải hóa tôi hữu hiệu nhất chính
là Oanh, người bạn gái cùng xóm, cùng học một trường
từ thuở tấm bé. Khi Oanh sang tuổi mười bốn, mái
tóc nàng bỗng dài kỳ lạ, đen óng ả có thể soi gương
được. Môi Oanh chưa hề đánh son mà lúc nào cũng
đỏ cháy như màu hoa lựu. Má nàng ửng hồng, cặp mắt
lúc nào cũng ươn ướt, lấp lánh, sâu hút còn hơn
cả một đời người. Oanh có một chiếc răng khểnh mà
thiếu nó, cô có thể mất đi hơn một nửa cái duyên
ngầm. Nhiều khi tôi trộm nghĩ một cách dông dài
rằng, nhờ chiếc răng khểnh ấy của nàng, mà tôi còn
có chỗ bám víu, để vịn vào, không phải trôi tuột
đi trong cái cõi đời như trò chơi leo cột mỡ này.
Đôi môi Oanh mỏng nhưng lạ là cô rất ít nói. Từ
khi sang tuổi mười ba, tôi đã thấy Oanh toàn nói
bằng mắt. Dường như mỗi tia nhìn của Oanh là một
tín hiệu, tôi đã học được bằng một phương pháp đặc
biệt của linh cảm, không cần qua cái miệng phiên
dịch. Sống mũi Oanh cao nhưng hơi ngắn, có người
đoán rời sau này sẽ khổ vì tình. Oanh càng lớn càng
đẹp, một vẻ đẹp hiền hậu, thùy mị của một thôn nữ
biết kết hợp với nét đẹp sắc sảo, nhạy cảm của cô
gái thị thành. Đến đây, chả giấu gì các bạn, tôi
xin khai thật là mình đã yêu Oanh không biết tự
khi nào. Tình yêu biến cải con người hơn mọi phép
lạ. Tmh yêu chính là động lực sống của tôi suốt
tuổi thơ đến tuổi trưởng thành. Hồi còn thiếu nhi,
chúng tôi kêu nhau lúc mày tao, lúc cậu tớ, lúc
Oanh Oanh Húng Húng.
Đến khi sang tuổi thanh niên, xưng hô với nhau
là gì cũng thật ngượng ngùng. Chúng tôi bèn cứ gọi
trống không cho tiện rằng có cuốn truyện mới của
Nguyễn Công Hoan hay lắm gởi cho để đọc đây. Hoặc
sáng mai nghỉ học về quê, có đi không? Hay mẹ gởi
lên cho ít trái na, ăn đi...
Tuổi mười bảy mười sáu ngày xưa sao đẹp vậy. Hai
đứa ngồi bên nhau trên băng ghế chiếc ca-nô đang
thả xuôi dòng, đã từng quen thân nhau từ hồi mới
tập đi, vậy mà vẫn không dám ngồi sát vào nhau,
vẫn để một kẽ hở đủ con mèo chui lọt. Chỉ còn khi
hành khách chen nhau, đẩy hai đứa sát vào nhau khiến
nàng dúm người lại như phải bỏng. Oanh mặc quần
lụa đen, áo cánh trắng, tóc kẹp đuôi gà, hai tay
ôm cặp sách để trong lòng, má đỏ ửng, mắt ngó lơ
cửa sổ con tàu. Tôi ngồi cạnh nàng, nửa phần sung
sướng hồi hộp, nửa phần ngây ngô, nghiêm trang,
mắt lúc nào cũng nhìn thẳng, đến mỏi cả cổ cũng
không dám quay ngang quay ngửa. Nếu lúc bấy giờ
người quen gặp chúng tôi, chắc chắc đoán hai đứa
giận nhau, vì cô ngoảnh đi đàng cô, cậu ngoảnh đi
đàng cậu. Trên dòng sông quê hương, chúng tôi đã
cùng lên xuống bao lần. Những làng xóm bên sông
với mái rạ màu đất, tháp chuông nhà thờ cao, khóm
tre gù lưng kẽo kẹt. Tháng sáu vào hè, chúng tôi
ra bờ lúa ngắm trăng buổi tối. Hai đứa cứ tần ngần
như khách lạ. Chỉ có trăng, có gió, có hương lúa
biết chúng tôi nghĩ gì. Đối với tôi suốt thời ấy,
mọi hình ảnh chính là Oanh hóa thân và ngược lại.
Cách mạng tháng Tám năm 1945, tất cả học sinh chúng
tôi đều tham gia đoàn biểu tình lao vào tòa thị
chính, cướp chính quyền từ tay Nhật Pháp. Rồi giặc
Pháp chiếm lại thành phố quê hương. Tôi chưa kịp
lấy bằng tú tài đã theo đoàn vệ quốc lên chiến khu
chống Pháp. Tôi mặc quân phục lính vệ quốc quân,
áo trấn thủ, mũ calô, đi giày đinh lộp cộp, vai
khoác súng trường đến tìm Oanh chia tay trong tiếng
đại bác ban ầm trời. Oanh trọ học trong một nhà
bà con tại khu phố nhỏ. Lúc ấy tối rồi, trời rét
như cắt, trăng non lờ nhờ trong sương, phố xá không
ánh điện. Thấy tôi đến, Oanh hớt hải chạy ra liền.
Nàng mặc một chiếc áo len mỏng, cổ quàng khăn vuông
màu tím, quần lụa Hà Đông, kéo chiếc guốc lộc cộc
hỏi trong hơi thở:
- Anh đi hả?
Tôi trả lời cộc lốc:
- Đi! Oanh nhìn đó, súng ống đạn dược đủ cả.
Chính ra, lúc ấy, tôi cần phải ôm lấy nàng, để
suốt đời không bị cái buổi tối buốt giá tháng mười
hai ấy theo ám ảnh giày vò mãi.
Không hiểu vì rét hay xúc động, tôi thấy Oanh run
lập cập.
Tôi đứng sát vào Oanh bên cạnh cái cột điện gãy
như kẻ chết đói, nói rất nhanh, hổn hển:
- Tạm biệt em.
Nói xong, tôi run bắn lên, như thể cục cao su bật
ra khỏi chỗ đứng. ấy là lần đầu tiên tôi kêu nàng
bằng em một cách nghiêm chỉnh và trang trọng như
không khí của những ngày tháng ấy.
Oanh nói như khóc trong tiếng gió bấc:
- Nhớ viết thư cho em.
Vừa nói Oanh vừa cầm tay tôi như nâng đỡ một đứa
bé.
Bàn tay nàng ấm áp như con chim trốn tuyết của
Pôn Galucô tôi vừa đọc, đã đậu vào tay tôi.
Trong đêm tối của chiến tranh và giá rét, tôi nắm
chặt lấy tay nàng, cúi xuống hôn ngấu nghiến vào
từng ngón tay búp măng tuyệt đẹp, rồi bỏ chạy như
thể một kẻ chết đói cướp để ăn. Tôi nghe tiếng Oanh
chạy đuổi theo sau lưng một đoạn mới chịu dừng lại,
để nhòa vào bóng tối của đêm tháng chạp biệt ly
rét đến nỗi, những thanh sắt bên đường han rỉ cũng
phải quằn quại lên, cong queo lên.
Chạy đến đầu phố, tôi ngoái lại, chìa tay ra vẫy,
nhưng chỉ có những tiếng nổ ghê rợn của đạn đại
bác, đạn moọc-chê của quân Pháp vạch tửng đường
đỏ lừ như máu từ phía sông ban vào thành phố đáp
lại.
hết: Chương 2, xem tiếp:
Chương 3

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|