Nguyễn Mông
Khôi
Theo
huyền sử nước ta, có 4 vị thần bất tử ( tứ bất tử
) là:Thần Tản Viên, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng
Tử và Bà Chúa Liễu Hạnh.
Vì bất tử, Bà đã giáng trần nhiều lần ở nhiều địa
phương vào những thời kỳ khác nhau, ở Thăng Long
làm công chúa, có khi làm thường dân ở Nam Định
rồi Thanh Hóa. Nhưng dù ở địa vị nào Bà luôn luôn
giúp người họan nạn khi cầu tới .Bà có công âm phù
triều đình, dẹp yên giặc giã giúp dân trừ dịch.
Do vậy, bà được tôn là Thánh Mẫu hay Mẫu Liễu và
được lập đền thờ ở nhiều nơi. Người dân Miền Nam
còn tin tưởng Chúa Liễu Hạnh cũng là bà Chúa Xứ
Núi Sam và bà Yang Ino Po Nagar ở Tháp Bà Nha Trang.
Câu chuyện truyền khẩu từ bao thế kỷ kể lại rằng,
Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng ở Thiên đình, lỡ
tay đánh rơi chén ngọc, bị đày xuống trần làm con
gái của vua Lê Thái Tôn (1434-1442 ), tên là công
chúa Giáng Tiên. Giáng Tiên lớn lên kết duyên với
Đào Lang. Sống chung được 3 năm thì về Trời. Nhưng
hạn hạ giới chưa hết lại phải phạt xuống cõi trần
làm con mt gia đình nông dân làng Vân Cát, Nam Định
rồi môt gia đình khác ở Phố
Cát, Thanh Hóa.
Khi đã về Cõi Trời, hồn bà Liễu Hạnh thường hiện
xuống thế gian. Có lần Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
( 1528-1613 ) và 2 người bạn đang chơi thuyền trên
Hồ Tây thì Bà ung dung bước vào rồi làm thơ xướng
họa. Kẻ tiên, người tục liên ngâm đắc chí. Họ Phùng
đã để lại những bài thơ rất hay trong ‘’ Phùng Công
Thi Tâp’’, ‘’Nghi Trai Thi Tập ‘’... viết bằng chữ
Hán.
Nhà văn Sơn Nam, do những sưu khảo từ lâu về vùng
đồng bằng Nam B, là người chủ trương ‘’ Nam Bô
Học ‘’ cho rằng bà Liễu Hạnh, bà Yang Ino Po Naga
ở Tháp Bà Nha Trang và bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc
là môt.
Tháp
Bà là một quần thể kiến trúc gồm nhiều ngôi tháp
Chăm được xây dựng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII
trên ngọn đồi đá hoa cương cao khoảng 30 mét tên
là Cù Lao cách thành phố Nha Trang 2 km về phía
Bắc. Khu tháp này hiện nay chỉ còn lại 4 cái, mỗi
tháp thờ một vị thần.
Nhiều
người thắc mắc những sưu khảo đó; vì tượng tháp
Bà ở Nha Trang do người Chiêm Thành xây khoảng thế
kỷ thứ 7. Năm 817 dưới triều vua Harivarman I, tháp
thờ Linga ( Linh Phù nam hay vị Thần Sáng Tạo thuc
Ấn Đô giáo ). Năm 918 dưới
triều vua Indravarman III, tháp bị cháy rồi được
sửa chữa và tượng được đúc lại bằng vàng. Đến năm
965, tượng Linga bị trôm,
nhà vua cho thay thế bằng tượng nữ thần Shiva bằng
đá mà đang được thờ ở tháp Bà bây giờ.
Miếu
Bà Chúa Xứ toạ lạc ở khu danh thắng Núi Sam, tại
chân núi thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc. Miếu
được lập vào đầu thế kỷ XIV (khoảng 1820 – 1825),
Đền
thờ bà Chúa Xứ núi Sam tỉnh Châu Đốc được xây khoảng
đầu thế kỷ 19 do phu nhân của ông Nguyễn văn Thọai
( Thoại Ngọc Hầu ), nhưng bức tượng bà Chúa Xứ thì
rất xưa và vẫn còn là môt
điều huyền bí. Năm 1938, ông Malleret, giám đốc
viện khảo cổ Sài gòn đến núi Sam, viếng miếu Bà
và xác nhận, pho tượng tạc từ thời Trung Cổ ( khoảng
gần hai ngàn năm ), nhiều nét tương tự các pho tượng
thời Bà La Môn của Ấn Đô,
bởi mái tóc dợn sóng, mũi cao. Pho tượng bằng đá
xanh, điêu khắc trong tư thế ngồi, chân trái co
vào, chân phải duỗi thẳng, tay phải đặt lên đầu
gối, tay trái chỏi ra sau. Sự tìm thấy tượng Bà
cũng là chuyện lạ. Xưa kia tọa lạc ở đỉnh núi Sam.
Quân Xiêm thường hay vượt biên giới sang cướp phá.
Chúng thấy pho tượng cổ, đẹp định mang về nước,
nhưng chỉ kéo xuống triền núi rồi nặng quá phải
bỏ lại. Khi giặc Xiêm rút, dân quanh vùng kéo cả
làng tới định mang tượng xuống, nhưng vẫn không
lay chuyển được. Họ cầu khấn; rồi được Bà nhập vào
môt cô gái, tự xưng là Bà
Chúa Xứ và truyền cho dân làng dùng 40 thiếu nữ
đồng trinh tắm rửa sạch sẽ Bà mới cho phép khiêng
về thờ.
Tục
thờ Đức Thánh Trần và Liễu Hạnh công chúa cũng được
phổ biến vào thời Hậu Lê
Như
vậy thì bức tượng ở Tháp Bà Nha Trang và tượng bà
Chúa Xứ Châu Đốc rõ ràng là những hình tượng không
giống người Việt. Nhưng mà, người dân ở đây đều
tin tưởng cả hai bà đều là hóa thân của Mẫu Liễu
hay bà Liễu Hạnh.
Những người ‘’ đồng bóng ‘’thì hoàn toàn tin tưởng
là bà chúa Liễu Hạnh, bà chúa Tháp Bà và Chúa Xứ
Châu Đốc chỉ là môt.Vì vậy;
trong lúc nhập đồng ( múa bóng ) thì bà Chúa phán
rằng :
‘’...Bà đi Châu Đốc,
Bà về Nam Vang.
Quê Bà ở tận Nha Trang...’’
( Chầu Văn, múa bóng )
Và; phần đông dân chúng miền Nam đều tin là sự hóa
thân của chúa Liễu Hạnh tựa hồ như bồ tát Quán Thế
Âm . Bồ tát sanh ở Đại Hàn là Thị Kính. Giáng trần
ở Việt Nam là Chúa Ba, chùa Hương. Tại Phổ Đà Sơn
Trung Quốc là môt
vị sư. Ở Tây Tạng là vị đương kim Đạt Lai Lạt Ma.
Vì vậy, khi hóa thân, bà Chúa Tháp Bà, bà Chúa Xứ
Châu Đốc không cần phải có dáng dấp người Việt.
Chúa
Liễu Hạnh giáng trần nhiều lần nên có nhiều ngày
vía, ngày giỗ khác nhau ở nhiều nơi; mà nơi nào
cũng thu hút được số đông dân chúng như ở phủ Tây
Hồ Hà Nôi, Phố Cát Thanh Hóa,
Núi Sam Châu Đốc... Nhưng ngày giỗ Bà được tổ chức
long trọng nhất và phản ảnh phong tục văn hóa lịch
sử nước ta là Hôi Phủ Giầy
ở Nam Định.
Phủ
Giầy (
Dày) là nơi thờ bà chúa Liễu Hạnh, thuộc xã Kim
Thái, huyện vụ Bản, cách thành phố Nam Định 15 km.
Hôi Phủ Giầy được coi là giỗ
Mẹ. Phủ Giầy xưa có tên là Kẻ Giầy. Từ khi bà Liễu
Hạnh được suy tôn là Mẫu Nghi Thiên Hạ, Chế Thắng
Hòa Diệu Đại Vương và được sắc phong là Thượng Đẳng
Tối Linh Thần thì Kẻ Giầy được đổi tên là Phủ Giầy.
Tuy nhiên có thuyết cho rằng cái tên Phủ Giầy bắt
nguồn từ sự tích bà Chúa Liễu giáng trần lần thứ
hai đã tặng cho nhà vua đương thời ( Triều Lê )
môt đôi giầy khi nhà vua ghé
thăm quê hương trần thế của Bà.
Hôi Phủ Giầy mở vào cuối xuân,
kéo dài 10 ngày từ mồng môt
đến mồng mười tháng ba âm lịch, ở xã Kim Thái, huyện
Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cả tháng trước ngày Hi, dân
chúng Nam Định và những vùng chung quanh nhắc nhở
nhau:
Còn Trời, còn nước, còn non,
Mồng năm rước Mẫu ta còn đi xem.
Ai về nhắn với chị em,
Bảo nhau dắt díu đi xem hôi
này.
Miếu
Bà Chúa Xứ toạ lạc ở khu danh thắng Núi Sam, tại
chân núi thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc. Miếu
được lập vào đầu thế kỷ XIV (khoảng 1820 – 1825),
Ở
lễ hôi có nhiều tiết mục phản
ảnh đến sinh hoạt của người dân: các cuôc
thi đô vật và các cuôc đấu
khác mang tinh thần thượng võ.Có nhiều tiết mục
nghi lễ và trò chơi như hát chèo, hát tuồng, hát
trống quân...Hồi trước năm 1945, cái trò chơi rất
thịnh hành mà nhiều người có máu cờ bạc ưa thích
là trò chơi ‘’ ba que xỏ lá ‘’. Người chủ trò (
Ba que xỏ lá ) thường là môt
thanh niên mặt mày láu cá, tay cầm 3 cái que. Môt
trong ba cái que có xỏ môt
chiếc lá ở phía dưới. Người chơi đặt tiền. Hễ kéo
ra đúng cái que có xỏ lá thì được tiền của chủ trò.
Nhưng chưa người nào ‘’ăn tiền’’ được người chủ
trò cho dù họ có bắt đúng cái que có xỏ lá thì chủ
trò dùng mt thủ thuật nhanh như cắt chuyển cái lá
sang que khác, nên khách mất tiền toi cho chủ trò
hay cho gã ‘’ ba que xỏ lá’’.
Khu
di tích Phủ Giầy nằm ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản,
tỉnh Nam Ðịnh là tên gọi chung cho các di tích thờ
bà chúa Liễu Hạnh. Ðây là quần thể di tích xây trong
một khu vực địa lý có nhiều dấu vết của người tiền
sử, với những di vật văn hóa thời kỳ đồ đá. Phủ
Giầy là một hiện tượng tín ngưỡng dân gian thuần
Việt đã xuất hiện và tồn tại gần 4 thế kỷ nay.