Liên hệ

 
 


 

 

LỊCH SỬ VIỆT NAM

VẠN HẠNH THIỀN SƯ

NGUYỄN MỘNG KHÔI

Từ Khúc Hạo dấy nghiệp đến Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, nền tự chủ của dân tôc Việt Nam mới thành hình, nên mọi qui mô chánh trị, kinh tế quân sự văn hóa còn phôi thai, ấu trĩ. nhưng đến triều Lý, đời sống dân tôc ta bành trướng ngày môt mạnh. Nhà Lý cầm vận mệnh dân tôc Việt Nam 216 năm, nối tiếp 9 đời. Sự nghiệp đáng kể là vĩ đại.

Tượng thiền sư Lý Vạn Hạnh tai Chùa Tiêu có tên là chùa Thiên Tâm còn gọi là Tiêu Sơn tự, chùa nằm trên lưng chừng núi Tiêu. Nay thuộc xã Tương Giang - huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh.

Người có công lớn nhất để dựng lên nhà Lý là thiền sư Vạn Hạnh. Ngài đã làm môt cuôc đảo chánh thật êm đẹp, có thể nói là vô tiền khoáng hậu để đưa vương quyền từ nhà Tiền Lê vào tay nhà Lý. Ngài còn chủ trương dời kinh đô của hai triều đại Đinh Lê từ Hoa Lư lên Thăng Long. Rồi từ đó các vua nhà Lý đã thúc đẩy dân tôc đi khá xa trên con đường tiến hóa.

Thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn ( Nguyễn Vạn Hạnh ), người làng Cổ Pháp, không rõ ngày sinh, nhưng ngài mất ngày Rằm tháng 5 năm Mậu Ngọ, Thuận Thiên thứ 8 ( 30-06-1018 ), thọ khoảng 80-90 tuổi. Ngài được phong làm Quốc sư và được đổi họ vua ( họ Nguyễn thành họ Lý) khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế. Ngài xuất gia năm 21 tuổi, thọ giới Đại sư Đinh Huệ ở chùa Lục Tổ, làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh là chùa Tiêu Sơn bây giờ.
(Năm 1993, dân Đình Bảng và phật tử địa phương đã dựng môt bức tượng trên đỉnh núi Tiêu Sơn, mô tả ngài đang ngồi thiền, mắt trông về kinh thành Thăng Long ( Hà nôi ), như tâm nguyện suốt đời hướng về nơi đế đô này. )

Thiền sư Vạn Hạnh thông minh từ nhỏ, nghiên cứu sách Bách luận, học khắp Tam giáo ,và chuyên tập pháp Tổng Trì Tam Ma Địa ( Dharani Samadhi ). Thiền sư lại giỏi khoa đôn giáp, nên có khả năng biết trước mọi việc. Được vua Lê Đại Hành tôn kính. Năm 981, nhà Tống đem quân đánh nước ta. Quân Tống mở 2 mặt trận: Bọn Hầu Nhân Bảo ( Hou Ren Bao ) tiến đánh Lạng Sơn, Lưu Trừng ( Liu Cheng ) đem thủy quân tới Bạch Đằng Giang. Vua hỏi Thiền Sư, nếu đánh thì thắng hay bại? Ngài đáp:
‘’Nôi trong vòng 3-7 ngày thì giặc sẽ lui..’’ Quả nhiên, Hầu Nhân Bảo bị giết ở Chi Lăng. Lưu Trừng thấy lục quân tan vỡ thì vôi vàng đem thủy quân rút về Tàu. Khi Lê Đại Hành muốn đem quân vào đất Chiêm để cứu sứ giả bị bắt giữ, nhưng nhà vua còn do dự, thì thiền sư bảo đây là cơ hôi tốt, không nên bỏ qua. Sau quả đúng. Trận ấy quân Lê thành công và cứu được sứ giả.

Đền Ứng Thiên , làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh nay là Hà Bắc.

Vạn Hạnh cũng là thầy địa lý tài ba. Ngài thấy Hoa Lư không phải là nơi đất tốt cho môt kinh đô của môt vương quốc hùng mạnh, nên khi Lý Công Uẩn lên ngôi ở Hoa Lư thì ngài chọn cho nhà vua môt kinh thành mới ở Đại La, là thành Thăng Long ( Hà nôi ) sau này.

Và; Ngài còn là tướng số đại tài, môt hôm thiền sư đến chùa Cổ Pháp thăm thầy Khánh Vân. Khi đó Lý Công Uẩn mới 3 tuổi đang làm con nuôi cho thầy. Vạn Hạnh thấy cậu bé, biết ngay là người có quý tướng. Ngài bảo sư Khánh Vân ‘’ Đứa bé này không phải là người thường! Lớn lên nó có thể giải nguy, gỡ rối , làm bậc minh chủ trong thiên hạ. Bốn năm sau, khi Công Uẩn tròn 7 tuổi, được Vạn Hạnh nhận làm đệ tử. Ngài đã chuẩn bị với rất nhiều tâm huyết trong hàng chục năm để biến cậu bé, rồi thanh niên Lý Công Uẩn thành môt vị quân vương bồ tát, đem chánh pháp để xây dựng quốc gia từ bi, nhân bản hưng thịnh và vinh quang. Lý Công Uẩn được trang bị môt nền giáo dục toàn bích, kết hợp dân tôc tính, Phật giáo tính. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết:
’Triều đại nhà Lý là triều đại thuần nhất trong lịch sử nước ta. Đó là nhờ ảnh hưởng Phật giáo’’

"Lý gia linh thạch". Mặt sau bia quay vào phía núi khắc chữ Hán nhỏ, tạm dịch là:"Chùa Thiên Tâm có Lý Vạn Hạnh (là người trụ trì tăng viện người làng Cổ Pháp (nay thuộc làng Đình Bảng - huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh).

Việc nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê đã được thiền sư tiên đoán trong hàng chục bài sấm thi, sấm ngữ. Nhân sự kiện cây gạo chùa Minh Châu, làng Dương Lôi bị sét đánh làm gãy môt cành. Dân làng mời ngài đến xem. Nhìn những hình, những vết chi chít nham nhở ở chỗ cây gãy, ngài đọc ngay mt bài sấm thi, trong đó có câu:
‘’Hòa đao môc lạc.
‘’Thập bát tử thành...
Mọi người nghe xong còn đang ngạc nhiên nhìn nhau, chưa hiểu ra sao, thì thiền sư đã dùng phép triết tự,sở trường của mình để giải nghĩa rằng: -‘’Hòa đao môc’’ là chữ Lê. ‘’Hòa đao môc lạc’’ là nhà Lê mất.
-‘’Thập bát tử’’ là chữ Lý. ‘’Thập bát tử thành’’ nhà Lý được.
Đó là điềm trời báo trước hay lời tiên đoán có chủ ý của thiền sư? Chúng ta chỉ biết xã hôi bấy giờ, nhà tiền Lê đã quá ư mục nát. Vua Lê Long Đĩnh đôc ác tham tàn. Lòng dân chán ghét, thì bài sấm như vậy có tác dung lớn lao vào công việc vận đng cho Lý Công Uẩn giành lấy ngôi báu.

Có thể thiền sư Vạn Hạnh vừa là người đa mưu túc trí, vừa có tâm đức. Ngài đã kết hợp khéo léo Phật giáo và Chính trị. Phật giáo và văn học trong vai trò người hướng dẫn cho sự nghiệp của Lý Công Uẩn.

Quê bà Phạm Thị, mẹ đẻ ra vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) Chùa Tiêu là một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta từ xưa, thuộc hương Dịch Bảng, lộ Bắc Giang, nay là xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Vạn Hạnh thiền sư có thế lực trong triều tiền Lê và là môt quân sư tin cẩn của vua Lê Đại Hành. Ngài đã đưa Lý Công Uẩn vào đi quân bảo vệ hoàng thành. Lý Công Uẩn nhờ thông minh và hăng say nên nhanh chóng nắm được bính quyền trong chức vụ Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi vua Đại Hành mất, Long Đĩnh nối ngôi, tính tình bạo ngược, nổi tiếng là hiếu sát nhất trong lịch sử nước ta. Sách vở còn ghi lại:
-‘’Hễ làm thịt các gia súc như trâu, bò, dê, gà, lợn.... bao giờ cũng tự tay chọc tiết, rồi mới trao cho nhà bếp. Kết tôi tử hình ai thì Long Đĩnh tìm cách nào tàn ác hơn hết như sai lấy rơm quấn vào tôi nhân, rồi châm lửa đốt. Hễ kẻ xấu số gần chết, Long Đĩnh cho mtô tên phường chèo người Tàu tên là Lương Như Tâm cầm dao cắt những mối rơm để tôi nhân không chết ngay. Long Đĩnh lấy làm thú lắm! Khi đi đánh dẹp bắt được giặc, ông cho đem ra bờ sông, sai người làm thủy lao ( nhà tù dưới nước ), nhốt tù vào đấy để khi nước thủy triều dâng lên làm cho họ chết sặc, hoặc có khi bắt họ leo lên cây rồi cho người đốn gốc.

Chùa Thiên Tâm, trụ trì tăng viện là sư Vạn Hạnh, người Cổ Pháp,( Phía tiền đình đã được tôn tạo lại năm 1999)

Năm 1008, đi dẹp Man Đông, bắt được quân Man, bèn sai người đánh đập để giải trí. Quân Man bị đòn đau quá kêu gào, đem cả tên húy của vua cha ra chửi thì Long Đĩnh lấy làm vui vẻ vì khi mất Vua Lê Đại Hành truyền ngôi cho người anh thái tử Long Việt mà không truyền ngôi cho ông. Có lần nghe sông Ninh Giang có nhiều rắn, Long Đĩnh bắt trói người vào mạn thuyền, bơi qua bơi lại để rắn cắn chết mới thôi. Môt trò chơi đôc ác nữa là Long Đĩnh cho người róc mía lên đầu nhà sư Quách Ngang. Thỉnh thoảng phải giả vờ lỡ tay sao cho dao bập vào đầu sư chảy máu thì được ông khen ngợi. Trong những buổi chầu Long Đĩnh thường nằm( ngọa triều), vì bệnh trĩ nặng và bệnh hoa liễu. Tệ hai hơn, hễ các quan có điều gì nói thì tên phường chèo đứng bên pha trò hay nhại lại để làm trò cười...
Sự đôc ác cùng tư cách của Long Đĩnh như vậy làm cả đình thần cùng dân chúng đều chán ngán và oán hờn tôt đô, nên bất chấp mọi nguy hiểm, quân sư Vạn Hạnh đã vận đông dư luận quần chúng và các quan trong triều để chờ cơ hôi đưa Lý Công Uẩn lên ngôi môt cách êm thấm, thì đúng lúc và cũng là cơ may của dân tôc, Ngọa triều chết đôt ngôt năm 24 tuổi. Khi Ngọa Triều chết, thì các hòang tử còn nhỏ, không thể quyết đoán được việc nước. Đình thần bèn tôn Lý Công Uẩn lên làm vua và nhà Lý khai sáng sự nghiệp từ đây.

Là môt người thầy của Lý Công Uẩn. Quốc sư Vạn Hạnh có môt tầm nhìn xa cho sự nghiệp lâu dài của nhà Lý và tương lai của đất nước, nên đã khuyên nhà vua đang đóng đô ở Hoa Lư dời đô lên Thăng Long.

Cố đô Hoa Lư: Chỉ có thể THỦ, chứ không thể CÔNG.

Trung tâm cố đô Hoa Lư thuôc khu vực đền Đinh và đền Lê thờ Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, bây giờ là xã Trường Yên ( Tràng An ), huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Thời nhà Tần ( Qin, 221-206 trước CN ) ở Trung Quốc, vùng Hoa Lư là Tượng Quận, đời Ngô Tấn ( Wu Jin, 265-279 ), miền đất này có tên là Châu Giao. Tương đương với thời Lương ( Liang,520-557 ) có tên là châu Đại Hoàng. Đến đầu nhà Tống ( Song, 960-1010 ) mới đổi là Hoa Lư.
Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư là vùng núi non kỳ tú nhưng hiểm trở đề làm kinh đô. Tai đây, ông cho xây cung điện, đặt triều nghi, đắp lũy, đào hào dựa vào thế núi, làm thành môt công trình phòng ngự kiên cố như môt pháo đài biệt lập với bên ngoài. Phía tây kinh đô là dãy núi đá vôi hình vòng cung, chạy từ bắc xuống nam. Phía đông có núi Côt Cờ. Núi cao trên 200 thước, như môt côt cờ thiên nhiên khổng lồ. Phía đông nam có Ghềnh Tháp là môt mỏm núi thấp, nhô ra sát ngòi Sào Khê. Mỏm núi này, tương truyền là nơi vua Đinh, vua Lê thường ngự lãm duyệt thủy quân. Phía bắc Hoa Lư có sông Hoàng Long chảy ra sông Đáy, để từ đó nhập vào hệ thống Nhị Hà, có thể ngược lên miền núi hoặc xuôi ra biển. Chính bằng đường thủy này, từ đất Tàu vào sông Bạch Đằng, qua sông Luc, sông Đào ở Phủ Lý, theo sông Đáy mà các sứ giả đời Tống đã tới Hoa Lư để yết vua Lê Đại Hành năm 990.
Hoa Lư quả thật là môt quân thành vững chắc được bao bọc bởi núi và sông. Để tiện việc giao dịch với bên ngoài, vua Đinh cho bắc 2 chiếc cầu ở phía đông và phía tây kinh đô là cầu Đông và cầu Rền:
’Trên trời thì có cầu vồng
‘’Dưới đất thì có cầu Đông, cầu Rền.

Ngày nay 2 cây cầu lịch sử đó vẫn còn. Cầu bằng đá, chỉ dài chừng 30 mét với ngững phiến đá dài và nặng hàng chục tấn thì đó là những kỳ công bấy giờ.

Hoa Lư là kinh đô của nước Ðại Cồ Việt có cách đây gần 10 thế kỷ thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội gần 100 km về phía Nam

Hoa Lư đến thời Lê Đại Hành lại được xây thêm nhiều cung điện lông lẫy, góp phần cho kinh đô ngày thêm hoàn chỉnh, trong đó có những cung điện xây côt dát vàng, mái lợp bằng ngói bạc. Sử gia Ngô Sĩ Liên có ghi:
‘’Năm Giáp Thân thứ năm (984), Lê Đại Hành lập nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiên ở núi Đại Vân, côt điện dát vàng bạc làm nơi chầu; Bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử hoa. Bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, rồi là lầu Đại Vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân làm nơi vua Ngự, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lôc lợp ngói bạc’’

Khi vua Đinh mất,vua Lê Đại Hành và quần thần đem long thể ngài an táng ở trên ngọn núi Mã Yên Sơn, đối diện với núi Đại Vân. Lăng mô vua Đinh, bây giờ là môt thắng cảnh. Hàng năm có hàng vạn du khách tới thăm. Muốn lên Lăng phải leo 265 bậc đá. Đứng trên tầm cao của núi Mã Yên, ta sẽ quan sát cả môt vùng non nước rông lớn và hùng vĩ, nhìn về hướng nào cũng là môt bức tranh sinh đông toàn bích hiện ra. Hai khu đền Đinh, Lê ở phía dưới có thể thu gọn vào ống kính mà trong đó vẫn hiện ra từng mái cong, côt trụ, sân gạch, lối đi, cổng tam quan cổ kính, xen lẫn bên những lùm cây xanh biếc. Những đền này được xây dựng ngay khi nhà Lý dời đô lên Thăng Long. Trải qua năm tháng, hai đền cũ không còn. Đến đầu thế kỷ 17, Phong quận công Bùi Thời Trung cho xây lại 2 ngôi đền trên nền trên 2 cung điện xưa, nhưng mặt tiền của đền đều quay về hướng đông ( lúc đầu quay về hướng bắc )

Động Thiên Tôn

Từ Hoa Lư đi đường bô về phía đông khoảng nửa cây số là thôn Áng Ngũ, nơi mà các quan trong nước về đây, dừng lại để sửa sang triều y trước khi vào kinh chầu vua. Ra khỏi Áng Ngũ khoảng nửa dặm là Quèn Ổi, là môt tram gác lớn. Tiếp tục theo hướng đông khoảng 500 mét, phía tay trái là đông Thiên Tôn. Đông rất đẹp, là kho chứa muối của quốc gia bấy giờ. Đông nằm trong núi Dũng Dương, thờ thần Trấn Vũ. Tương truyền khi Đinh Bô Lĩnh đem quân đi dẹp các sứ quân có mang lễ vật tới đây để cầu thần phù hô. Sau khi thu phục được đất nước, lên ngôi hoàng đế. Nhà vua cho sửa đền và đông; rồi sắc phong cho ngài Trấn Vũ là An Quốc Tôn Thần ( Vị Thần gìn giữ đất nước được bình an )

Bản đồ tỉnh Ninh Bình

Thị xã Ninh Bình, cách đó 10 cây số, phía đông nam, có nhiều danh thắng như Đông Tiên thờ Phật. Vùng Tam Cốc Bích Đông được mệnh danh là vịnh Hạ Long trên cạn. Đền Thái Vi, nơi Trần Thái Tôn ẩn tu. Núi Ngọc Mỹ Nhân ( núi Cánh Diều ). Núi Dục Thúy ( núi Non Nước ) có nhiều di tích lịch sử. Có 42 bản văn bia qua các đời bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ. Người ta còn đọc được thánh chỉ của Thượng hoàng Trần Minh Tôn vào niên hiệu Thiệu Phong ( Kỷ Sửu 1349 ) và mấy bài thơ của vua Lê Thánh Tôn, vua Tự Đức...Ngoài ra còn hàng trăm bài thơ khác của các thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Trãi, Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tản Đà vv..
Bài Dục Thúy Sơn của Nguyễn Trãi có câu:
‘’Liên hoa phù thủy thượng
‘’Tiên cảnh trụy trần ai.
Nghĩa là:
‘’Mặt nước nổi hoa sen
‘’Cảnh tiên nơi cõi tục
Cũng núi Dục Thúy, cách nay hơn 2 thế kỷ, khi vua Quang Trung ra Bắc để đánh đuổi quân nhà Thanh đã điểm binh ở đây.

Đền Vua Đinh

Như vậy cố đô Hoa Lư là nơi có qui mô , đẹp đẽ, uy nghi, lông lẫy, được lồng với quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Nhưng đất Hoa Lư mà hai triều Đinh và Tiền Lê ở thế không ổn định. Loạn không phải từ ngoài đánh vào mà từ trong dòng họ thống trị, từ nôi bô triều đình mà ra. Cảnh vua tôi, cha con, anh em, dòng họ luôn nghi kỵ nhau, giành giật ngôi báu của nhau, ám hại nhau liên tục. Đinh Liễn giết em là Hạng Lang lúc Đinh Tiên Hoàng còn sống; Rồi Đỗ Thích là bề tôi trong cung, giết cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn. Nhân khi con Đinh Tiên Hoàng còn nhỏ mà quân Tống tiến đánh Lạng Sơn. Triều đình vôi vàng tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên làm vua. Lê Hoàn trị vì được 24 năm thì mất. Các con của ông đánh lẫn nhau để dành ngai vàng: Long Đĩnh giết em là Long Vịêt mới làm vua được 3 ngày để tự mình lên ngôi. Chỉ trong 42 năm trị vì mà có tới 5 đời vua của 2 triều đại ( nhà Đinh 2 đời vua được 13 năm. Nhà tiền Lê có 3 đời được 29 năm ).

Chùa Non Nước

Cảnh tượng đó khiến cả quốc sư và Lý Thái Tổ đều có tâm trạng hoang mang, phải đối phó. Quốc sư thuyết phục vua dời đô từ Hoa Lư lên Thăng Long càng sớm càng tốt. Chính Lý Thái Tổ cũng nhận thấy việc chọn đế đô của hai triều Đinh Lê là có tính chất phòng ngự, cố thủ, thiển cận. Ông đã phán trong chiếu dời đô:
’Hai triều Đinh Lê vẫn theo ý riêng mình...Cứ đóng yên đô thành ở đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau lòng về việc đó! Không thể không dời đô.’’
Lý Thái Tổ chọn đất Thăng Long để tính kế muôn đời cho con cháu, nơi trung tâm của đất nước lúc bấy giờ, nơi có thế đất bằng phẳng, không bị thiên tai đe dọa, nơi có sản vật phong phú, nơi có tụ hôi bốn phương đất nước....

Thành Hà Nội
Tháng 7 năm Thuận Thiên nguyên niên (1010 ). Lý Thái Tổ và triều đình quyết định dời đô. Quốc Sư Vạn Hạnh là người trông nom việc xây cất Thăng Long thành. Ngài cho đào những hồ rông, những con kinh lớn, xây những đê điều vĩ đại và dựng nên nước Đại Việt đôc lập, nhân bản hưng thịnh và vinh quang. Thăng Long có 5 cửa ô với 5 đường phân giác là những con đường chính chạy thẳng đến trung tâm, nơi có hồ Từ Bi, bây giờ là hồ Hoàn Kiếm. Giữa hồ Từ Bi là tháp Phật Tích, tháp Rùa ngày nay. Chung quanh hồ nào là cung điện vua, nào là tháp Bảo Thiên, chùa Thiên Phúc, điện Thiên Trường ( khu phố Nhà Thờ bây giờ ) vv....Nhìn vào thế địa lý của thành Thăng long, chúng ta không khỏi thán phục quốc sư Vạn Hạnh:

Cầu Thê Húc qua đền Ngọc Sơn ( Hồ Hoàn Kiếm)

-Cái đường vòng chạy quanh nôi thành biểu tượng cho thái cực (thái cực là nguyên lý cùng tôt của tạo hóa sinh âm dương )
-Hai nhánh sông Tô Lịch bên hữu có hồ Lãng Bạc ( hồ Tây) là úng thủy. Bên tả thông ra sông Nhị Hà là lưu thủy. Đó là biểu tượng cho lưỡng nghi (trời, đất ).
-Cung điện vua ở giữa có 4 mặt đều nhau là tứ tượng.
-Tất cả các đường ấy đều bắt đầu từ vòng thái cực mà đi chi chít không biết bao nhiêu, ấy là biến hóa vô cùng vậy.
Trong nôi thành, cung điện cũng sắp đặt theo 8 hướng để ứng với 8 quẻ ( bát quái ) là : càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Mỗi hướng có môt ý nghĩa, mỗi hướng có môt sự xây dựng theo ý nghĩa đó.

Cửa Bắc thành HN

(Giữa năm 2002, trên khu đất 62-64 phố Trần Phú, phía tây nam thành cổ Hà Nôi, các nhà khảo cổ Việt Nam đã phát hiện môt hệ thống đường thành xưa; rồi từ đó đến nay họ đang tiếp tục đào bới, đã tìm được hàng triệu cổ vật như: bình vôi, tô, chén đĩa, đồ gốm men nâu với kỹ thuật ám họa đặc biệt đời Lý Trần cùng nhiều vật liệu trang trí đặc thù như đầu chim phượng, đầu rồng, uyên ương, lá đề vv...

Từ ngày 5 đến 9 tháng 6,2004, theo lời mời của viện Khoa học xã hôi Việt Nam, đoàn chuyên gia Nhật Bản đã khảo sát, nghiên cứu các dấu tích kiến trúc hoàng thành Thăng Long. Giáo Sư Kumikazu Ueino trưởng phái đoàn xác nhận :’’ Đây là nơi của hoàng tôc, của vua và gia đình thuôc Lý triều’’( GS. Inoue thuôc viện nghiên cứu quốc gia Nara, ông là môt nhà khảo cổ lừng danh đã nghiên cứu 30 năm ở kinh thành Nara ( Nhật Bản ), Trung Quốc, Triều Tiên..).

Trong gần 1000 lịch sử , Thăng Long đã thay đổi nhiều tên gọi:
-Tên đổi từ Đại La ra Thăng Long ( triều Lý )
-Từ Thăng Long ra Đông Đô ( Đời Trần )
-Từ Đông Đô ra Đông Quan ( nhà Minh )
-Từ Đông Quan ra Đông Kinh ( triều Lê )
-Từ Đông Kinh ra Bắc Thành ( Tây Sơn )
- Từ Bắc Thành ra Hà Nôi ( triều Nguyễn )
Thời nhà Tùy, nhà Đường cai trị thì Đại La có tên là Tống Bình và Long Đỗ.

Tìm Lại Dấu Vết Thời Thăng Long

Đất Thăng Long quả thật là chốn ‘’ ngàn năm văn vật ‘’, nhưng có thể nói, có kinh đô Hoa Lư ( thuôc xã Trường Yên hay Tràng An ) thì mới có Thăng Long sau đó. Hoa Lư là hình thành bước đầu phát triển môt nền văn minh Hoa Lư, môt tiền văn hóa Hoa Lư có thể coi là thời tiền văn hóa Thăng Long rực rỡ về sau
‘’Chẳng thơm cũng kể hoa nhài
‘’Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Thiền sư Vạn Hạnh là người đã góp công xây dựng 2 triều đại Đinh Lê ở Hoa Lư, Triều Lý ở Thăng Long. Thiền sư cũng là người nối truyền tâm ấn thế hệ thứ 12 dòng thiền Nam Phương ( dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi ). Như vậy ngài vẫn phục vụ cho đời mà không quên đạo. Điều kỳ diệu là sau khi đã hoàn thành trọn ven sự nghiệp lớn lao vô song này, giữa lúc đại thịnh của dân tôc Việt và đạo Phật Việt, thiền sư đã ra đi và để lại cho đời 4 câu thơ siêu thoát và bay mất hút trong cõi vô cùng của lịch sử:

(Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc Xuân vinh, Thu hựu khô
Nhâm vận thịnh suy vô bể úy
Thịnh suy như lệ thảo đầu phô.)

Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối Xuân tươi, Thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương Đông.
Ngô Tất Tố dịch

Đời sau,Vua Lý Nhân Tông có làm bài kệ để truy tặng:

Vạn Hạnh dụng tam thế (tế)
Chân phù cổ sấm ký
Hương quan danh cổ pháp
Trụ tích trấn vương kỳ.

Tạm dịch:

Vạn Hạnh dụng ba cõi
Chân thật lời sấm xưa
Rạng danh quê Cổ Pháp
Gậy Phật giữ nghiệp xưa.

Nguyễn Mộng Khôi

CÙNG MỘT TÁC GIẢ:

Những Kẻ Bị Cắt Tai ( Giác Chánh - NMK)

TRI TÚC

CHÙA TRẤN-QUỐC Ở HỒ-TÂY QUA LICH SỬ & THI VĂN

Hội ngộ với văn học và lịch sử

CỎ CÂY CŨNG CÓ LINH HỒN

Không khí không mất tiền mua

TÂM BÊNH SANH THÂN BÊNH

ẤN GIÁO-PHẬT GIÁO-HỒI GIÁO

Lý Thường Kiệt

ĐỘNG HOA VÀNG

Sức Mạnh Của Cầu Nguyện

Thành Cổ Loa-Tình Mỹ Châu

BA NGÀY GIẢI PHÓNG THĂNG LONG

BẢN DỊCH THƠ TRỊNH CỐC- NGUYỄN MỘNG KHÔI

Vu Lan & Cúng Cô Hồn

VẠN HẠNH THIỀN SƯ

Bà Chúa Liễu Hạnh

Thăng trầm của chữ Nho qua bài thơ ÔNG ĐỒ

Ai Lên Xứ Lạng Cùng Anh

Dương Vân Nga :Từ chính sử đến truyền thuyết

LINCOLN VÀ KENNEDY



.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ | Đọc Truyện