| LỊCH
SỬ VIỆT NAM

VẠN
HẠNH THIỀN SƯ
NGUYỄN
MỘNG KHÔI
Từ
Khúc Hạo dấy nghiệp đến Dương Đình Nghệ, Kiều Công
Tiễn, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, nền
tự chủ của dân tôc Việt Nam mới thành hình, nên
mọi qui mô chánh trị, kinh tế quân sự văn hóa còn
phôi thai, ấu trĩ. nhưng đến triều Lý, đời sống
dân tôc ta bành trướng ngày môt mạnh. Nhà Lý cầm
vận mệnh dân tôc Việt Nam 216 năm, nối tiếp 9 đời.
Sự nghiệp đáng kể là vĩ đại.
Tượng
thiền sư Lý Vạn Hạnh tai Chùa Tiêu có tên là chùa
Thiên Tâm còn gọi là Tiêu Sơn tự, chùa nằm trên
lưng chừng núi Tiêu. Nay thuộc xã Tương Giang -
huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh.
Người
có công lớn nhất để dựng lên nhà Lý là thiền sư
Vạn Hạnh. Ngài đã làm môt cuôc đảo chánh thật êm
đẹp, có thể nói là vô tiền khoáng hậu để đưa vương
quyền từ nhà Tiền Lê vào tay nhà Lý. Ngài còn chủ
trương dời kinh đô của hai triều đại Đinh Lê từ
Hoa Lư lên Thăng Long. Rồi từ đó các vua nhà Lý
đã thúc đẩy dân tôc đi khá xa trên con đường tiến
hóa.
Thiền
sư Vạn Hạnh họ Nguyễn ( Nguyễn Vạn Hạnh ), người
làng Cổ Pháp, không rõ ngày sinh, nhưng ngài mất
ngày Rằm tháng 5 năm Mậu Ngọ, Thuận Thiên thứ 8
( 30-06-1018 ), thọ khoảng 80-90 tuổi. Ngài được
phong làm Quốc sư và được đổi họ vua ( họ Nguyễn
thành họ Lý) khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế.
Ngài xuất gia năm 21 tuổi, thọ giới Đại sư Đinh
Huệ ở chùa Lục Tổ, làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh
là chùa Tiêu Sơn bây giờ.
(Năm 1993, dân Đình Bảng và phật tử địa phương
đã dựng môt bức tượng trên đỉnh núi Tiêu Sơn, mô
tả ngài đang ngồi thiền, mắt trông về kinh thành
Thăng Long ( Hà nôi ), như tâm nguyện suốt đời hướng
về nơi đế đô này. )
Thiền
sư Vạn Hạnh thông minh từ nhỏ, nghiên cứu sách Bách
luận, học khắp Tam giáo ,và chuyên tập pháp Tổng
Trì Tam Ma Địa ( Dharani Samadhi ). Thiền sư lại
giỏi khoa đôn giáp, nên có khả năng biết trước mọi
việc. Được vua Lê Đại Hành tôn kính. Năm 981, nhà
Tống đem quân đánh nước ta. Quân Tống mở 2 mặt trận:
Bọn Hầu Nhân Bảo ( Hou Ren Bao ) tiến đánh Lạng
Sơn, Lưu Trừng ( Liu Cheng ) đem thủy quân tới Bạch
Đằng Giang. Vua hỏi Thiền Sư, nếu đánh thì thắng
hay bại? Ngài đáp:
‘’Nôi trong vòng 3-7 ngày thì giặc sẽ lui..’’ Quả
nhiên, Hầu Nhân Bảo bị giết ở Chi Lăng. Lưu Trừng
thấy lục quân tan vỡ thì vôi vàng đem thủy quân
rút về Tàu. Khi Lê Đại Hành muốn đem quân vào đất
Chiêm để cứu sứ giả bị bắt giữ, nhưng nhà vua còn
do dự, thì thiền sư bảo đây là cơ hôi tốt, không
nên bỏ qua. Sau quả đúng. Trận ấy quân Lê thành
công và cứu được sứ giả.
Đền
Ứng Thiên , làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh nay
là Hà Bắc.
Vạn
Hạnh cũng là thầy địa lý tài ba. Ngài thấy Hoa Lư
không phải là nơi đất tốt cho môt kinh đô của môt
vương quốc hùng mạnh, nên khi Lý Công Uẩn lên ngôi
ở Hoa Lư thì ngài chọn cho nhà vua môt kinh thành
mới ở Đại La, là thành Thăng Long ( Hà nôi ) sau
này.
Và; Ngài còn là tướng số đại tài, môt hôm thiền
sư đến chùa Cổ Pháp thăm thầy Khánh Vân. Khi đó
Lý Công Uẩn mới 3 tuổi đang làm con nuôi cho thầy.
Vạn Hạnh thấy cậu bé, biết ngay là người có quý
tướng. Ngài bảo sư Khánh Vân ‘’ Đứa bé này không
phải là người thường! Lớn lên nó có thể giải nguy,
gỡ rối , làm bậc minh chủ trong thiên hạ. Bốn năm
sau, khi Công Uẩn tròn 7 tuổi, được Vạn Hạnh nhận
làm đệ tử. Ngài đã chuẩn bị với rất nhiều tâm huyết
trong hàng chục năm để biến cậu bé, rồi thanh niên
Lý Công Uẩn thành môt vị quân vương bồ tát, đem
chánh pháp để xây dựng quốc gia từ bi, nhân bản
hưng thịnh và vinh quang. Lý Công Uẩn được trang
bị môt nền giáo dục toàn bích, kết hợp dân tôc tính,
Phật giáo tính. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết:
‘’Triều đại nhà Lý là triều đại thuần nhất trong
lịch sử nước ta. Đó là nhờ ảnh hưởng Phật giáo’’
"Lý
gia linh thạch". Mặt sau bia quay vào phía
núi khắc chữ Hán nhỏ, tạm dịch là:"Chùa Thiên
Tâm có Lý Vạn Hạnh (là người trụ trì tăng viện người
làng Cổ Pháp (nay thuộc làng Đình Bảng - huyện Tiên
Sơn - tỉnh Bắc Ninh).
Việc
nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê đã được thiền sư tiên
đoán trong hàng chục bài sấm thi, sấm ngữ. Nhân
sự kiện cây gạo chùa Minh Châu, làng Dương Lôi bị
sét đánh làm gãy môt cành. Dân làng mời ngài đến
xem. Nhìn những hình, những vết chi chít nham nhở
ở chỗ cây gãy, ngài đọc ngay mt bài sấm thi, trong
đó có câu:
‘’Hòa đao môc lạc.
‘’Thập bát tử thành...
Mọi người nghe xong còn đang ngạc nhiên nhìn nhau,
chưa hiểu ra sao, thì thiền sư đã dùng phép triết
tự,sở trường của mình để giải nghĩa rằng: -‘’Hòa
đao môc’’ là chữ Lê. ‘’Hòa đao môc lạc’’ là nhà
Lê mất.
-‘’Thập bát tử’’ là chữ Lý. ‘’Thập bát tử thành’’
nhà Lý được.
Đó là điềm trời báo trước hay lời tiên đoán có chủ
ý của thiền sư? Chúng ta chỉ biết xã hôi bấy giờ,
nhà tiền Lê đã quá ư mục nát. Vua Lê Long Đĩnh đôc
ác tham tàn. Lòng dân chán ghét, thì bài sấm như
vậy có tác dung lớn lao vào công việc vận đng cho
Lý Công Uẩn giành lấy ngôi báu.
Có
thể thiền sư Vạn Hạnh vừa là người đa mưu túc trí,
vừa có tâm đức. Ngài đã kết hợp khéo léo Phật giáo
và Chính trị. Phật giáo và văn học trong vai trò
người hướng dẫn cho sự nghiệp của Lý Công Uẩn.
Quê
bà Phạm Thị, mẹ đẻ ra vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn)
Chùa Tiêu là một trong những trung tâm Phật giáo
của nước ta từ xưa, thuộc hương Dịch Bảng, lộ Bắc
Giang, nay là xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh.
Vạn Hạnh thiền sư có thế lực trong triều tiền Lê
và là môt quân sư tin cẩn của vua Lê Đại Hành. Ngài
đã đưa Lý Công Uẩn vào đi quân bảo vệ hoàng thành.
Lý Công Uẩn nhờ thông minh và hăng say nên nhanh
chóng nắm được bính quyền trong chức vụ Tả Thân
Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi vua Đại Hành mất, Long
Đĩnh nối ngôi, tính tình bạo ngược, nổi tiếng là
hiếu sát nhất trong lịch sử nước ta. Sách vở còn
ghi lại:
-‘’Hễ làm thịt các gia súc như trâu, bò, dê, gà,
lợn.... bao giờ cũng tự tay chọc tiết, rồi mới trao
cho nhà bếp. Kết tôi tử hình ai thì Long Đĩnh tìm
cách nào tàn ác hơn hết như sai lấy rơm quấn vào
tôi nhân, rồi châm lửa đốt. Hễ kẻ xấu số gần chết,
Long Đĩnh cho mtô tên phường chèo người Tàu tên
là Lương Như Tâm cầm dao cắt những mối rơm để tôi
nhân không chết ngay. Long Đĩnh lấy làm thú lắm!
Khi đi đánh dẹp bắt được giặc, ông cho đem ra bờ
sông, sai người làm thủy lao ( nhà tù dưới nước
), nhốt tù vào đấy để khi nước thủy triều dâng lên
làm cho họ chết sặc, hoặc có khi bắt họ leo lên
cây rồi cho người đốn gốc.
Chùa
Thiên Tâm, trụ trì tăng viện là sư Vạn Hạnh, người
Cổ Pháp,( Phía tiền đình đã được tôn tạo lại năm
1999)
Năm
1008, đi dẹp Man Đông, bắt được quân Man, bèn sai
người đánh đập để giải trí. Quân Man bị đòn đau
quá kêu gào, đem cả tên húy của vua cha ra chửi
thì Long Đĩnh lấy làm vui vẻ vì khi mất Vua Lê Đại
Hành truyền ngôi cho người anh thái tử Long Việt
mà không truyền ngôi cho ông. Có lần nghe sông Ninh
Giang có nhiều rắn, Long Đĩnh bắt trói người vào
mạn thuyền, bơi qua bơi lại để rắn cắn chết mới
thôi. Môt trò chơi đôc ác nữa là Long Đĩnh cho người
róc mía lên đầu nhà sư Quách Ngang. Thỉnh thoảng
phải giả vờ lỡ tay sao cho dao bập vào đầu sư chảy
máu thì được ông khen ngợi. Trong những buổi chầu
Long Đĩnh thường nằm( ngọa triều), vì bệnh trĩ nặng
và bệnh hoa liễu. Tệ hai hơn, hễ các quan có điều
gì nói thì tên phường chèo đứng bên pha trò hay
nhại lại để làm trò cười...
Sự đôc ác cùng tư cách của Long Đĩnh như vậy làm
cả đình thần cùng dân chúng đều chán ngán và oán
hờn tôt đô, nên bất chấp mọi nguy hiểm, quân sư
Vạn Hạnh đã vận đông dư luận quần chúng và các quan
trong triều để chờ cơ hôi đưa Lý Công Uẩn lên ngôi
môt cách êm thấm, thì đúng lúc và cũng là cơ may
của dân tôc, Ngọa triều chết đôt ngôt năm 24 tuổi.
Khi Ngọa Triều chết, thì các hòang tử còn nhỏ, không
thể quyết đoán được việc nước. Đình thần bèn tôn
Lý Công Uẩn lên làm vua và nhà Lý khai sáng sự nghiệp
từ đây.
Là
môt người thầy của Lý Công Uẩn. Quốc sư Vạn Hạnh
có môt tầm nhìn xa cho sự nghiệp lâu dài của nhà
Lý và tương lai của đất nước, nên đã khuyên nhà
vua đang đóng đô ở Hoa Lư dời đô lên Thăng Long.
Cố
đô Hoa Lư: Chỉ có thể THỦ, chứ không thể CÔNG.
Trung
tâm cố đô Hoa Lư thuôc khu vực đền Đinh và đền Lê
thờ Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, bây giờ là xã
Trường Yên ( Tràng An ), huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh
Bình.
Thời nhà Tần ( Qin, 221-206 trước CN ) ở Trung Quốc,
vùng Hoa Lư là Tượng Quận, đời Ngô Tấn ( Wu Jin,
265-279 ), miền đất này có tên là Châu Giao. Tương
đương với thời Lương ( Liang,520-557 ) có tên là
châu Đại Hoàng. Đến đầu nhà Tống ( Song, 960-1010
) mới đổi là Hoa Lư.
Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư là vùng núi non kỳ tú
nhưng hiểm trở đề làm kinh đô. Tai đây, ông cho
xây cung điện, đặt triều nghi, đắp lũy, đào hào
dựa vào thế núi, làm thành môt công trình phòng
ngự kiên cố như môt pháo đài biệt lập với bên ngoài.
Phía tây kinh đô là dãy núi đá vôi hình vòng cung,
chạy từ bắc xuống nam. Phía đông có núi Côt Cờ.
Núi cao trên 200 thước, như môt côt cờ thiên nhiên
khổng lồ. Phía đông nam có Ghềnh Tháp là môt mỏm
núi thấp, nhô ra sát ngòi Sào Khê. Mỏm núi này,
tương truyền là nơi vua Đinh, vua Lê thường ngự
lãm duyệt thủy quân. Phía bắc Hoa Lư có sông Hoàng
Long chảy ra sông Đáy, để từ đó nhập vào hệ thống
Nhị Hà, có thể ngược lên miền núi hoặc xuôi ra biển.
Chính bằng đường thủy này, từ đất Tàu vào sông Bạch
Đằng, qua sông Luc, sông Đào ở Phủ Lý, theo sông
Đáy mà các sứ giả đời Tống đã tới Hoa Lư để yết
vua Lê Đại Hành năm 990.
Hoa Lư quả thật là môt quân thành vững chắc được
bao bọc bởi núi và sông. Để tiện việc giao dịch
với bên ngoài, vua Đinh cho bắc 2 chiếc cầu ở phía
đông và phía tây kinh đô là cầu Đông và cầu Rền:
‘’Trên trời thì có cầu vồng
‘’Dưới đất thì có cầu Đông, cầu Rền.
Ngày nay 2 cây cầu lịch sử đó vẫn còn. Cầu bằng
đá, chỉ dài chừng 30 mét với ngững phiến đá dài
và nặng hàng chục tấn thì đó là những kỳ công bấy
giờ.
Hoa
Lư là kinh đô của nước Ðại Cồ Việt có cách đây gần
10 thế kỷ thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh
Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội gần 100 km về phía
Nam
Hoa
Lư đến thời Lê Đại Hành lại được xây thêm nhiều
cung điện lông lẫy, góp phần cho kinh đô ngày thêm
hoàn chỉnh, trong đó có những cung điện xây côt
dát vàng, mái lợp bằng ngói bạc. Sử gia Ngô Sĩ Liên
có ghi:
‘’Năm Giáp Thân thứ năm (984), Lê Đại Hành lập
nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiên ở núi Đại
Vân, côt điện dát vàng bạc làm nơi chầu;
Bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử hoa.
Bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc,
rồi là lầu Đại Vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân
làm nơi vua Ngự, bên cạnh điện Trường Xuân dựng
điện Long Lôc lợp ngói bạc’’
Khi
vua Đinh mất,vua Lê Đại Hành và quần thần đem long
thể ngài an táng ở trên ngọn núi Mã Yên Sơn, đối
diện với núi Đại Vân. Lăng mô vua Đinh, bây giờ
là môt thắng cảnh. Hàng năm có hàng vạn du khách
tới thăm. Muốn lên Lăng phải leo 265 bậc đá. Đứng
trên tầm cao của núi Mã Yên, ta sẽ quan sát cả môt
vùng non nước rông lớn và hùng vĩ, nhìn về hướng
nào cũng là môt bức tranh sinh đông toàn bích hiện
ra. Hai khu đền Đinh, Lê ở phía dưới có thể thu
gọn vào ống kính mà trong đó vẫn hiện ra từng mái
cong, côt trụ, sân gạch, lối đi, cổng tam quan cổ
kính, xen lẫn bên những lùm cây xanh biếc. Những
đền này được xây dựng ngay khi nhà Lý dời đô lên
Thăng Long. Trải qua năm tháng, hai đền cũ không
còn. Đến đầu thế kỷ 17, Phong quận công Bùi Thời
Trung cho xây lại 2 ngôi đền trên nền trên 2 cung
điện xưa, nhưng mặt tiền của đền đều quay về hướng
đông ( lúc đầu quay về hướng bắc )
Động
Thiên Tôn
Từ
Hoa Lư đi đường bô về phía đông khoảng nửa cây số
là thôn Áng Ngũ, nơi mà các quan trong nước về đây,
dừng lại để sửa sang triều y trước khi vào kinh
chầu vua. Ra khỏi Áng Ngũ khoảng nửa dặm là Quèn
Ổi, là môt tram gác lớn. Tiếp tục theo hướng đông
khoảng 500 mét, phía tay trái là đông Thiên Tôn.
Đông rất đẹp, là kho chứa muối của quốc gia bấy
giờ. Đông nằm trong núi Dũng Dương, thờ thần Trấn
Vũ. Tương truyền khi Đinh Bô Lĩnh đem quân đi dẹp
các sứ quân có mang lễ vật tới đây để cầu thần phù
hô. Sau khi thu phục được đất nước, lên ngôi hoàng
đế. Nhà vua cho sửa đền và đông; rồi sắc phong cho
ngài Trấn Vũ là An Quốc Tôn Thần ( Vị Thần gìn giữ
đất nước được bình an )
Bản
đồ tỉnh Ninh Bình
Thị
xã Ninh Bình, cách đó 10 cây số, phía đông nam,
có nhiều danh thắng như Đông Tiên thờ Phật. Vùng
Tam Cốc Bích Đông được mệnh danh là vịnh Hạ Long
trên cạn. Đền Thái Vi, nơi Trần Thái Tôn ẩn tu.
Núi Ngọc Mỹ Nhân ( núi Cánh Diều ). Núi Dục Thúy
( núi Non Nước ) có nhiều di tích lịch sử. Có 42
bản văn bia qua các đời bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ
quốc ngữ. Người ta còn đọc được thánh chỉ của Thượng
hoàng Trần Minh Tôn vào niên hiệu Thiệu Phong (
Kỷ Sửu 1349 ) và mấy bài thơ của vua Lê Thánh Tôn,
vua Tự Đức...Ngoài ra còn hàng trăm bài thơ khác
của các thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Trãi, Lê Quí
Đôn, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tản Đà vv..
Bài Dục Thúy Sơn của Nguyễn Trãi có câu:
‘’Liên hoa phù thủy thượng
‘’Tiên cảnh trụy trần ai.
Nghĩa là:
‘’Mặt nước nổi hoa sen
‘’Cảnh tiên nơi cõi tục
Cũng núi Dục Thúy, cách nay hơn 2 thế kỷ, khi vua
Quang Trung ra Bắc để đánh đuổi quân nhà Thanh đã
điểm binh ở đây.
Đền
Vua Đinh
Như
vậy cố đô Hoa Lư là nơi có qui mô , đẹp đẽ, uy nghi,
lông lẫy, được lồng với quang cảnh thiên nhiên hùng
vĩ. Nhưng đất Hoa Lư mà hai triều Đinh và Tiền Lê
ở thế không ổn định. Loạn không phải từ ngoài đánh
vào mà từ trong dòng họ thống trị, từ nôi bô triều
đình mà ra. Cảnh vua tôi, cha con, anh em, dòng
họ luôn nghi kỵ nhau, giành giật ngôi báu của nhau,
ám hại nhau liên tục. Đinh Liễn giết em là Hạng
Lang lúc Đinh Tiên Hoàng còn sống; Rồi Đỗ Thích
là bề tôi trong cung, giết cả Đinh Tiên Hoàng và
Đinh Liễn. Nhân khi con Đinh Tiên Hoàng còn nhỏ
mà quân Tống tiến đánh Lạng Sơn. Triều đình vôi
vàng tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên làm vua.
Lê Hoàn trị vì được 24 năm thì mất. Các con của
ông đánh lẫn nhau để dành ngai vàng: Long Đĩnh giết
em là Long Vịêt mới làm vua được 3 ngày để tự mình
lên ngôi. Chỉ trong 42 năm trị vì mà có tới 5 đời
vua của 2 triều đại ( nhà Đinh 2 đời vua được 13
năm. Nhà tiền Lê có 3 đời được 29 năm ).
Chùa
Non Nước
Cảnh
tượng đó khiến cả quốc sư và Lý Thái Tổ đều có tâm
trạng hoang mang, phải đối phó. Quốc sư thuyết phục
vua dời đô từ Hoa Lư lên Thăng Long càng sớm càng
tốt. Chính Lý Thái Tổ cũng nhận thấy việc chọn đế
đô của hai triều Đinh Lê là có tính chất phòng ngự,
cố thủ, thiển cận. Ông đã phán trong chiếu dời đô:
‘’Hai triều Đinh Lê vẫn theo ý riêng mình...Cứ
đóng yên đô thành ở đây, khiến cho triều đại không
được lâu bền, số phận ngắn ngủi, trăm họ phải hao
tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau
lòng về việc đó! Không thể không dời đô.’’
Lý Thái Tổ chọn đất Thăng Long để tính kế muôn đời
cho con cháu, nơi trung tâm của đất nước lúc bấy
giờ, nơi có thế đất bằng phẳng, không bị thiên tai
đe dọa, nơi có sản vật phong phú, nơi có tụ hôi
bốn phương đất nước....
Thành
Hà Nội
Tháng
7 năm Thuận Thiên nguyên niên (1010 ). Lý Thái Tổ
và triều đình quyết định dời đô. Quốc Sư Vạn Hạnh
là người trông nom việc xây cất Thăng Long thành.
Ngài cho đào những hồ rông, những con kinh lớn,
xây những đê điều vĩ đại và dựng nên nước Đại Việt
đôc lập, nhân bản hưng thịnh và vinh quang. Thăng
Long có 5 cửa ô với 5 đường phân giác là những con
đường chính chạy thẳng đến trung tâm, nơi có hồ
Từ Bi, bây giờ là hồ Hoàn Kiếm. Giữa hồ Từ Bi là
tháp Phật Tích, tháp Rùa ngày nay. Chung quanh hồ
nào là cung điện vua, nào là tháp Bảo Thiên, chùa
Thiên Phúc, điện Thiên Trường ( khu phố Nhà Thờ
bây giờ ) vv....Nhìn vào thế địa lý của thành Thăng
long, chúng ta không khỏi thán phục quốc sư Vạn
Hạnh:
Cầu
Thê Húc qua đền Ngọc Sơn ( Hồ Hoàn Kiếm)
-Cái
đường vòng chạy quanh nôi thành biểu tượng cho thái
cực (thái cực là nguyên lý cùng tôt của tạo hóa
sinh âm dương )
-Hai nhánh sông Tô Lịch bên hữu có hồ Lãng Bạc (
hồ Tây) là úng thủy. Bên tả thông ra sông Nhị Hà
là lưu thủy. Đó là biểu tượng cho lưỡng nghi (trời,
đất ).
-Cung điện vua ở giữa có 4 mặt đều nhau là tứ tượng.
-Tất cả các đường ấy đều bắt đầu từ vòng thái cực
mà đi chi chít không biết bao nhiêu, ấy là biến
hóa vô cùng vậy.
Trong nôi thành, cung điện cũng sắp đặt theo 8 hướng
để ứng với 8 quẻ ( bát quái ) là : càn, khảm, cấn,
chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Mỗi hướng có môt ý nghĩa,
mỗi hướng có môt sự xây dựng theo ý nghĩa đó.
Cửa
Bắc thành HN
(Giữa
năm 2002, trên khu đất 62-64 phố Trần Phú, phía
tây nam thành cổ Hà Nôi, các nhà khảo cổ
Việt Nam đã phát hiện môt hệ thống đường thành xưa;
rồi từ đó đến nay họ đang tiếp tục đào bới, đã tìm
được hàng triệu cổ vật như: bình vôi, tô, chén đĩa,
đồ gốm men nâu với kỹ thuật ám họa đặc biệt đời
Lý Trần cùng nhiều vật liệu trang trí đặc thù như
đầu chim phượng, đầu rồng, uyên ương, lá đề vv...
Từ
ngày 5 đến 9 tháng 6,2004, theo lời mời của viện
Khoa học xã hôi Việt Nam, đoàn chuyên gia Nhật Bản
đã khảo sát, nghiên cứu các dấu tích kiến trúc hoàng
thành Thăng Long. Giáo Sư Kumikazu Ueino trưởng
phái đoàn xác nhận :’’ Đây là nơi của hoàng tôc,
của vua và gia đình thuôc Lý triều’’( GS. Inoue
thuôc viện nghiên cứu quốc gia Nara, ông là môt
nhà khảo cổ lừng danh đã nghiên cứu 30 năm ở kinh
thành Nara ( Nhật Bản ), Trung Quốc, Triều Tiên..).
Trong
gần 1000 lịch sử , Thăng Long đã thay đổi nhiều
tên gọi:
-Tên đổi từ Đại La ra Thăng Long ( triều Lý )
-Từ Thăng Long ra Đông Đô ( Đời Trần )
-Từ Đông Đô ra Đông Quan ( nhà Minh )
-Từ Đông Quan ra Đông Kinh ( triều Lê )
-Từ Đông Kinh ra Bắc Thành ( Tây Sơn )
- Từ Bắc Thành ra Hà Nôi ( triều Nguyễn )
Thời nhà Tùy, nhà Đường cai trị thì Đại La có tên
là Tống Bình và Long Đỗ.
Tìm
Lại Dấu Vết Thời Thăng Long
Đất
Thăng Long quả thật là chốn ‘’ ngàn năm văn vật
‘’, nhưng có thể nói, có kinh đô Hoa Lư ( thuôc
xã Trường Yên hay Tràng An ) thì mới có Thăng Long
sau đó. Hoa Lư là hình thành bước đầu phát triển
môt nền văn minh Hoa Lư, môt tiền văn hóa Hoa Lư
có thể coi là thời tiền văn hóa Thăng Long rực rỡ
về sau
‘’Chẳng thơm cũng kể hoa nhài
‘’Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Thiền
sư Vạn Hạnh là người đã góp công xây dựng 2 triều
đại Đinh Lê ở Hoa Lư, Triều Lý ở Thăng Long. Thiền
sư cũng là người nối truyền tâm ấn thế hệ thứ 12
dòng thiền Nam Phương ( dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu
Chi ). Như vậy ngài vẫn phục vụ cho đời mà không
quên đạo. Điều kỳ diệu là sau khi đã hoàn thành
trọn ven sự nghiệp lớn lao vô song này, giữa lúc
đại thịnh của dân tôc Việt và đạo Phật Việt, thiền
sư đã ra đi và để lại cho đời 4 câu thơ siêu thoát
và bay mất hút trong cõi vô cùng của lịch sử:
(Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc Xuân vinh, Thu hựu khô
Nhâm vận thịnh suy vô bể úy
Thịnh suy như lệ thảo đầu phô.)
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối Xuân tươi, Thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương Đông.
Ngô Tất Tố dịch
Đời
sau,Vua Lý Nhân Tông có làm bài kệ để truy tặng:
Vạn
Hạnh dụng tam thế (tế)
Chân phù cổ sấm ký
Hương quan danh cổ pháp
Trụ tích trấn vương kỳ.
Tạm
dịch:
Vạn
Hạnh dụng ba cõi
Chân thật lời sấm xưa
Rạng danh quê Cổ Pháp
Gậy Phật giữ nghiệp xưa.
Nguyễn
Mộng Khôi
CÙNG MỘT TÁC GIẢ:
Những
Kẻ Bị Cắt Tai
( Giác Chánh - NMK)
TRI
TÚC
CHÙA
TRẤN-QUỐC Ở HỒ-TÂY QUA LICH SỬ & THI VĂN
Hội ngộ với văn học và lịch sử
CỎ
CÂY CŨNG CÓ LINH HỒN
Không
khí không mất tiền mua
TÂM
BÊNH SANH THÂN BÊNH
ẤN
GIÁO-PHẬT GIÁO-HỒI GIÁO
Lý
Thường Kiệt
ĐỘNG
HOA VÀNG
Sức Mạnh Của Cầu Nguyện
Thành
Cổ Loa-Tình Mỹ Châu
BA
NGÀY GIẢI PHÓNG THĂNG LONG
BẢN DỊCH THƠ TRỊNH CỐC- NGUYỄN
MỘNG KHÔI
Vu Lan & Cúng Cô Hồn
VẠN
HẠNH THIỀN SƯ
Bà
Chúa Liễu Hạnh
Thăng trầm của chữ Nho qua
bài thơ ÔNG ĐỒ
Ai Lên Xứ Lạng Cùng Anh
Dương
Vân Nga :Từ chính sử đến truyền thuyết
LINCOLN
VÀ KENNEDY

|