Nguyên
văn BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO (âm Hán)
Bình
ngô đại cáo diễn nghĩa
Nguyễn
Trãi, ngôi sao Khuê của văn hóa Việt Nam
Đọc Bình Ngô
Đại Cáo
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Kể những thời
đại nước Việt Nam mất quyền tự chủ và chịu ách thống
trị của ngoại bang, thì những năm thuộc nhà Minh (1414-1427),
tuy chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng lại là
những năm mà dân chúng đã phải chịu đựng nhiều lầm than
khổ nhục. Năm bính tuất (1406) Minh Thành-Tổ, mượn cớ
giúp vua nhà Trần dẹp sự tiếm nghịch của Hồ Qúi-Ly,
sai Thành quốc-công là Chu Năng làm đại tướng, cùng
với hai phó tướng là Tân thành-hầu Trương Phụ và Tây
bình-hầu Mộc Thạnh tuyển binh làm hai đạo sang đánh
An-Nam. Khi tả quân từ Quảng Tây đến Long Châu thì đại
tướng Chu Năng qua đời và Trương Phụ lên làm thống lĩnh,
tiến quân đánh lấy cửa Ba Lụy, tức là Nam quan bây giờ,
rồi tiến sang phía tây bắc, về mé sông Cầu. Từ Vân Nam,
Mộc Thạnh chuyển quân theo đường Mông Tự sang đánh lấy
cửa Phủ Lĩnh thuộc tỉnh Tuyên-Quang rồi tiến về phía
Sông Thao để hội ở Bạch Hạc với đạo quân của Trương
Phụ. Phó tướng Mộc Thạnh là người nhiều mưu lược, nhưng
lại dè dặt trong việc dụng binh. Trong khi ấy thì Trương
Phụ là người tham bạo, đi đến đâu là tàn sát, thây người
xếp thành núi, người chết rồi còn nấu thịt để lấy dầu.
Mặt khác quân xâm lăng nhà Minh còn chiêu dụ người bản
xứ ra làm tay sai, nhận những chức quan nhỏ để cùng
chúng vơ vét bạc vàng, bắt đàn bà con gái để đưa về
Tầu. Người dân, tuy oán hận Hồ Qúi-Ly, nhưng cũng còn
luyến tiếc nhà Trần, và cảm thấy nỗi nhục vong quốc
nên vẫn còn có nhiều nơi nổi lên phù trợ hậu duệ vua
Trần để chống quân xâm lăng. Trương Phụ và Mộc Thạnh
phải hai lần kéo quân sang nước ta, quân Minh hung hãn
đánh dẹp từ địa đầu quan ải cho đến tận đất Hoá châu.
Tháng chín năm qúi tỵ (1413), Trương Phụ dẫn quân vào
Thuận Hoá, phá được tàn quân nhà Hậu Trần, vị vua cuối
cùng là Trần Qúi Khoách, cùng với những bô tướng trung
kiên như Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy phải
chạy vào ẩn núp trong rừng núi nhưng sau đó đều bị bắt,
và trên đường bị giải về Yên Kinh vua tôi đều tuẫn tiết,
mang cái chết báo đền cho non sông.
Sau khi chiếm trọn được lãnh thổ, bình
định được hai châu Thuận Hóa và Tân Bình ở cực nam đất
nước, giáp với Chiêm Thành, Trương Phụ làm sổ kiểm tra
dân đinh, đặt quan cai trị, coi giang sơn gấm vóc của
nước ta như vẫn còn là Giao châu đời nhà Đường khi xưa.
Tháng tám năm giáp ngọ (1414) Trương Phụ và Mộc Thạnh
về Tàu đem theo tiền bạc vơ vét được và một số đông
phụ nữ bị ép buộc phải đi theo. Trong thời gian lệ thuôïc
nhà Minh tiếp theo đó (1414-1427), dưới sự cai trị thật
dã man và tàn nhẫn của bọn tham quan Lý Bân và Mã Kỳ
được cử sang thay cho Trương Phụ, dân ta bị sách nhiễu
trăm đường khổ sở. Những chổ có mỏ vàng, mỏ bạc thì
dân bị đốc thúc đi khai mỏ, thật là cực nhọc. Miền rừng
núi thì người sơn cước bị lùa vào rừng, tìm ngà voi,
sừng tê giác, săn bắn, đặt bẫy để bắt những loài chim
qúy, những thú vật hiếm hoi để đưa về Tầu, dễ gây ra
diệt chủng cho nhiều loài muông thú. Trong khi ấy thì
lại có những người bản xứ, tuy cũng đã theo đòi nghiên
bút, biết đôi chữ nghĩa, nhưng vì tham danh lợi, không
cần liêm sỉ, ra làm quan với nhà Minh, ỷ thế vào giặc
để tham nhũng bóc lột dân lành. Vào thời đại dân tình
cực khổ, lòng người sầu oán, sĩ phu càng thấy tâm hồn
ưu uất khi đọc lại mấy câu thơ cuối trong bài Thuật
Hoài của liệt sĩ Đặng Dung
"Quốc thù vị phục, đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền, đái nguyệt ma"
tạm dịch là
"Thù nước chưa đền, đầu sớm bạc,
Dưới trăng mài kiếm, đã bao phen."
Nhưng đất nước ta, qua cơn bĩ cực lại tới tuần thái
lai. Nhờ vận nước trở lại hanh thông, vị anh hùng áo
vải ở Lam Sơn là Lê Lợi, vào mùa xuân năm mậu tuất (1418)
đã dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương, truyền
hịch khắp nơi kể tội nhà Minh và kêu gọi người dân đồng
lòng hiệp sức đuổi quân xâm lăng tàn bạo ra khỏi bờ
cõi của non sông. Sau mười năm gian lao vất vả, Bình
Định Vương nhờ được chính nghĩa, dùng sức yếu mà thắng
được thế giặc mạnh, phá tan quân địch ở Tây Kinh, rồi
kéo quân về uy hiếp Đông Đô, làm khiếp vía Chinh Di
tướng quân là Vương Thông do Minh Đế cử sang cứu viện.
Trong trận đánh cuối cùng, quân Minh lại tăng viện theo
hai ngả, dùng Chinh Lỗ phó tướng quân Liễu Thăng theo
đường Quảng Tây và Chinh Nam đại tướng quân Mộc Thạnh
theo đường Vân Nam, những tưởng phen này lại phá thành
dẹp lũy, đem bản đồ đất Giao châu về Minh triều dâng
hiến. Nào ngờ quân của Bình Định Vương, đao mài lưỡi
cho sắc, mũi thương nung cho nhọn, quân sĩ hăng say
quyết lòng tử chiến với địch, ở trận Chi Lăng Liễu Thăng
bị đại bại, để rồi tử vong tại Mã Yên Sơn, tướng nhà
Minh thì Lương Minh tử trâïn, Lý Khánh đâm cổ tự vẫn.
Đám tàn quân do đô đốc Thôi Tụ và thượng thư Hoàng Phúc
thu thập, kéo nhau chạy về Lạng Giang cũng bị những
hổ tướng của Bình Định Vương là Lê Khôi và Nguyễn Xí
đem quân thiết kỵ đuổi theo truy kích và vây bắt để
rồi kẻ dập đầu tạ lỗi, người qùy gối đầøu hàng. Bình
Định Vương, lấy nhân nghĩa để thu phục lòng người nên
mở đường cho Vương Thông dâng biểu về vua Tuyên Tông
nhà Minh để xin cầu hoà. Đến tháng chạp năm Đinh Mùi
(1427), Vương y lời hội ước, tha chết cho quân Minh,
cấp cho thủy quân 500 chiếc thuyền và giao cho bọn Phương
Chính và Mã Kỳ quản lĩnh để dương buồm ngược về Bắc
phương, và cùng một lúc thả 2 vạn quân sĩ đã ra hàng
cho Tham tướng nhà Minh là Mã Anh chấp lãnh, rồi đưa
qua sông Nhị Hà để lục tục kéo về Tầu cùng với chủ tướng
Vương Thông đi đoạn hậu. Đuổi được quân thù ra ngoài
bờ cõi, toàn dân Việt đã hoan ca mở một kỷ nguyên mới,
tự chủ cho giang sơn.
Bình Ngô Đại Cáo
Sau khi đã dẹp xong nạn xâm lăng, đánh
đuổi quân Minh trở về phương bắc, Vương ra lệnh cho
công thần Nguyễn Trãi viết bản "Bình Ngô Đại Cáo"
tại bờ sông Hồng, trong tư dinh Bồ Đề để tuyên cáo với
quốc dân rằng can qua nay đã hết, quốc gia bắt đầu một
thời đại bình trị. Bản văn viết từ năm 1427, cho tới
nay đã trải qua gần 6 thế kỷ mà vẫn lưu truyền lại như
là một áng văn chương tuyệt tác, nói lên tinh thần bất
khuất của người dân Việt, khi đọc lên lại thấy từ chương
hào hùng đậm tình dân, nghĩa nước, ý nghĩa lại xâu xa
đềø cập tới những lý thuyết khoa học cao siêu như đề
phòng muông thú tuyệt chủng, bảo vệ môi sinh, những
điều mà các nước tiền tiến trên hoàn vũ phải sang hậu
bán thế kỷ thứ hai mươi mới đề cập đến.
Giờ đây, vào đầu thiên niên kỷ hai ngàn,
khi mà vì vận nước, hơn hai triệu người dân Viêït đã
phải sống lưu vong, dàn trải ở hầu hêùt mọi quốc gia
trên thế giới, khi mà giới trẻ Việt sống ở nước người
khao khát được trở về nguồn, tìm tòi học hỏi để biết
đến nền văn hoá dân tộc, đọc những trang sử hào hùng
của giòng giống Lạc Long để gây niềm tin và tìm lấy
hướng đi cho cuộc đời, thì sự truyền bá những áng cổ
văn siêu việt như "Hịch Tướng Sĩ Văn" của
đạïi nguyên soái Trần Hưng Đạo hay "Bình Ngô Đại
Cáo" của nhà văn hào thượng đẳng Nguyễn Trãi là
một điều rất cần thiết. Cũng vì nghĩ như vậy mà ở San
Jose, vào miền Bắc Cali, một "Ban Phổ Biến Văn
Hoá Cổ Truyền Việt Nam" đã ra đời, dưới sự hướng
dẫn của Bà Trùng Quang, một vị nữ lưu đã tới tuổi chín
mươi mà vẫn còn gắng công sức đảm đương thụ ủy một công
trình văn hoá rất là hệ trọng. Ban tu thư này có bẩy
vị, gồm toàn những danh sĩ đã có nhiều công lao đóng
góp về văn hóa và giáo dục. Ngoài nữ sĩ Trùng Quang
và hai vị đã vào hàng trưởng thượng là giáo sư thạc
sĩ Nguyễn Cao Hách, cựu khoa trưởng luật khoa Viện đại
học Sài Gòn và nhà thơ uyên bác Hà Thượng Nhân, ban
văn hoá còn có thêm qúy ông Đỗ Quang Trị, Trường Giang,
Vũ Quang và Đỗ Doãn Quế. Cuốn sách đầu tiên của ban
phổ biến văn hoá cổ truyền của dân tộc đưa ra là cuốn
"Phụ Chú Bình Ngô Đại Cáo". Đây là một công
trình rất mực hàn lâm và đầy đủ để giới thiệu bản hùng
văn tuyệt phẩm của Nguyễn Trãi. Sau lời tựa, cuốn sách
được mở đầu bằng văn bản Hán tự "Bình Ngô Đại Cáo",
chụp từ "Ức Trai Tập" in trên giấy bản được
lưu trữ tại thư viện quốc gia Pháp ở Ba Lê. Cùng với
nguyên bản Hán tự có kèm theo phần phiên âm và phiên
dịch cho người đương thời theo tân học hiểu được lời
văn và dụng ý của người xưa. Ban văn hoá lại có sáng
kiến độc đáo là in bản Hán văn và những phần phiên âm
và phiên dịch trên một cuốn thư để làm thành một bức
tranh, có thêm nét bút son thư họa của họa sĩ Vũ Hối,
để khi treo trên tường trông rất trang trọng và cổ kính.
Đi cùng với bức tranh, ban tu thư đã sưu tầm khá đầy
đủ những tài liệu liên hệ đến áng văn "Bình Ngô
Đại Cáo" và thiên tài Nguyễn Trãi để in thành một
tập sách dầy 162 trang và cùng phổ biến với một giá
tượng trưng như là một món quà văn học cho cộng đồng
Việt Nam ở hải ngoại. Trong cuốn sách, ngoài phần Hán
tự được in theo mộc bản do nhà Phúc Khê khắc năm Mậu
Thìn (1868) là năm Tự Đức thứ 21, lại có bản Hán văn
đã được chép trong tập "Hoàng Việt Văn Tuyển"
và in trong cuốn Việt Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng
Kim. In tiếp theo là bản dịch nghĩa rất đặc sắc của
cụ phó bảng Bùi Kỷ. Để so sánh với lời dịch chân phương
của danh nho Bùi Kỷ, cuốn sách cũng trình bầy bản dịch
của nhà văn Nhượng Tống như một tân văn, đọc lên nghe
thật lưu loát.
Vì bản văn "Bình Ngô Đại Cáo"
thật đúng là một kim cổ hùng văn nên có thể nói là danh
sĩ nào dưới trời Nam mà có chút lòng hoài niệm những
ngày vàng son, đại nghĩa bừng lên vang lừng trong sử
sách, cũng đã có lần múa bút đóng góp từ chương, thêm
ý kiến của mình vào phương cảo. Cuốn sách đã trình bầy
thêm bản dịch âm theo nguyên văn chữ Hán bài "Bình
Ngô Đại Cáo" được viết lại ngắùn gọn hơn bởi thi
sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Bản dịch nghĩa của bài này
khi xưa được tiên sinh đăng vào "An Nam tạp chí"
cũng dược đăng lại để người đọc hiểu thêm ý nghĩa của
bài đại cáo với quốc dân.
Tuy bài văn chủ đích được viết như là
lời bá cáo của vua Lê Thái Tổ gửi đi xa gần tới trăm
họ rằng sau khi công thành đại định, nay bốn phương
phẳng lặng, mở hội vĩnh thanh, nhưng người chấp bút
là bậc danh thần Nguyễn Trãi cũng đã phổ vào đó tình
yêu nước, thương dân của riêng ông mà người đọc không
thể nào không nhận thấy. Để biểu lộ nỗi lòng của con
người trung nghĩa, ban văn hoá đã chọn đăng bài "Tâm
sự của Nguyễn Trãi qua thi ca" của sử gia Phạm
Văn Sơn. Trong bài này, ngoài những vần thơ tâm sự của
tướng công ta còn được đọc những văn từ mà người đã
gửi cho các tướng nhà Minh, và tùy theo tình thế chiến
tranh giữa ta và địch lúc ấy mà có những câu viết như
phân giải hơn thiệt giữa chiến hay hoà, hay cũng có
những câu khuyên nhủ và như dạy bảo, có lúc lời văn
lại trở nên đe dọa khi quân Minh ở thế đường cùng nhưng
cùng một lúc tỏ uy thế của Bình Định Vương tiên sinh
cũng lộ cho đối phương rằng quân ta cũng sẽ mở cho một
sinh lộ để họ có cơ may rút về cố quốc. Sử gia Phạm
Văn Sơn cũng ghép trong bài viết này một bài thơ dịch
bản văn "Bình Ngô Đại Cáo" theo thể song thất
lục bát của một người có bút hiệu là Phi Khanh. Đoạn
cuối của tập Phụ Chú còn in hai bài thơ không rõ tên
tác giả, mà bài xướng nói lời Nguyễn Phi Khanh, là thân
phụ của Nguyễn Trãi trước ải Nam Quan khuyên con nên
trở về lo việc phục quốc, và bài họa là lời Nguyễn Trãi
bái biệt cha già. Cảnh cha con tiễn biệt này cũng đã
được Á Nam Trần Tuấn Khải viết thành một bài trường
thi và Hoàng Cầm dựng thành vở kịch thơ "Hận Nam
Quan". Sau hai bài thơ nổi tiếng này, cùng được
in lại trong cuốn sách là bài thơ cảm đề văn tập "Bình
Ngô Đại Cáo" của thi sĩ Hà Thượng Nhân, viết như
là lời bạt.
Gửi Cho Thế Hệ Sau
Bài thơ của Hà thi bá là một bài nhị
thâïp bát cú, ý hay lời đẹp, và chỉ cần trích ra bốn
câu là biết được tấm lòng của nữ sĩ Trùng Quang là người
khởi xướng, chỉ mong sao cho thế hệ trẻ, tương lai của
đất nước, biết đến cái hùng khí của tiền nhân khi cần
bảo vệ non sông gấm vóc của giòng giống Lạc Hồng, và
cùng một lúc khi đọc lại những lời văn tuyệt phẩm của
một nhà văn hào thượng đẳng và cũng là một vị tham mưu
tinh thông chiến lược, giới trẻ ngày nay có thể khám
phá ra được rằng trước đây gần sáu thế kỷ những tư tuởng
tân kỳ như bảo vệ muông thú tránh nạn diệt chủng cùng
những nỗi lo âu đề phòng sự ô nhiễm cho môi trường sinh
sống của người dân đã được danh thần Nguyễn Trãi nhắc
nhở tới. Để nói tới sự cố gắng của cụ Trùng Quang, Hà
tiên sinh đã viết
"Tuổi người già. Người tóc
bạc như sương,
Lòng người trẻ. Người luôn luôn tha thiết,
Đem truyền bá những điều Người hiểu biết.
Gạn tinh hoa gửi lại lớp người sau."
Cũng nhằm mục đích sửa soạn tập phụ
chú này để cho giới trẻ khi đọc thật thấùu hiểu những
tinh diệu của áng hùng văn mà trong cuốn sách còn có
bản dịch, đầu tiên và hiện nay là độc nhất, sang Anh
ngữ thật khúc triết của giáo sư Nguyễn Cao Hách dưới
tựa đề là "Proclamation Concerning The Vietnamese
Victory Over the Northern Invaders" và một bản
dịch sang thơ song thất lục bát, lời chau chuốt mà lại
tươi trẻ của nữ sĩ Trùng Quang. Để giới thiệu với những
người đọc trong lớp thanh thiêùu niên thời nay lời văn
hùng tráng và những ý kiến tân kỳ của người xưa, người
viết xin được trích dẫn dưới đây những đoạn chính trong
bản phiên dịch của học giả Bùi Kỷ cùng đi song hành
với lời thơ dịch của nữ sĩ Trùng Quang.
Đoạn văn mở đầu đã minh định rằng nước
Việt ta là một nước văn hiến, độc lập, cùng với các
triều đại Trung quốc, hai phương khác nhau. Từ đoạn
dịch văn suôi
Như nước Việt ta từ trước,
Vốn xưng văn hiến đã lâu,
Sơn hà cương vực đã chia,
Phong tục bắc nam cũng khác.
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương.
nay chuyển sang lời thơ
Đất nước Việt, quốc gia văn hiến,
Bờ cõi xưa phân biệt rõ ràng,
Núi sông Đại Việt phương Nam,
Bắc phương Trung quốc cách ngàn dặm xa,
Mọi phong tục đều là cách biệt,
Đinh, Lý, Trần,... kiến thiết, sửa sang.
So cùng Trung quốc Hán, Đường,
Tống, Nguyên,... xem cũng một phường khác chi.
Bản văn nhắc lại những chiến tích diệt
xâm lăng trưóc kia, quân ta đã đánh bại nhiều danh tướng
uy dũng của thiên triều
Lưu Cung sợ uy mất vía,
Triệu Tiết nghe tiếng giật mình,
Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô,
Sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã.
cùng với lời thơ dịch
Lưu Cung kẻ cậy tài thất trận,
Triệu Tiết kia thiển cận bại vong,
Bắt Toa Đô lập kỳ công,
Mã Nhi mất mạng tại sông Bạch Đằng.
Quân Minh đã vơ vét tài sản của dân
Việt mang về và người trí lự có kiến thức bác học là
Nguyễn Trãi đã nghĩ ngay tới sự thiệt hại lâu dài, những
loài muông thú qúy hiếm có thể bị diệt chủng, cảnh vật
thiên nhiên trở nên tiêu điều thiếu sự cân bằng. Chúng
ta thử đọc đoạn phiên dịch văn suôi của cụ phó bảng
Bùi Kỷ
Bại nhân nghĩa nát cả càn khôn,
Nặng khoa liễm vét không sơn trạch.
Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu,
Nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả,
Tàn hại cả côn trùng thảo mộc,
Nheo nhóc thay! quan quả điên liên.
Những lời than phiền báo động này, thường
được nghe ở thế kỷ hiêïn hữu từ các nước tiền tiến,
thế mà đã được Quan phục hầu Nguyễn Trãi viết ra từ
đầu thế kỷ thứ 15, và nay được cụ Trùng Quang viết thành
thơ cho giới trẻ dễ đọc, dễ nhớ
Nghĩa nhân, đạo đức tiêu hao,
Bao nhiêu tài lợi thu vào túi tham.
Dân lên núi đào vàng dâng chúng,
Mò ngọc trai dưới vũng biển sâu,
Lam sơn chướng khí dãi dầu,
Dòng sâu đành phận thảm sầu vùi thân.
Săn lộc nhung trong ngàn rừng thẳm,
Chăng lưới tìm muôn hạng chim muông...
Toàn dân điêu đứng, kinh hoàng,
Mất chồng, mất vợ,... muôn vàn khổ đau.
Trong mười năm kháng chiến, trải bao
gian khổ, nhiều lúc Vương thấy thật là cô đơn vì thiếu
ngưòi có tài năng trợ giúp. Nguyễn Trãi đã bộc lộ được
sự khao khát cầøu hiền của minh chủ qua những lờùi viết
thật tha thiết
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.
Đôi phen vùng vẫy, vẫn đăm đăm con mắt dục đông,
Mấy thuở đợi chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư tả.
và lời thơ dịch của người thời nay cũng
theo sát được hết ý từ
Những lo lắng trên đường phục quốc,
Nhân tài như lá trút mùa thu.
Bình minh nhạt ánh sao thưa,
Anh hùng hào kiệt bây giờ mấy ai!
Xuôi, ngược vẫn thiếu người mưu lược,
Sớm tối mong gặp được nhân tài,
Ôi! nhưng âm tín xa vời,
Người không! lương cạn rối bời tâm can.
Trong "Bình Ngô Đại Cáo" có
những câu mà nay trở thành kinh điển, được nhiều đoàn
thể trích dẫn in trong những thông cáo gửi cho thành
viên hay kèm theo hịch văn phổ biến ra đại chúng. Những
câu hay được nhắc nhở đến là
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy,
Miền Trà Lân trúc phá tro bay.
Sỉ khí đã hăng,
Quân thanh càng mạnh.
Những câu thơ đối chiếu, đời nay viết
ra, tuy nhịp nhàng nhưng không kém phần uy dũng
Đem đại nghĩa thắng hung tàn,
Trí, nhân thu hút hoàn toàn niềm tin.
Trại Bồ Đằng vang rền sấm nổ,
Trận Trà Lân trúc vỡ khói lan...
Tinh thần chiến đấu vượt ngàn,
Quân ta từ đấy tiếng vang lẫy lừng.
Trước khi vào đoạn kết, báo cho toàn
dân biết giang sơn từ đây mở mặt, xã tắc từ nay vững
bền, đại công thần Nguyễn Trãi, người đã từng theo Bình
Định Vương bao năm, trải nhiều gian truân, cam khổ,
đã biết phơi bầy lòng dạ nhân từ của Vương khi tha chết
cho tàn quân Minh, giờ đây đã run sợ quy hàng. Trong
bản phiên dịch của cụ Bùi Kỷ ta đọc được những câu
Suối máu Lãnh Câu, nước sông rền
rĩ,
Thành xương Đan Xá, cỏ nội đầm đìa.
Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy.
Các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu.
Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội.
Thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh.
Nhửng câu văn tả những chiến tích oai
hùng diệt ngoại xâm của vua Lê Lợi, nhưng cũng nói lên
lượng hải hà của Vương. Nữ sĩ Trùng Quang đã dịch lại
như sau
Tại Lãnh Câu, sông tràn máu địch,
Đan Xá thây chồng đỉnh núi cao.
Cứu binh, hai đạo quân Tàu,
Nát tan có một tên nào thoát đâu.
Rồi ... khắp nơi bảo nhau cởi giáp,
Tướng xin hàng cúi rạp van cầu.
Hiếu sinh lấy Đức làm đầu,
"Võ Thần Bất Sát" là câu ghi thường.
Đây là cuốn sách đầu tiên của "Ban
Phổ Biến Văn Hoá Cổ Truyền Việt Nam", đã quy tụ
được một số những danh sĩ còn nặng lòng vì tương lai
của đất nước, những mong thu thập tinh hoa văn hoá để
truyền tới thế hệ sau. Các vị, nhiều người đã lớn tuổi,
lại cư ngụ người phương nam. kẻ phưong bắc cách xa nhau
hàng ngàn dặm nên sự phối hợp trong công việc cũng có
phần khó khăn và sách in ra cũng có đôi điều sai lệch.
Người viết bài điểm sách này cũng đã ghi nhận những
chỗ in nhầm để gửi đến ban tu thư điều chỉnh lại những
trang Hán tự đã để nhầm thứ tự, và những bản phiên dịch
đã để nhầm tên tác giả. Mong rằng bản in hoàn chỉnh
sẽ được độc giả ân cần đón nhận và lưu giữ như báu vật
trong tủ sách gia đình.
Toàn Phong
Nguyễn Xuân Vinh
|