SÀI
GÒN XƯA & NAY

Sài Gòn, nơi thành phố tưởng như không bao giờ ngưng
lại, mà cứ biến động không ngừng. Ðường phố luôn rực
sáng những ánh đèn và dòng người nối theo nhau đi về
mọi ngả. Nhưng cho dù các ngã rẽ ấy dừng ở đâu thì vẫn
có một điểm chung trong lòng mỗi người dân Sài Gòn:
hướng về nguồn cội - thành phố tuổi 300.Ta dễ nhận ra
một chút gì đó rất đỗi Sài Gòn khi toàn thành phố sôi
nổi thi đua chào mừng Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
300 tuổi và cũng là để chuẩn bị cho một bước tiến mới
cho một thiên niên kỷ bắt đầu. 300 năm so với chiều
dài của lịch sử đất nước là còn rất trẻ, là còn chứa
trong mình sức vươn tới, dung nạp và tìm tòi...
Người xưa đã từng đi khai phá để xây dựng lên một Sài
Gòn thì con cháu ngày nay sẽ tiếp tục truyền thống để
Sài Gòn đẹp hơn, giàu hơn và văn minh hơn mà vẫn đậm
đà một bản sắc dân tộc.Viết và nói về Sài Gòn thì nhiều
lắm, không biết nói sao cho đủ. "Sài Gòn 300 năm",
trên cơ sở dựa vào một số cuốn sách lịch sử như "Sài
Gòn xưa và nay", "Sài Gòn năm xưa", "Sài
Gòn từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX" và những
bài viết của những nhà nghiên cứu có tên tuổi, chúng
tôi hi vọng sẽ cung cấp cho các bạn một cái nhìn tổng
quan về thành phố mang tên Bác... Vào khoảng đầu thế
kỷ 17, cả vùng đất Nam Bộ ở trong tình trạng hầu hết
đất đai đều hoang vu, rừng hoang bạt ngàn, dân cư thưa
thớt. Ở vị trí thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đã hình
thành một thị trấn nhỏ, hình thức cư trú tập trung ban
đầu. Trong số dân cư ở đây, người Khmer chiếm đa số.
Cạnh đó còn có những người Việt đầu tiên từ các tỉnh
miền Trung vào đây sinh sống. Đây là nơi buôn bán trao
đổi của nhân dân trong vùng.
Chính vì thế, năm 1623, Chúa Nguyễn được sự đồng ý
của vua Chân Lạp đã lập ở đây một trạm thu thuế buôn
bán.Dân thị trấn này đông thêm với sự dân cư của người
Việt vào Nam. Năm 1679, Sài Gòn đã là nơi cư trú đóng
của quan Tổng tham mưu lực lượng của Chúa Nguyễn ở miền
Nam. Cũng trong năm này có khoảng 3.000 quân sĩ Trung
Quốc và gia đình trung thành với triều đại nhà Minh
không chịu sống ở Trung Quốc do nhà Thanh cai trị, đã
xin là dân Việt và đươc chúa Nguyễn đưa vào Nam Bộ sinh
sống. Một bộ phận người Hoa đã đến sinh sống ở vùng
Sài Gòn. Năm 1896 là một mốc thời gian đáng ghi nhớ
trong lịch sử thành phố. Năm này chúa Nguyễn chia đặt
các đơn vị hành chính, thành lập chính quyền ở Nam Bộ.
Sài Gòn lúc bấy giờ là một thị trấn có một vạn dân và
có hoạt động thương mãi phát đạt đã trở thành thủ phủ
của dinh Phiên Trấn, một trong hai dinh ở Nam Bộ lúc
ấy (dinh Trấn Biên đặt lỵ sở ở Biên Hòa). Năm 1698 được
xem là thời điểm thành lập của thành phố Hồ Chí Minh.
Đến nay thành phố được hơn 300 tuổi.
Trong hơn ba trăm năm đó, thành phố đã trải qua nhiều
biến cố quan trọng và đã vươn mình từ một thị trấn độ
1 vạn dân trở thành phố với dân số hơn 4 triệu ngày
nay.Nhờ có vị trí thuận lợi nên vai trò kinh tế và chính
trị của Sài Gòn ngày càng phát triển. Năm 1772. Nguyễn
Cữu Đàm cho đắp các lũy đất (gọi là Cô Lũy hay còn gọi
là Bán Bích cô lũy) từ chùa Cây Mai vòng qua Tân Định
đến cầu Cao Miên (Cầu Bông ngày nay) bọc quanh khu chợ
búa, dân cư, khu quân sự, hành chánh. Sài Gòn trở thành
"thành phố" với đầy đủ ý nghĩa của từ này
(thành để bảo vệ, phố chợ buôn bán). Từ cuối thập niên
1770 cho đến hết thập niên 1780, tình hình ở Sài Gòn
có nhiều biến động cho cuộc tranh chấp giữa Chúa Nguyễn-Tây
Nguyên và Tây Sơn-Nguyễn Ánh. Bốn lần quân Tây Sơn vào
đánh đuổi lực lượng Chúa Nguyễn và làm chủ Sài Gòn.Một
sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển thương
mại của Sài Gòn là năm 1778, nhóm người Hoa trước kia
cư trú và buôn bán ở Cù Lao Phố và Mỹ Tho, do ảnh hưởng
của chiến tranh, đã kéo về cư trú ở Sài Gòn. Họ lập
nên phố chợ buôn bán tấp nập tức Chợ Lớn ngày nay.Từ
năm 1879. Nguyễn Ánh (sau này lên ngôi lấy hiệu là Gia
Long) làm chủ Sài Gòn và Nam Bộ. Sài Gòn trở thành trung
tâm hành chánh của khu vực Nguyễn Ánh kiểm soát và được
gọi là "Gia Định kinh". Năm 1790. Nguyễn Ánh
cho xây thành kiểu Vauban của Tây phương theo họa đồ
của Le Brun, Victor Olivier (những người Tây phương
giúp Nguyễn Ánh lúc ấy). Thành có chu vi khoảng 3.800
mét, nằm ở khu vực giữa các đường Đinh Tiên Hoàng, Lê
Thánh Tôn, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu ngày
nay. Sau đó Nguyễn Ánh thắng được Tây Sơn, lập nên nhà
Nguyễn và đóng đô ở Huế. Dù không còn là kinh đô, Sài
Gòn vẫn là thủ phủ của vùng đất phía Nam.
Đầu thời Nguyễn, vùng đất Nam Bộ được lập thành một
đơn vị hành chánh: Gia Định thành. Lê Văn Duyệt giữ
chức Tổng trào thành Gia Định trong khoảng 16 năm. Trong
dân gian và sách vở vẫn còn giữ lại nhiều giai thoại
về vị quan nói tiếng này. Mộ và đền thờ của ông ở Bà
Chiểu (Lăng Ông).Sài Gòn là một trung tâm giao dịch
quan trọng của cả nước, là một trung tâm văn hóa của
Nam Bộ. Mỗi ba năm, thi Hương được tổ chức ở trường
thi Gia Định (đặt ở Sài Gòn) để lấy các cử nhân. Dân
số Sài Gòn vào năm 1819 đã vào khoảng 60.000 người.Năm
1832, Gia Định thành bị bãi bỏ, toàn bộ Nam Bộ được
chia làm 6 tỉnh trực thuộc triều Đình Huế. Sài Gòn là
thủ đô của tỉnh Gia Định. Tuy nhiên đây là trung tâm
quân sự và nhất là trung tâm kinh tế của Nam Bộ.
Giữa thế kỷ 19 thực dân Pháp đem quân đến chiếm Việt
Nam. Tháng 5-1859 đô đốc Pháp Rigault de Genouilly đem
2.000 quân Pháp và Tây Ban Nha cùng 8 chiến tàu đánh
Sài Gòn. Sau khi hạ được thành, thực dân Pháp đã dùng
32 khối mìn để phá tung nhiêu đoạn thành, chúng đã đốt
phá dinh thự kho tàng bên trong thành và phố xá thương
mãi, nhà cửa dân cư bên ngoài.Sau khi phá vỡ Đại Đồn,
quân Pháp chiếm đóng ba tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia
Định, Định Tường) và sau đó chiếm nốt ba tỉnh miền Tây
(Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Sài Gòn trở thành trung
tâm cai trị và kinh tế của thực dân ở Nam Kỳ. Thành
Phố sài Gòn mang nét Tây phương-thuộc địa được bắt đầu
xây dựng.Ngay khi vừa chiếm được Sài Gòn, đô đốc Charnar
đã ký nghị định (ngày 11-4-1861) thành lập "thành
phố Sài Gòn". Ranh giới của thành phố bao gồm cả
khu vực Chợ Lớn. Thực dân Pháp đã phác họa một bản đồ
qui hoạch thành phố, dự trù cho 500.000 dân. Bao quanh
thành phố thực dân Pháp cho đào một kinh rộng 10 mét
(kinh bao Ngạn) từ gò Cây mai qua Phú Thọ đến rạch Thị
Nghè (vị trí cầu Công Lý ngày nay), bản đồ qui hoạch
này sau đó bị bỏ, con kinh đào cũng chưa hoàn tất.
Năm 1955 thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn được gọi là "đô
thành Sài Gòn", diện tích là 51km² và chia làm
7 quận. Năm 1970 phần đất Thủ Thiêm được sát nhập vào
Sài Gòn. Lúc này thành phố được chia làm 11 quận.Năm
1976. Quốc Hội khóa 6 đã chính thức đặt tên cho thành
phố là "thành phố Hồ Chí Minh" bao gồm cả
Sài Gòn, tỉnh Gia Định cũ và một số vùng lân cận. Hiện
nay thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2.020 km², dân
số hơn 4,5 triệu người. Thành phố có 12 quận nội thành
(Quận 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12, Bình Thạnh, Gò Vấp,
Tân Bình, Phú Nhuận) với diện tích 140km² và sáu huyện
ngoại thành là Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức, Bình Chánh,
Nhà Bè, Duyên Hải với diện tích là 1.889km².
SÀI GÒN - TP. HỒ CHÍ MINHThành phố Sài Gòn - Hồ Chí
Minh có lịch sử gần 3 thế kỷ. Từ rất sớm nơi đây trở
thành trung tâm thương mại sầm uất, giao lưu với nước
ngoài rất nhộn nhịp và là nơi phát triển mạnh các nghề
thủ công mỹ nghệ. Với việc tiếp xúc sớm với nước ngoài,
đây là nơi tiếp xúc sớm nhất kỹ thuật của Châu Âu.Thành
phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm thành phố Sài Gòn.
Chợ lớn và tỉnh Gia Định trước đây.
Thành phố Hồ Chí Minh ở vào vị trí chiến lược, là
đầu cầu đi vào đất Nam Bộ, có đường giao thông thủy
bộ quan trọng, có bến cảng giao lưu được với Đông Nam
Á và thế giới, nên từ rất sớm đã trở nên nơi tập trung
dân cư đông nhất ở Lục tỉnh Nam Kỳ. Dân số thành phố
Hồ Chí Minh đã tăng lên đột biến trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bởi
những vùng nông thôn bị tàn phá và bởi chính sách đô
thị hóa cưỡng bức của chính quyền Sài Gòn.Vào năm 1698,
dân số toàn vùng Sài Gòn chỉ mới ước độ 1 vạn đã tăng
lên khoảng 60.000 người (1819). Khi thực dân Pháp đánh
chiếm Sài Gòn, một phần quan trọng cư dân ở đây bị tản
lạc vì chiến tranh, do vậy dân số sụt xuống chỉ còn
độ 20.000 vào năm 1863. Những năm sau đó do chiến sự
chấm dứt và do sự phát triển kinh tế Sài Gòn-Chợ Lớn,
dân số đã tăng nhanh: 100.000 năm 1890 tăng lên 300.000
người vào năm 1921. Đến năm 1945 dân số vùng Sài Gòn-Chợ
Lớn-Gia Định đã là 450.000 người. Năm 1954, số dân đã
tăng lên đến gần 2 triệu người và Sài Gòn-Gia Định đã
trở thành thành phố đông dân nhất miền Nam Việt Nam.
Từ năm 1954 đến 1975 dân số Sài Gòn-Gia Định từ 2 triệu
người tăng lên 3,9 triệu người.Từ năm 1975 đến nay,
do nhiều biến động cơ học như một số lớn dân cư hồi
hương, đi xây dựng vùng kinh tế mới, xuất cảnh, đi thanh
niên xung phong, xây dựng các nông lâm trường... cộng
với một số mới sanh sẵn, nên dân số thành phố Hồ Chí
Minh chỉ giao động trong khoảng trên dưới 4 triệu người
(1989), đã trở thành một trung tâm công nghiệp, văn
hóa, khoa học kỹ thuật, một trung tâm giao dịch quốc
tế, một đầu mối giao thông quan trọng, một trung tâm
du lịch và là một trong 3 thành phố lớn của cả nước.
Bản thân thành phố là một hải cảng quan trọng. Sông
Sài Gòn với độ sâu có thể tiếp nhận các tàu biển trọng
tải trên 30.000 tấn, một ưu thế hiếm có trên thế giới
đối với một thành phố lớn ở sâu trong nội địa. Cảng
Sài Gòn được thành lập từ năm 1862.Sài Gòn - thành phố
Hồ Chí Minh có tốc độ tăng dân số tự nhiên thuộc loại
thấp nhất toàn quốc nhưng lại có sức thu hút dân cư
rất mạnh từ các nơi khác tới. Mức tăng trưởng dân số
không giống nhau giữa khu vực nội thành và ngoại thành.
Trên phạm vi Thành phố, sự chênh lệch giữa quận đông
dân nhất và huyện thưa dân nhất lên tới 684 lần. Mật
độ dân số cao nhất là quận 5 với 58.813 người/km2, thấp
nhất là Cần Giờ với 86 người/km2.Sài Gòn ngày nay có
22 quận, huyện. Nội thành gồm các quận 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Gò Vấp,
Tân Bình, Thủ Đức. Ngoại thành gồm các huyện Hóc Môn,
Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Thành phố có 305
phường, xã, thị trấn.Quận 1 là trung tâm hành chánh,
kinh tế, giao dịch của Thành phố. Các cơ quan hành chánh
đầu não của Thành phố nằm trên địa bàn quận này. Quận
3 là địa bàn cư trú lý tưởng với các đường phố thoáng
mát, biệt thự thanh lịch, ít tiếng ồn và bụi bặm. Quận
4 là nơi mà người dân chủ yếu sống bằng những nghề lao
động vất vả dựa vào hệ thống nhà kho, cầu tàu, bến cảng.
Quận 5 thuộc vùng Chợ Lớn, nơi tập trung thế mạnh kinh
tế của hơn nửa triệu người Việt gốc Hoa sinh sống tại
đây từ lâu. Ở ngoại thành thì Củ Chi mang nhiều đổi
thay lớn lao nhất. Từ một vùng trắng trong chiến tranh
nay đã thiết lập được những công trình xây dựng đồ sộ,
đặc biệt là khu di tích lịch sử Bến Dược, Địa Đạo Củ
Chi.. Hàng năm thu hút hàng trăm ngàn du khách. Xa nhất
là huyện Cần Giờ nằm ở cuối sông Sài Gòn. Với chủ yếu
là những cánh rừng Đước được thành lập để phù hợp với
tốc độ phát triển kinh tế - xã hội hiện nay cũng như
trong tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh. So với Sài
Gòn cũ, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay rộng lớn hơn
nhiều.(Sưu tầm)
"
|