Văn
Miếu - Quốc Tử Giám
Bia
Tiến sĩ
Văn Miếu - Quốc Tử Giám gồm có: - Văn Miếu: Lập năm
1070, thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo
và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu
biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.
- Quốc Tử Giám: Lập năm 1076, trường Quốc học cao cấp
đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm hoạt động đã
đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước.
Nơi đây lưu giữ 82 bia Tiến Sĩ, tượng Khổng Tử, Tứ phối
và các công trình kiến trúc cổ kính: Gác Khuê Văn, Điện
Thánh, Bái Đường, Nghiên đá, Rồng đá… chứng tích của
ngàn năm văn hiến. Văn Miếu Quốc Tử Giám là di tích
lịch sử - văn hóa đặc biệt quan trọng. Địa chỉ: đường
Quốc Tử Giám - Hà Nội
Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070, thờ Khổng
Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc
Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức
trọng của nền giáo dục Việt Nam. Năm 1076, nhà Quốc
Tử Giám được xây kề sau Văn Miếu, ban đầu là nơi học
của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả các học trò
giỏi trong thiên hạ.
Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch. Bên trong
có những lớp tường ngăn ra làm 5 khu. Khu thứ nhất bắt
đầu với cổng chính, trên cổng có chữ Văn Miếu, dưới
cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời Lê sơ (thế
kỷ 15). Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Ðại Trung Môn mở
đầu cho khu thứ hai. Hai bên còn hai cổng nhỏ. Vẫn lối
đi ấy dẫn đến Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao khuê,
chủ đề văn học). Hai bên gác cũng có hai cổng nhỏ. Khu
thứ ba là từ gác Khuê Văn tới Ðại Thành Môn, ở giữa
khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng
trời trong sáng) có tường bao quanh.
Hai bên hồ là hai khu vườn bia tức nơi dựng các tấm
bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ (năm 1993 với sự
tài trợ một phần của tổ chức doanh nghiệp Mỹ, Ban Quản
lý Văn Miếu đã dựng được tám ngôi nhà che cho các bia
này). Tiến sĩ là người đỗ cao nhất trong kỳ thi Ðình.
Ngày trước, người đi học sau khoảng 10 năm đèn sách
đủ vốn chữ để dự thi Hương tức khoa thi tổ chức liên
tỉnh, cứ ba năm mở một khoa. Ðạt điểm cao của kỳ thi
này đạt học vị Cử nhân. Năm sau các ông Cử tới kinh
đô dự kỳ thi Hội. Những người đủ điểm chuẩn sẽ dự kỳ
thi Ðình (thi Hội và thi Ðình thực ra là hai giai đoạn
của một cuộc thi). Trúng tuyển kỳ thi này được gọi là
Tiến sĩ. Ðỗ Tiến sĩ có thể được bổ làm quan. Hiện có
82 bia, xưa nhất là bia ghi về khoa thi năm 1442, muộn
nhất là bia khoa năm 1779. Ðó là những di vật quý nhất
của khu di tích. Bước qua cửa Ðại thành là tới khu thứ
tư. Một cái sân rộng, hai bên là dãy nhà Tả Vu, Hữu
Vu, vốn dựng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà
Ðại bái và Hậu cung, kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tại
đây có một số hiện vật quý: bên trái có chuông đúc năm
1768, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt có khắc
bài văn nói về công dụng của loại nhạc khí này.
Bố cục của toàn thể Văn Miếu như vậy muộn nhất là cũng
có từ đời Lê (thế kỷ 15 - thế kỷ 18). Riêng Khuê Văn
Các mới được dựng khoảng đầu thế kỷ 19, nhưng cũng nằm
trong quy hoạch tổng thể vốn có của những Văn Miếu (như
Văn Miếu ở Khúc Phụ, Trung Quốc, quê hương của Khổng
Tử, có đủ Ðại Trung Môn, Khuê Văn Các, Ðại Thành Môn,
Ðại Thành Ðiện, bia tiến sĩ...). Khuê Văn Các ở Văn
Miếu Hà nội thường là nơi tổ chức bình các bài văn thơ
hay của các sĩ tử.
Sau khu Ðại Bái vốn là trường Quốc Tử Giám đời Lê,
một loại trường đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn rời
trường này vào Huế thì nới đây chuyển làm đền Khải Thánh
thờ cha và mẹ Khổng Tử, nhưng đền này đã bị hư hỏng
trong chiến tranh. Văn Miếu là quần thể di tích đa dạng
và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội.
BT (tổng hợp
|