DI TÍCH LỊCH SỬ

THỪA THIÊN – HUẾ : Các cổ thành

Thành Lồi (thành Khu Túc)

Phù điêu tượng Phật Chămpa

Toà thành được xây dựng trên đồi Long Thọ, thuộc địa phận làng Thuỷ Xuân, xã Thủy Biều, thành phố Huế. Ðại Nam Nhất Thống Chí chép: “Thế truyền đây là chỗ ở của vua Chiêm Thành gọi là Phật Thệ Nền cũ nay vẫn còn tục gọi là thành Lồi”.

Thành có dạng gần vuông, với các lũy Hướng Tây (dài 350m, rộng trung bình 10m, cao trung bình 3,5m), Nam (550m; 9m; 2,3m), Ðông (370), và Bắc (750). Khi triều cường nước sông tiến sát chân lũy Phía Bắc. Bao quanh lũy thành Phía Tây, Nam và Phía Ðông là khe Long Thọ và khe Ðá tạo thành các hào nước. Ở lũy thành Phía Tây có di tích điện Voi Ré và Hổ Quyền; cách lũy thành Phía Nam 50m về Hướng Bắc là miếu quốc vương Chiêm Thành. Ngoài ra, còn tìm thấy một số hiện vật như: vòng bạc, mảnh gốm, đá vỡ có khắc chữ, đá tảng, gạch Chăm, giếng Chăm... ở khu vực trong và ngoài thành. Hiện nay các bờ lũy không còn nguyên dạng trừ lũy Phía Tây, Ðông. Kết cấu lũy thành trên cơ sở lợi dụng triệt để địa hình tự nhiên, thành được đắp bởi 2 lớp đất, kè đá và gạch vỡ, một số đoạn đắp thêm lớp đất trên mặt...

Có rất nhiều giả thiết về tên gọi, vị trí và vai trò của Thành Lồi ở Huế và Thành Khu Túc ở Quảng Bình qua các thời kỳ lịch sử, tất cả đang là những tồn nghi. Theo nghiên cứu của G.S Trần Quốc Vượng, thành có niên đại vào khoảng thế kỷ V - VI (niên đại thành Trà Kiệu).

Thành Hóa Châu

Tượng thần ở di tích Thành Hoá Châu

Nằm trên địa phận làng Thành Trung (xã Quảng Thành, Quảng Ðiền, Thừa Thiên Huế), thành được xây dựng trên cơ sở lợi dụng tối đa địa thế tự nhiên, theo Hướng Tây Nam - Ðông Bắc, bao bọc xung quanh là đồng ruộng, gò nổi và các con sông (Sông An Thành, Thanh Phước, Sông Bồ... ) đổ vào Phá Tam Giang.

Cấu trúc thành gồm hai vòng nội và ngoại. Thành ngoại có dạng gần hình chữ nhật; lũy Hướng Tây Bắc dài 1920m, Ðông Nam: 1890m, Ðông Bắc: 570m, Tây Nam: 590m; nơi hẹp nhất 3,6m, nơi rộng nhất 52m, độ cao trung bình 1,8 – 2 m. Bên ngoài lũy thành có nhiều gò đất nổi cao xen kẽ các ngòi nước. Sông Tiền Thành chia đôi lũy thành Ðông Bắc và Tây Nam tạo thành một cửa nước lớn. Ở những nơi sạt lở để lộ dấu vết kè bằng đá, gỗ lim và các vật liệu gia cố như gạch, ngói, đá, sỏi, gốm, sành, sứ, gỗ... cho ta thấy cấu tạo của thành. Thành nội nằm về phía Bắc cách Sông Thành Trung khoảng 150m; toàn bộ thành đã bị biến dạng chỉ còn lại một phần lũy dọc Hướng Ðông Nam (dài 300m, rộng trung bình 50m, cao trung bình 1,8m) và Tây Nam (160 - 29 - 1,8m) tạo thành hình chữ L. Hiện nay, một số lũy thành được sử dụng làm nghĩa địa... nên rất dễ nhận dạng.

Chưa có một kết luận nào chính thức về niên đại, thư tịch sớm nhất cho biết sự có mặt của toà thành là “Ô Châu Cận Lục” của Dương Văn An: “Năm thứ 5, niên hiệu Ðại Trị đời vua Trần Dụ Tông (1362), Ðỗ Tử Bình được bổ cầm quân Lâm Bình, Thuận Hóa mới đắp nên thành này”. Tuy nhiên, so với những cứ liệu khảo cổ học tìm thấy, niên đại này quá muộn. Hóa Châu là một thành có quy mô, cấu trúc hoàn chỉnh với lũy cao, rộng, hào sâu bao bọc, địa thế hiểm trở... đáp ứng nhu cầu quân sự. Ðặc biệt, thế liên hoàn thủy bộ đã gắn chặt toàn thành với hậu phương trong vai trò trọng trấn, cửa ngõ của kinh thành, phên dậu Phía Nam của đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

Dấu tích Thành Lai Trung
Thành chỉ được biết đến trong ký ức của những người già làng Lai Trung (xã Quảng Vinh, Quảng Ðiền, Thừa Thiên Huế).

B.T. (theo thuathienhue



|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thể Thao |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện

PHÁT MINH, KHÁM PHÁ

LỊCH SỬ VĂN MINH, VĂN HOÁ VIỆT NAM
LỊCH SỬ CÁC PHÁT MINH
TIỂU SỬ DANH NHÂN
KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

DANH NHÂN VIỆT NAM

 

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT II