Danh
nhân Lê Ngọc Hân
(Nhân kỷ niệm 204 năm ngày mất)
GS Chu Quang Trứ
Năm 1999 kỷ niệm 210 năm ngày chiến thắng Đống Đa (1789-1999),
đồng thời kỷ niệm 200 năm ngày mất của Công chúa - Hoàng
hậu Lê Ngọc Hân (1799-1999). Nhân dịp này, chúng ta
thành kính dâng lên Bà nén tâm hương và cùng nhau ôn
lại cuộc đời Bà với những hiểu biết chân xác dưới lớp
bụi thời gian.
Đọc lại những tư liệu ít ỏi trong sử cũ và tham chiếu
tộc phả họ Nguyễn Đình ở Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội),
chúng ta biết Lê Ngọc Hân là vợ yêu của vua Quang Trung,
cũng là một danh nhân văn hóa của dân tộc. Ngọc Hân
thuộc hàng công chúa cuối cùng của nhà Lê, đi vào lịch
sử bằng cuộc tình duyên tuyệt đẹp với anh hùng dân tộc
Nguyễn Huệ, đóng góp cho văn học Việt Nam bài văn khóc
chồng Tế vua Quang Trung chân tình thống thiết; và đặc
biệt là bài Ai Tư Vãn tha thiết làm rung động lòng người
ở mọi thời đại. Nhắc đến sự nghiệp lừng lẫy của vua
Quang Trung, không thể không nhắc đến bà. Và cũng chính
bà, với hai tác phẩm văn học trên, đã sớm nhất đánh
giá vua Quang Trung súc tích mà ngắn gọn, dễ nhớ nhất:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước biết bao công trình
Mà nay lượng cả ơn sâu,
Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần.
Nhưng con người đầy tài hoa và nồng thắm tình cảm ấy
phải chịu mệnh bạc, mà cả khi chết rồi vẫn phải chịu
nhiều tai ương và oan trái. Cho đến nay, mặc dù đã được
một số nhà nghiên cứu văn học và sử học minh oan, chứng
minh bà mất từ năm 1799 tức trước khi triều Tây Sơn
sụp đổ 3 năm, nhưng đây đó vẫn lan truyền thông tin
rằng, bà chịu bị Gia Long ép lấy làm vợ; hoặc khi triều
Tây Sơn đổ, bà phải lẩn trốn nhưng vẫn bị vua Gia Long
truy nã và bắt về hành hình rùng rợn. Thực ra đó là
những cách nghĩ bị suy diễn từ sự việc dễ gợi mối liên
tưởng: Gia Long có ép Ngọc Bình - em nuôi của bà và
là vợ của vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn - lấy y. Gia Long
có hành hình man rợ vua tôi Cảnh Thịnh và đối xử hèn
hạ với di hài vua Quang Trung - Nguyễn Huệ và Thái Đức
- Nguyễn Nhạc. Nhưng đối với bà Ngọc Hân, Gia Long và
cả Minh Mạng vẫn "lờ đi", chỉ đến Thiệu Trị
vì có người tố giác mới theo "phép nước" mới
có những hành động độc địa.
Vậy sự thật về Lê Ngọc Hân như thế nào? Từ những tư
liệu văn học và sử học của thời Lê, thời Tây Sơn và
thời Nguyễn, từ tộc phả họ Nguyễn Đình và những truyền
thuyết ở Ninh Hiệp - quê ngoại của bà, bức màn bí mật
được vén lên dần:
Vùng Cố Pháp - Đông Ngàn - Từ Sơn (nay thuộc huyện
Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), chỉ với những tên gọi nối
nhau trong lịch sử đã gợi lên một vùng sông nước, rừng
cây, gò đồi. Trên những gò đồi ấy, tổ tiên xa xưa đã
tụ cư lập xóm dựng làng mà tên làng khi Hán Việt hóa
để đi vào địa bạ của chính quyền đô hộ thời Bắc thuộc
và của các nhà nước dân tộc thời độc lập đều có chữ
Phù ở đằng trước để chỉ rõ gò nổi ở giữa đồng nước.
Chỉ riêng phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) đến thời Nguyễn vẫn
còn các xã Phù Đổng, Phù Minh, Phù Lập (thượng và hạ),
Phù Chẩn, Phù Ninh, Phù Lộc, Phù Lưu, Phù Khê, Phù Cảo,
Phù Yên, Phù Lương, Phù Lãng... Giáo sư Trần Quốc Vượng
đã phục nguyên âm Phù là Bù - Pù - Gò thông đạt rõ ý
tưởng người xưa. Đây là vùng đất thiêng, đã sản sinh
ra Thành Gióng - anh hùng cứu nước đầu tiên đầy chất
huyền thoại, và Lý Công Uẩn dựng nghiệp Đế mở ra kỷ
nguyên Đại Việt, những người dân "dốt Đông Ngàn
hơn ngoan thiên hạ"... Trong những người dân Đông
Ngàn ấy, ở đầu thế kỷ thứ XVIII có cụ Nguyễn Đình Giai
ở Phù Ninh - tên nôm là làng Nành được triều đình nhà
Lê phong là Vũ huân tướng công thự Thần vũ tứ vệ quân
vụ Tham đốc đặc tứ phong tặng chiêu vũ tướng quân, Đô
đốc phủ Đô đốc Đồng Tri, Tuấn trung hầu. Cụ có 18 người
con, gái trưởng là bà Nguyễn Thị Huyền. Bà được ông
bác ruột - đồng thời cũng là cha nuôi đang làm tả thiếu
giám (quan hoạn) ở ty Lễ giám tiến cử làm cung tần cho
vua Lê Cảnh Hưng. Bài vị bà ở đền thờ tại Phù Ninh (nay
là làng Ninh - Gia Lâm - Hà Nội) ghi rõ: "Cố Lê
Chiêu Nghi Nguyễn Thị Húy Huyền, hiệu Thiện Trung sinh
giờ Dậu ngày mồng 3 tháng 10 năm Quý Dậu (28-10-1753),
mất giờ Hợi ngày mồng 1 tháng 8 năm Quý Mùi (1823),
thọ 71 tuổi. Bà Huyền sinh công chúa Lê Ngọc Hân vào
giờ Sửu ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần (22-5-1770).
Năm 1786 Nguyễn huệ kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh,
phù vua Lê, song trên thực tế đã thống nhất Đàng Trong
và Đàng Ngoài, được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc
Hân đang ở độ tuổi 16. ít ngày sau vua Lê Hiển Tông
băng hà. Bà Nguyễn Thị Huyền góa bụa ở tuổi 33, sau
một thời gian chịu tang chồng đã lui về quê lập dinh
Thiết Lâm 100 gian ở xế cửa chùa Pháp Vân để tiện sang
chùa lễ Phật.
Ngọc Hân vào Phú Xuân sống hạnh phúc bên chồng. Cuối
năm 1788 được tin quân Thanh xâm lược đã chiếm Thăng
Long, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế để chính danh tiến
quân ra Bắc, phong Ngọc Hân làm Hoàng hậu ố tộc phả
họ Nguyễn Đình ghi là Trinh Nhất Vũ Hoàng hậu. Sau khi
vua Quang Trung đại thắng quân Thanh, vào đầu xuân Kỷ
Dậu lại trở về Phú Xuân, và Ngọc hân đã sinh với vua
được con gái đầu lòng là công chúa Ngọc Bảo vào giờ
Hợi ngày 20 tháng 4 năm Canh Tuất (4-6-1790), rồi hoàng
tử Văn Đức vào giờ Mão ngày 14 tháng Giêng năm Tân Hợi
(27-2- 1791). Hạnh phúc đang nồng thì năm 1792 vua Quang
Trung băng đột ngột, Ngọc Hân ở tuổi 22 đã chịu cảnh
góa bụa. Hai bài văn khóc chồng Tế vua Quang Trung và
Ai tư vãn đã nói lên nỗi đau đứt ruột xé lòng của bà.
Bà muốn chết theo chồng, nhưng trong đám tang vua Quang
Trung thấy cảnh các con mới 1 - 2 tuổi ở trước linh
sàng cha:
Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm
Đầu mũ mao, mình tấm áo gai
U ơ ra trước hường đài
Tưởng quang cảnh ấy chua cay lòng này
mà bà tạm sống để nuôi con, chờ con qua tuổi ấu thơ,
chỉ sống thể xác thôi:
Vậy nên nấn ná đôi khi
Hình tuy còn ở phách thì đã theo
Bà đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa
Kim Tiền (Dương Xuân ố Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ
chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng
11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799) thì mất, lúc ấy mới 29 tuổi.
Khi đó Phan Huy ích đang là một trọng thần của Tây Sơn,
đã soạn giúp năm bài văn cho vua Cảnh Thịnh, cho các
công chúa, cho bà Nguyễn Thị Huyền, cho các tôn thất
nhà Lê và cho họ ngoại ở làng Phù Ninh tế Ngọc Hân.
Cả năm bài văn trên còn chép trong sách Dụ Am văn tập.
Tiếp theo, triều đình Cảnh Thịnh lục đục và suy yếu,
ngày càng bị tập đoàn Nguyễn ánh đe dọa. Hai con bag
phải đổi sang họ Trần, nhưng rồi với sự sụp đổ của triều
Tây Sơn, theo tộc phả họ Nguyễn Đình, ngày 18 tháng
11 năm Tân Dậu (23-12-1801) hoàng tử Văn Đức mất khi
mới 10 tuổi, rồi ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất (18-5-1802)
công chúa Ngọc Bảo cũng mất khi mới 12 tuổi. Không rõ
có phải như truyền thuyết là bị nhà Nguyễn giết hại
trong khi trốn tránh? Nhưng cũng có thể chết bệnh vì
mất vào những thời điểm khác nhau, và không có tên trong
danh sách vua tôi nhà Tây Sơn bị Gia Long hành hình.
Hơn nữa bộ sách chính sử của nhà Nguyễn Đại Nam Thực
lục nhân năm 1842 phá hủy đền thờ Ngọc Hân ở Phù Ninh
có ghi: "Nguyên người xã ấy là Nguyễn Thị Huyền
làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái
là Lê Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn) Huệ, sinh được
1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con trai, con gái cũng
chết non cả".
Phần "Biệt lục" của tộc phả Nguyễn Đình còn
ghi thêm: Bà Nguyễn Thị Huyền thương con gái và các
cháu ngoại đều chết yểu nơi xa, năm 1804 thuê người
vào Phú Xuân lấy hài cốt ba mẹ con Ngọc hân, ngày 24
tháng 3 năm Giáp Tý (3-5-1804) xuồng thuyền vượt biển,
ngày 20 tháng 5 (28-6) về đến bến ái Mộ (Gia lâm, Hà
Nội), ngày mồng 4 tháng sau (11-7-1804) đưa về bản dinh
(tức dinh Thiết lâm của bà Nguyễn Thị Huyền), ngày mồng
9 (16-7-1804) đưa về làng, giờ Ngọ an táng hài cốt bà
Ngọc hân, phụ chôn hoàng tử ở bên trái và công chúa
ở bên phải. Nơi đó nay là Bãi Cây Đại hay Bãi Đầu Voi
ở đầu làng Nành. (ảnh: Tượng chân dung của Bà Nguyễn
Thị Huyền vợ Vua Lê, mẹ Công chúa Lê Ngọc Hân)
Sự việc này, bộ Đại Nam thực lục ghi tiếp ở năm 1842:
"Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài
ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng
trộm ở địa phận xã Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ,
dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ tên để làm mất dấu
tích".
Bà Nguyễn Thị Huyền không có con trai, đã ký hậu 50
mẫu ruộng tốt với làng và chuyển dinh Thiết Lâm làm
đền thờ. Nam 1823 bà Huyền mất, thọ 70 tuổi, dinh Thiết
Lâm thờ bà và mẹ con Ngọc Hân. vẫn theo tộc phả họ Nguyễn
Đình và kết hợp truyền thuyết địa phương, thì vào khoảng
thời gian đời Minh Mạng sang đời Thiệu Trị, có người
trong làng tố giác việc thờ cúng này, vua Thiệu Trị
đã cho phá hủy đền thờ ở dinh Thiết Lâm, quật mộ ba
mẹ con Ngọc Hân, đổ hài cốt xuống sông - nơi này sau
dân lập đền ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột da nhồi
trấu, tri phủ bị cách chức. Bộ sử Đại nam thực lục năm
1842 cũng xác nhận: "Tới đây, việc ấy phát giác,
vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy".
Từ năm 1842 dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ hoang
thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi là "Vườn
Dinh" và dựng lên đây Một "Miếu cô hồn"
kín đáo thờ Ngọc Hân. Mãi gần trăm năm sau, đến năm
1937 họ Nguyễn Đình đổi đất với làng lấy lại một phần
nền dinh Thiết Lâm và lập lại đền thờ bà Nguyễn Thị
Huyền cùng với Ngọc Hân. Đồng thời, tại bãi cây Đại,
cùng với việc sửa lại mộ bà Nguyễn Thị Huyền, dân làng
cũng đắp nấm mộ tượng trưng của mẹ con Ngọc Hân, tương
truyền là chính chỗ mà năm 1842 bị Thiệu Trị quật phá.
Như vậy, tại Phù Ninh ( nay là xã Ninh Hiệp - Gia Lâm
Hà Nội) ngày trong khi Gia Long vừa lật đổ triều Tây
Sơn, hành quyết man rợ vua tôi Cảnh Thịnh, ra sức truy
lùng hành tích Tây Sơn, thì nhân dân đã đón nhận hài
cốt mẹ con Ngọc Hân về, xây lăng mộ, dựng đền thờ. (ảnh:Mộ
Bà Huyền)
Từ năm 1842 không được thờ chính thức thì nhân dân
bí mật thờ mẹ con Ngọc Hân dưới dạng "cô hồn".
Và từ 1937 Ngọc Hân cùng với mẹ và hai con lại được
thờ trong một nhà thờ nhánh của họ Nguyễn Đình. Trước
sau vẫn ở trên một khu đất cũ là nền dinh Thiết Lâm
sư của nhà Nguyễn Thị Huyền. Cùng với việc thờ cúng
này, nhân dân địa phương còn giữ trong chùa làng chiếc
trống đồng lớn (cao 35 cm, rộng 55 cm) khắc rõ niên
hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 8 (1801) với nhiều hoa văn đẹp
để rồi giao cho Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam quản
lý và trưng bày cho mọi người đều biết.
Mười năm trước, trong khuôn khổ chuẩn bị kỷ niệm 200
năm chiến thắng Đống Đa, cuối năm 1988, chính quyền
xã Ninh Hiệp đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học về danh
nhân Lê Ngọc Hân nhân ngày giỗ bà và làm lễ dâng hương
trang trọng. Nhưng cho đến nay di tích về bà vẫn còn
bị thả nổi!
Cuộc đời Lê Ngọc Hân cả khi sống lẫn khi chết đã chịu
nhiều cay đắng, nhưng bà thực sự là một nhân vật lịch
sử ố một nữ danh nhân văn hóa đầy tài hoa, từ khi gắn
cuộc đời với vua Quang Trung đã trở thành một tài năng
sáng tạo lớn của đất nước. Sau kỷ niệm 210 năm chiến
thắng Đống Đa của vua Quang Trung, hy vọng vào dịp giỗ
Ngọc Hân lần thứ 200 này (cuối năm 1999) đền thờ và
nấm mộ (dù là tượng trưng) của Bà sẽ chính thức là di
sản văn hóa quốc gia.
II Bắc
cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân
Ngày xưa các vua chúa thường có rất nhiều vợ. Không
rõ Quang Trung có bao nhiêu vợ khi đã làm chủ từ Bắc
hà đến cõi Nam. Theo tài liệu để lại, có thể nói đến
hai Hoàng hậu của vua: Chính cung Hoàng hậu và Bắc cung
Hoàng hậu. Bà Chính cung Hoàng hậu họ Phạm, người phủ
Qui Nhơn, là chị cùng mẹ khác cha với Hình bộ thượng
thư Bùi Văn Nhất và Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Khi Quang
Trung đăng quang năm Kỷ Dậu (1789) thì bà cũng được
lập làm Chính cung Hoàng hậu. bà sinh được 3 con trai,
2 con gái: Nguyễn Quang Toản là con đầu, được làm Thái
tử, con thứ là Nguyễn Quang Thùy được phong làm Khanh
công lĩnh bắc thành Tiết chế thủy bộ chủ quân. Con trai
thứ ba là Nguyễn Quang Bàn được phong làm Tuyên công
lĩnh Thanh Hoa đốc trấn tổng lý dân sự.
Đại Nam thực lục, biên niên sử của triều Nguyễn, còn
chép những người con khác của Nguyễn Huệ: tháng 5 năm
Tân Hợi (1801) khi kinh đô Phú Xuân thất thủ cho đến
khi Nguyễn ánh lấy đuợc cả Bắc Hà, quân Nguyễn ánh còn
bắt được các em của Quang Toản có tên là: Quang Cương,
Quang Tự, Quang Điện, Thất, Quang Duy...
Song, trong số các bà vợ, người được Nguyễn Huệ yêu
qúy nhất là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Nàng được
phong làm Bắc cung Hoàng hậu vào dịp Nguyễn Huệ lên
ngôi Hoàng đế, khi mới 18 tuổi, hai năm sau đám cưới
tưng bừng được cử hành tại Thăng Long. Lúc đầu chỉ là
sự sắp đặt theo mưu đồ chính trị, theo lối"Mỹ nhân
kế"mà Nguyễn Hữu Chỉnh là người bày đặt, nhưng
về sau, cuộc tình của họ lại rất tốt đẹp, trai anh hùng
gặp gái thuyền quyên.
Với thế mạnh như chẻ tre, năm Bính Ngọ (1786), Long
Nhương tướng quân Tiết chế Nguyễn Huệ xuất hiện ở Thăng
Long trong hào quang chiến thắng. Quân Trịnh thua chạy
tan tác, vua Lê thì ở tuổi "cổ lai hy" vốn
an phận với cương vị bù nhìn mặc cho các chúa Trịnh
tác oai tác phúc. Ông tướng trẻ mới 34 tuổi này xuất
hiện làm cho cả kinh thành xao động. Nguyễn Huệ muốn
gì? Lấy ngai vàng của vua Lê đối với Huệ không phải
là khó! Song Huệ đã làm đúng như lời tuyên bố ban đầu:
diệt Trịnh phò Lê. Vua Lê nghĩ đến việc ban cho Huệ
chức tước vào bậc cao nhất trong triều: Nguyên súy Uy
quốc công. Vậy thì còn gì để vừa lòng viên tướng chiến
thắng nếu không phải là ngọc ngà châu báu hay là một
bóng giai nhân. Đón biết suy nghĩ của chủ tướng, Nguyễn
Hữu Chỉnh đã giả ý vua Lê "muốn gả một nàng công
chúa cho chủ súy Tây Sơn để lấy chỗ dựa lúc tuổi già",
Nguyễn Huệ với giọng hăng hái đầy tự nhiên nói:
- Xưa nay những kẻ chinh phu xa nhà, tình khuê phòng
rất cần thiết. Hoàng thượng cũng xét đến chỗ ấy kia
à? ừ! em vua nước Tây làm rể vua nước Nam, "môn
đương hộ đối" như thế, tưởng cũng không mấy người
có được.
Biết Nguyễn Huệ đã bằng lòng, Nguyễn Hữu Chỉnh liền
vào cung tâu hết với vua Lê. Lúc đó nhà vua đã 70 tuổi,
vẫn còn 5,6 người con gái chưa chồng. Trong số các nàng
công chúa, chỉ có nàng Ngọc Hân đẹp và nết na hơn cả.
Vua Lê rất cưng chiều nàng và cho học hành đủ cả cầm
kỳ thi họa. Nhà vua vẫn thường tự nhủ:
- Con bé này ngày sau nên gả làm Vương phi, không nên
gả cho hạng phò mã tầm thường.
Nghe Chỉnh nói đến việc dùng "kế mỹ nhân",
vua Lê đã nghĩ ngay đến cô con gái cưng, nhưng vẫn cẩn
thận bảo với Nguyễn Hữu Chỉnh:
- Con gái chưa chồng trẫm còn nhiều, nhưng chỉ có mình
Ngọc Hân là có chút nhan sắc. Tuy vậy, thói thường yêu
con vẫn thiên lệch, chưa biết ở mắt người ngoài thì
ra sao. Ngươi hãy ở đây, để trẫm cho đòi cả ra mà coi
qua, rồi tùy ngươi lựa xem người nào xứng đáng thì giúp
cho thành việc đi!
Khi đã nhìn thấy các công chúa, Chỉnh cũng nhất trí
với nhà vua, chọn nàng Ngọc Hân gả cho Nguyễn Huệ với
niềm tin rằng Huệ khó có thể cầm lòng được khi đã gặp
nàng.
Khi nghe Chỉnh nói về nàng công chúa Ngọc Hân tuổi
vừa đôi tám, xinh đẹp tuyệt trần, xin cho được nương
bóng nhà sau hầu hạ lược khăn cho người dũng tướng,
thì Nguyễn Huệ rất vui và thật thà nói:
- Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về; bọn trẻ nó
cười cho thì sao. Tuy nhiên, ta chỉ mới quen gái Nam
Hà, chưa biết gái Bắc hà, nay cũng nên thử một chuyến
xem có tốt không.
Rồi Huệ lại nói với một giọng đầy nghiêm túc và cảm
động:
- Tôi xin kính lạy dưới bệ Hoàng thượng vạn tuế! Ở
khe núi hẻo lánh xa xôi tới đây, há dám đường đột như
vậy? Bây giờ may sao được bám vào cành vàng lá ngọc,
thật là mối nhân duyên kỳ ngộ ngàn năm mới có. Kẻ ở
khe núi này xiết bao mừng rỡ.
Thế rồi đám cưới của chủ súy quân Tây Sơn với nàng
công chúa đất Bắc được tổ chức rất trọng thể tại Thăng
Long thành.
Công chúa Ngọc Hân lúc mới về với Nguyễn Huệ còn rất
e thẹn sau rồi cũng quen. Hôm vào làm lễ yết các vị
tiên đế ở thái miếu, Nguyễn Huệ và công chúa Ngọc Hân
gióng kiệu cùng đi, lễ xong lại gióng kiệu cùng về.
Nguyễn Huệ lấy làm hãnh diện mà hỏi công chúa:
- Con trai con gái nhà vua, đã có mấy người được vẻ
vang như nàng?
Công chúa đáp:
- Nhà vua ít lộc, các con trai con gái ai cũng thanh
bạch nghèo khó, chỉ riêng thiếp có duyên, lấy được lệnh
công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay ở giữa trời được
sa vào chốn lâu đài như thế này, là sự may mắn của thiếp
mà thôi.
Nguyễn Huệ nghe nàng nói, rất hài lòng và càng thêm
yêu quí nàng hơn.
Thế rồi ngày Nguyễn Huệ phải về Nam đã đến, nàng công
chúa lần đầu tiên đi xa phải từ biệt người thân và hoàng
gia cùng kinh thành Thăng Long, theo chồng vào Phú Xuân.
Bà sinh được hai người con, một trai là Nguyễn Văn Đức
và mọt gái là Nguyễn Thị Ngọc. Vua Quang Trung yêu quí
Ngọc Hân không chỉ vì sắc đẹp, nết na mà còn trọng nàng
ở tài văn chương nhạc họa và cả những kiến thức về thời
cuộc quốc gia. Tình yêu của họ ngày càng nồng thắm.
Người dân kinh thành Thăng Long cứ mỗi mùa xuân đến
ngắm hoa đào đỏ thắm lại nhớ đến cành đào xuân Kỷ Dậu,
vua Quang Trung áo bào còn vương mùi thuốc súng vội
cho ngựa trạm đem cành đào Nhật Tân vào Phú Xuân tặng
người vợ yêu báo tin chiến thắng.
Họ chỉ sống hạnh phúc được trọn 6 năm, vua băng hà
lúc tuổi đời còn nhiều hứa hẹn... Ngọc Hân đau xé lòng
khóc chồng bằng bài "Ai tự vãn"
<i>... Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt
Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa!
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở!
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong?
Quyết liều mang vẹn chữ tòng
Trên rường nào ngại giữa dòng nào e!
Con trứng nước thương vì đôi chút
Chữ tình thân chưa thoát được đi
Vậy nên nấn ná đợi khi...
Hình thì tuy ở phách thì đã theo... </i>
Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, họ ngọai chuyên quyền,
nội bộ triều Tây Sơn lục đục rồi mất. Ngọc Hân và hai
con phải đổi tính danh vào sống lẫn với dân chúng ở
Quảng Nam. Không lâu sau, bị phát hiện và bị bắt, Ngọc
Hân uống thuốc độc quyên sinh, hai con bị thắt cổ chết,
đó là năm Kỷ Mùi (1799) khi bà mới 29 tuổi.
Nghe tin thê thảm ấy, Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền,
mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê Phù Ninh (tục gọi
là làng nành, tỉnh Bắc Ninh) liền thuê người vào Quảng
Nam lấy trộm được xác con và hai cháu ngoại đem về mai
táng tại làng rồi cho dựng miếu thờ. Gần 50 năm sau,
dưới thời Thiệu Trị nhà Nguyễn, miếu bị đổ nát. Một
ông tú người làng Nành nhớ công lao của Chiêu Nghi họ
Nguyễn đối với dân làng, đã quyên tiền tu sửa ngôi miếu.
Không ngờ có tên phó tổng cùng làng vốn thù riêng với
ông tú, đã cất công vào Huế tâu vua việc thờ "ngụy
Huệ". Triều đình Huế liền hạ lệnh triệt phá ngôi
miếu, quật ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú
kia bị trọng tội. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai
cũng bị giáng chức.
MỜI BẠN ĐỌC HẢI NGOẠI
PHIẾM ĐÀM XEM :
"AI
TƯ VÃN " CỦA NGỌC HÂN CÔNG CHÚA
|