| LỊCH
SỬ VIỆT NAM
Ngô
Thì Sĩ
Trong các nhân vật nổi tiếng ở thế kỷ XVIII, Ngô
Thì Sĩ được Phán Huy Chú đánh giá là người có "Học
vấn sâu rộng, văn chương hùng sĩ, làm rạng rỡ cho
tông phái nho gia, là một đại gia ở Nam Châu (tức
Sơn Nam Thượng).
Ngô Thì Sĩ quê ở Tả Thanh Oai, sinh năm 1726, là
con trưởng Ngô Thì ức, người mở đầu Ngô Gia văn
phái. Ngô Thì Sĩ hiệu là Ngọ Phong, lại có đạo hiệu
là Nhị Thanh cư sĩ. Ngô Thì Sĩ đỗ cử nhân (hương
tiến) năm 1743, sau đó thi hội mấy lần đều trượt.
Năm 1766, ông đỗ hoàng giáp. Từ 1755 đến 1764, Ngô
Thì Sĩ tuy chưa đỗ đại khoa nhưng vẫn giữ một số
chức vụ trong phủ chúa Trịnh, làm tùy giảng cho
thế tử Trịnh Sâm và Đốc đồng Thái Nguyên. Sau khi
đỗ hoàng giáp, Ngô Thì Sĩ được thăng Đông các hiệu
thư, rồi Hiến sát sứ Thánh Hóa, Tham chính Nghệ
An. Năm 1772, Ngô Thì Sĩ bị cách chức vì bị vu cáo
là ăn hối lộ. Năm 1773, ông được chúa Trịnh Sâm
phục chức, thăng làm Thiêm đô ngự sử. Năm 1777,
Ngô Thì Sĩ được cử làm Đốc trấn Lạng Sơn. Năm 1780,
Ngô Thì Sĩ qua đời tại đây, thọ 55 tuổi.
Trong cuộc đời làm quan, Ngô Thì
Sĩ tỏ ra là người có tài năng về chính trị, về xây
dựng, phát triển kinh tế và có hoài bão muốn cải
cách việc nước.
Ngô Thì Sĩ viết nhiều, tác phẩm
của ông khá đa dạng, gồm các lĩnh vực sử học, chính
trị, giáo dục, văn, thơ như: Việt sử tiêu án, Đại
Việt sử ký tiền biên, Sách chế khải tập, Bảo chướng
hoành mô, Khoa sớ tập biên, Anh ngôn thi tập, Anh
ngôn phú tập, Khuê ai lục, Ngọ Phong văn tập...
Ngô Thì Sĩ là một người từng phụ
trách những công việc quan trọng như thay mặt triều
đình giám sát việc thi hành hình pháp ở địa phương,
trấn lĩnh vùng biên giới, phát hiện, phanh phui
những điều sai trái trong triều chính... Qua hàng
loạt các bài biểu, bài khải Ngô Thì Sĩ việt tâu
lên triều đình chứng tỏ ông là nhà chính trị có
tầm nhìn xa rộng, có tâm huyết và có nhiều ý tưởng
cải cách nền chính trị đương thời với mong muốn
làm cho xã hội ổn định, nhân dân được sống lao động
yên vui.
Trên lĩnh vực sử học, Ngô Thì Sĩ
là một sử gia nổi tiếng, Việt sử tiêu án, Đại Việt
sử ký tiền biên của ông là hai công trình có giá
trị lớn, ở đó thể hiện rõ Ngô Thì Sĩ là nhà sử học
vừa có tinh thần làm việc khoa học cẩn trọng, có
nhiều phát hiện mới và suy nghĩ riêng, vừa có ngòi
bút viết sử sinh động, lôi cuốn người đọc.
Về văn học. Thơ cũng như văn xuôi,
bàn chuyện chính sự hay bộc lộ tình cảm trữ tình,
ngòi bút của Ngô Thì Sĩ thường khoáng đạt, đa dạng
và hướng vào đời sống thực, ít dùng lối ước lệ,
tượng trưng. Gia đình Ngô Thì Sĩ vốn nghèo song
ý chí quyết vươn tới thành đạt của ông thật là bền
vững. ý chí ấy được nói rõ trong nhiều áng thơ văn
mà tiêu biểu nhất là trong bài văn hài hước nổi
tiếng Bài văn trách con ma nghèo. ở đó, Ngô Thì
Sĩ tưởng tượng ra một con ma nghèo ngồi đối thoại
với ông, nó nói: "Ông vốn là người khá, duy
có một chữ "kiêu", chữ "phóng"
vẫn còn lởn vởn trong lòng, ví như nước giếng ngọt
ngon song chưa trong suốt đến tận đáy. Vì vậy nên
tôI trù trừ chưa đI, muốn hết lòng uốn nắn ông,
như luyện vàng, như nắn trúc, để cho ông lão luyện
việc đời rồi mới lập được công danh to lớn lâu dài...".
Văn Ngô Thì Sĩ có khá nhiều câu
toát lên một triết lý sống lạc quan: "Trong
chỗ rất nguy mà lại không nguy", "Trong
đau khổ thường nảy sinh sáng suốt"...
Tính hàh hước, tính lạc quan cũng
là một phong cách của văn chương Ngô Thì Sĩ.
Ngô Thì Sĩ quan niệm văn chương
phảh thiết thực, hữu dụng. Ông đả phá lối thơ chuộng
hình thức, phù phiếm. Ngô Thì Sĩ tỏ ra luôn thích
sự mới mẻ, "không bị phong cảnh tầm thường
bó buộc" và ông cũng luôn thích sự sáng tạo
mang cốt cách riêng.
Ngô Thì Sĩ sáng tác khá nhiều thơ
và thơ Ngô Thì Sĩ quả là mang phong cách của một
đạI gia, một đầu óc có học vấn lớn; nhưng không
phải vì thế mà kém đi phần bay bổng, thơ mộng:
Vườn
xa, thu muộn, hết mùa hoa,
Mây
trắng đồng quê diễu cạnh nhà
Gió
phẩy lòng ao, tre múa tít,
Nắng
rờn cánh liếp, én bay la.
Nông
phu về xách xâu cua béo,
Mục
tử lui theo tiếng quạ già...
(Ngày thu ở thôn quê)
Và:
Sóng
im màu lụa bạch
Đầm
lạnh ngút mù tan
Chùa
Trấn Quốc sen tươi, hoa cao chục trượng
Bãi
Nghi Tàm dâu tốt, lá hái trăm làn
Thuyền
ngư phủ lướt mưa bay bơI rẽ rau lên, xuống
Sáo
mục đồng tung bóng xế thổi ran lung lúa mau khoan
(Bài
phú phong cảnh Hồ Tây)
Ngô
Thì Sĩ - một tài năng và nhân cách cao đẹp
Trần
Thị Băng Thanh
Trên vách đá động Nhị Thanh tại
làng Vĩnh Trại, huyện Thoát Lãng thuộc tỉnh lỵ Lạng
Sơn (cũ), hiện còn bức phù điêu khắc đá, tạc hình
một ông già ngôi, bên dưới khắc bài văn "tự
tán":
"Người là ai? khăn áo đạo sĩ,
nét mặt nhà nho,
Thân cao bốn thước, lưng nhỏ ba chét tay,
Râu thưa, tóc mai trĩu, má hóp, lưỡng quyền gầy.
Há không chốn tiêu dao mà làm tổ trong hang này?
Văn dốt vũ dát, chính sự độn, việc "hành chỉ"
tuềnh toàng, không một nét đáng ghi lại.
Duy tính ưa suối đá, mà chí khí ở nơi hồ biển,
Được hang động này thật thích hợp, để gìn giữ cái
tuổi già lều lảo của ta..."
Đó là chân dung thực của Ngô Thì
Sĩ và cũng là những lời ông bộc bạch về con người
mình - chỗ hay cũng như chỗ dở. Ông sinh ngày 15-10-1726,
có hiệu là Ngọ Phong, quê làng Tả Thanh Oai, trấn
Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hà Tây). Gia đình Ngô Thì
Sĩ nổi tiếng thi thư. Ông nội là Ngô Trân, cha là
Ngô Thì ức, em là Ngô Thì Đạo đều có tài văn học.
Thuở nhỏ, vì cha mất sớm, Ngô Thì
Sĩ được ông nội chăm sóc dạy dỗ. Ông học giỏi, nhưng
thi cử lận đận, vì những ý tứ mới lạ và văn chương
phóng khoáng của ông không hợp với các quan trường.
Tiếng tăm ông lừng lẫy càng làm cho người ta thành
kiến. ở các kỳ thi Hội, người chấm cứ tìm các bài
văn đoán là văn Ngô Thì Sĩ để đáng hỏng. Chúa Trịnh
biết việc này, đã cách chức một khảo quan là Trần
Tổ (1752), nhưng thành kiến của quan trường vẫn
không thay đổi. Đến năm 1766, Ngô Thì Sĩ mới đỗ
được Hoàng Giáp. Ông liên tiếp làm quan ở nhiều
nơi: Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, rồi cuối cùng
là Đốc trấn ở Lạng Sơn, mất tại nhiệm sở ngày 22-10-1780.
Ngô Thì Sĩ xuất thân từ một gia
đình quan chức nhỏ, cái nghèo đeo đuổi ông từ thuở
học trò cho đến khi đã thành một viên chức trong
phủ chúa và cả khi đã thành một triều quan. ông
đã từng có những giai đoạn mỗi tháng có đến mười
lăm ngày bị "gạo củi bức bách..., túi rỗng,
bếp lạnh" (Trách ma nghèo). Cũng đã từng phải
đi vay để đáp ứng nạn gạo châu củi quế, "nhưng
dần dần người ta chán vì thất tín nên một tiền cũng
kiên quyết chối từ" (Nông đáp). Tình cảnh Ngô
Thì Sĩ cũng là hiện tượng khá phổ biến của tầng
lớp nho sĩ trí thức đương thời. Tuy nhiên, nhiều
người trong số họ vẫn rất tha thiết với đất nước,
vẫn mang hoài bão "tri quân trạch dân"
và họ trăn trở rất nhiều trước thời cuộc, Ngô Thì
Sĩ cũng vậy. Hơn ba mươi năm làm quan, ông đã đề
xuất nhiều vấn đề và trực tiếp đối thoại với phủ
chúa. Đó là các đề nghị chấn chỉnh thi cử, sửa đổi
chính sách thuế khóa, chiêu tập nông dân phiêu bạt
về khai hoang, hạn chế việc nhà giàu chiếm đoạt
ruộng đất, nghiêm trị bọn quan lại hà hiếp dân,
phòng thủ biên giới... Ông đặc biệt thông cảm và
dành nhiều ưu ái cho tầng lớp học trò và nông dân.
Vào thời điểm bấy giờ, khi bộ máy quan liệu đã hết
sức sa sút, một người có nhân cách cao đẹp như ông
thật hiếm có.
Ngô
Thì Sĩ là một trí thức có nhiều hoài bão. Suốt đời,
ông theo đuổi lý tưởng làm một người có ích cho
dân cho nước. Trong chính trị, có thể ông không
thành công, nhưng trong sử học, văn học, ông có
rất nhiều đóng góp. Ông thực sự có vai trò người
sáng lập Ngô gia văn phái. Ông là một nhà sử học
lớn với các tác phẩm Việt sử tiêu án, Đại Việt sử
ký tiền biên, một phần Đại Việt sử ký tục biên.
Lối chép sử của ông có tinh thần dân tộc, có nhiều
phát hiện, và có phong cách khoa học. Ngô Thì Sĩ
cũng là một nhà văn đa dạng về bút pháp và có một
khối lượng tác phẩm khá lớn. Bảo chướng hoằng mộ
cho ta thấy sự sắc sảo, giàu tinh thần phê phán
của ngòi bút nghị luận, Ngọ phong văn tập thể hiện
chất hiện thực, phong phú của ngòi bút ký sự. Anh
ngôn thi tập thể hiện chất hào hoa đằm thắm của
một tâm hồn thi sĩ giàu nhân ái, trung hậu... Song
có lẽ nổi bật nhất ở Ngô Thì Sĩ là chất cận đại
trong thi pháp của ông. Đó là chất văn xuôi, chất
đời sống thường xuất hiện đậm nét ở mọi thể loại.
Có thể gặp trong tác phẩm của ông những con số thống
kê có thực, những cảnh thực, người và chuyện thực.
Điều này là mới mẻ so với bút pháp ước lệ, khoa
trương, tượng trưng của văn học thời Trung đại,
Ngô Thì Sĩ cũng có thể xem là nhà thơ tình sớm nhất
trong văn học Việt Nam. Có lẽ trước ông, không tìm
thấy trong văn học nước ta nhà văn nào có cả một
tập như tập Khuê ai lục nói về người vợ, người tình
một cách thâm trầm da diết như vậy. Ngoài ra, thơ
đề vịnh của Ngô Thì Sĩ cũng bộc lộ được tính cách
hào hoa, tâm hồn phong phú và nhạy cảm của ông trước
cảnh đẹp của quê hương đất nước.
CHUYỆN NGƯỜI CON:
NGÔ
THÌ NHẬM: KHUÔN MẶT TRÍ THỨC LỚN THỜI TÂY SƠN
NGUYỄN
MỘNG GIÁC
Nói
theo ngôn ngữ ngày nay, Ngô Thì Nhậm là một nhân
vất lịch sử gây nhiều tranh luận, một người có "vấn
đề". Gây tranh luận chẳng những do tài học
của ông (bao gồm cả thi phú, biên khảo địa phương
chí, Nho học, Phật học), do cuộc đời hoạt động chính
trị quá nhiều thăng trầm của ông, mà còn do những
điều ông nói ông làm đặt nhiều người trước những
vấn nạn khó xử. Ngô Thì Nhậm là người không chịu
chấp nhận dễ dàng những điều nhiều người chấp nhận,
không đi theo lối mòn.
Cũng
giống như Quang Trung, Ngô Thì Nhậm bị thời thế
đưa đẩy để phải quyết định những bước sinh tử ảnh
hưởng đến nhiều người, nhưng ngược lại, có đủ bản
lãnh để khắc phục tình thế và lái lịch sử đi theo
con đường mình cho là đúng.
Trong lịch sử Việt nam, ít có người trí thức nào
đạt được mức tự tín và tài ba như ông. Trước ông,
Chu Văn An là một huyền thoại về kẻ sĩ, một thứ
huyền thoại cần thiết cho đạo học, nhưng chưa chắc
đã cần thiết cho các hoạt động thưc tế.
Nguyễn
Trãi cũng có kiến thức uyên bác và khả năng hành
động như Ngô Thì Nhậm, nhưng những khó khăn Nguyễn
Trãi phải đối phó, so với Ngô Thì Nhậm, không nhiều.
Làm quân sư cho một phong trào dân tộc kháng chiến
chống ách đô hộ của ngoại bang để giành độc lập,
Nguyễn Trãi cứ thuận theo chính nghĩa có sẵn để
thi thố tài năng. Tổ quốc với vương triều ông tận
tụy phục vụ là một. Về cuối đời, Nguyễn Trãi có
gặp tai họa, nhưng nạn giết hại công thần không
phải là hy hữu trong lịch sử, Nguyễn Trãi là nạn
nhân của một guồng máy cai trị muốn ổn định quyền
lực (nhà Hậu Lê) cũng giống như Lê Văn Duyệt là
nạn nhân của nhà Nguyễn sau này.
Ngô
Thì Nhậm không được may mắn như Nguyễn Trãi. Xã
hội ông sống bị hỗn loạn tận gốc rễ, nhất là sự
hỗn loạn về ý hệ. Tổ quốc và vương triều không phải
là một như thời Nguyễn Trãi, trung với vua không
nhất thiết là trung với nước. Mãi cho tới ngày nay,
hơn hai trăm năm sau, chúng ta còn khó đồng ý với
nhau về việc vua Lê Chiêu Thống qua cầu viện nhà
Thanh để diệt Tây Sơn hoặc Nguyễn Ánh cầu viện quân
Xiêm, thì hồi đó, lòng Ngô Thì Nhậm và giới trí
thức nho sĩ đương thời còn bối rối đến mức nào trước
các thế lực chính trị phức tạp, mà thế lực nào cũng
tự xem mình là có chính nghĩa, là chính thống. Ở
Ðàng trong là Nguyễn Gia miêu và Tây sơn. Ở Bắc
là vua Lê chúa Trịnh. Riêng triều thần phục vụ chúa
Trịnh lại thêm phe Trịnh Tông, phe Trịnh Cán. Ngô
Thì Nhậm mắc kẹt trong cái thế phân tranh rối rắm
đó ngay từ đầu, mang tai tiếng ngay trên quê hương
mình, tạo nghi kỵ chia rẽ ngay trong dòng họ mình.
Ông may mắn gặp được một lãnh tụ chính trị biết
dùng người nên ra sức phục vụ đắc lực trong nhiều
phạm vi khác nhau, quân sự có, văn hóa có, kinh
tế có, ngoại giao có, để rồi sau khi Quang Trung
mất, đau đớn chứng kiến vương triều mình góp công
xây dựng suy sụp và lãnh sự trừng phạt nhục nhã
vào cuối đời.
Mẫu
đời đó quá đặc biệt, dù xét từ quan điểm nào. Thời
loạn tạo vóc dáng cho nhà nho Ngô Thì Nhậm, và ngược
lại, Ngô Thì Nhậm cũng để lại dấu vết sâu đậm của
con người mình lên thời loạn. Không có Ngô Thì Nhậm,
xã hội Việt nam sẽ ra sao nếu không có một người
uyển chuyển và khôn khéo về ngoại giao như ông để
đối phó với nhà Thanh? Không có Ngô Thì Nhậm, đám
nhân sĩ Bắc hà sẽ phản ứng thế nào trước một đám
võ biền quá tự tín về sức mạnh võ bị lại được giao
phó trọn vẹn quyền uy để cai trị một vùng đất ngàn
năm văn vật? Những dự phóng của Ngô Thì Nhậm cho
một nền kinh tế hậu chiến (như trong bài Chiếu khuyến
nông) đã đưa tới kết quả gì?
Tìm
hiểu cuộc đời Ngô Thì Nhậm tuy khó nhưng còn làm
được, phán xét về ông thì khó hơn, vì đòi hỏi một
cái nhìn đã thoát khỏi các ý hệ. Ngô Thì Nhậm là
một nhân vật lịch sử danh tiếng và tai tiếng.
Ngô
Thì Nhậm, tự là Hi Doãn, hiệu là Ðạt Hiên, viết
về Phật học lại có đạo hiệu là Hải lượng, sinh ngày
11 tháng 9 năm Bính Dần (25-10-1746) tại làng Tả
Thanh oai, huyện Thanh trì, thuộc một dòng họ nổi
tiếng về cử nghiệp và khoa hoạn. Cha ông là Ngô
Thì Sĩ (1726-1780), đỗ Hội nguyên hoàng giáp, từng
làm quan lớn cho nhà Trịnh, khi là Tham chính Nghệ
an, khi làm Ðốc trấn Lạng sơn (đúng vào lúc con
trai ông, Ngô Thì Nhậm làm Ðốc đồng Kinh bắc kiêm
Ðốc đồng Thái nguyên, hai cha con trấn nhậm tại
ba trong bốn trấn quan trọng nhất quanh kinh đô
Thăng long). Về văn nghiệp, Ngô Thì Sĩ là tác giả
"Việt Sử Tiêu Án" và một số tập thơ Hán
văn giá trị như "Anh Ngôn Thi Tập", Quan
Lan Thi Tập", "Nhi Thanh Ðộng Tập",
"Khuê Ai Lục". Ông mất năm Canh Tý (1780)
sau vụ án Canh Tý (Trịnh Sâm dẹp tan âm mưu đảo
chính của phe cánh Trịnh Tông muốn diệt trừ phe
cánh Ðặng Thị Huệ và Quận Huy), do bạo bệnh sau
một chuyến đi Nam quan cho việc quan, nhưng dư luận
Bắc hà có ác cảm với Ngô Thì Nhậm cứ phao truyền
rằng ông buồn vì con trai mà chết.
Có
lẽ thật sự Ngô Thì Sĩ không hề buồn phiền vì đứa
con trai đầu của mình. Ngược lại là khác, Ngô Thì
Nhậm là một niềm hãnh diện cho ông. Nhờ truyền thống
gia đình văn học và nhờ tư chất thông minh, Ngô
Thì Nhậm thành công rất sớm. Mười sáu tuổi đã viết
cuốn "Nhị thập tứ sử toát yếu". Mười chín
tuổi đỗ đầu kỳ thi hương. Hai mươi tuổi, viết "Tứ
gia thuyết phả". Hai mươi ba tuổi, đỗ khoa
sĩ vọng, được bổ Hiến sát phó sứ Hải dương. Hai
mươi sáu tuổi, dự khảo thí ở Quốc tử giám, đỗ ưu
hạng đồng thời hoàn thành "Hải đông chí lược",
một tập địa phương chí của Hải dương. Hai mươi chín
tuổi, đỗ thứ năm hàng tiến sĩ tam giáp, cùng khoa
với Phan Huy Ích. Ðạt được học vị cao nhất của thang
giá trị học vấn thời đó, Ngô Thì Nhậm liên tiếp
được giao cho những chức vụ quan trọng:
Năm
1775: Hộ khoa cấp sự trung ở bộ Hộ.
Năm 1776: Giám sát Ngự sử đài đạo Sơn nam, sau đó
thăng Ðốc đồng trấn Kinh bắc.
Năm 1778: Vẫn giữ Ðốc đồng Kinh bắc nhưng kiêm thêm
chức Ðốc đồng Thái nguyên.
Từ
thời niên thiếu cho đến 1780 nổ ra vụ án Canh Tý,
cuộc đời 35 năm của Ngô thì Nhậm gồm một chuỗi những
thành công bình thường ở vào một thời bình thường.
Thành công về cử nghiệp và hoạn lộ đi kèm với những
thành công về văn chương. Thơ phú Ngô Thì Nhậm sáng
tác thời kỳ này vượt hẳn những bạn đồng thời. Phan
Huy Ích trong bài tựa tập "Ngô gia văn phái"
hết lời ca tụng ông bạn tiến sĩ đồng khoa và cũng
là anh vợ mình: "Văn ông có ý tứ diễm lệ, vừa
hàm súc, vừa phóng khoáng, càng ra nhiều lại càng
hay, bao quát được bách gia, khu khiển được cửu
lưu, tài uyên bác thông đạt trở thành ngọn cờ chót
vót giữa rừng Nho chúng ta."
Gác
một bên những lời thậm xưng thường thấy trong phả
ký của các thế gia vọng tộc, gác qua một bên lòng
ngưỡng mộ riêng tư của Phan Huy Ích đối với một
ông anh vợ xuất chúng, đọc lại văn thơ Ngô Thì Nhậm
trong thời kỳ này, chúng ta thấy tư tưởng của ông,
nghệ thuật của ông tuy có tài hoa phóng dật đấy,
nhưng vẫn là cái tài hoa phóng dật trong vòng trật
tự khuôn thước. Khuôn thước do niềm kiêu hãnh dòng
dõi. Khuôn thước của một ý hệ chưa bị thời loạn
thử thách. Trong bài Cô Châu, ông viết:
Nhân
nghĩa vị cao, trung tín đà
Niên niên phiếm tác Ðẩu quang xa
(Nhân
nghĩa làm con sào, trung tín làm bánh lái
Ðóng thành một chiếc bè, hàng năm giong lên vùng
sao Ðẩu)...
Tái
đạo khứ lai, nhàn áp lãng,
Bình tâm hành chỉ, đẳng doanh khoa.
(Chở
đạo thánh hiền, ung dung đè làn sóng mà qua lại,
Khi bơi khi nghỉ, vững lòng đợi nước đầy vũng mà
tiến lên) (1)
Loại
thơ phú nói lên chí khí kẻ sĩ lúc chưa gặp thời,
an bần lạc đạo như thế này, có thể nói là thời thượng
chung chung của tất cả thi gia thời xưa, chỉ khác
nhau về cách diễn tả, về nghệ thuật diễn tả chứ
không khác mấy về nội dung. Trước Ngô Thì Nhậm,
Nguyễn Trãi cũng viết chừng ấy. Sau ông, Cao Bá
Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ... cũng viết
chừng ấy.
Vụ
án năm Canh Tý là thử thách đầu tiên cho Ngô Thì
Nhậm, vụ tai tiếng đầu tiên thử thách sức mạnh nhân
sinh quan và sức phấn đấu của ông. Nội vụ như sau:
Khoảng tháng 7 năm 1780 (Canh Tý) Trịnh Tông con
trai trưởng của Tĩnh vương Trịnh Sâm biết cha có
ý định phế trưởng lập Trịnh Cán con trai Ðặng Thị
Huệ, nên âm mưu đảo chính diệt trừ phe Ðặng Thị
Huệ và Quận Huy, nhất là lúc ấy Trịnh Sâm bị bệnh
nặng. Trịnh Tông liên kết với Nguyễn Khản trấn thủ
Sơn tây, Nguyễn Khắc Tuân trấn thủ Kinh bắc, và
một số quan lại khác tại triều như Nguyễn Phương
Ðĩnh, Chu Xuân Hán... xuất tiền mua vũ khí, chiêu
mộ binh mã, chờ Trịnh Sâm chết là khởi sự. Bất ngờ
Trịnh Sâm khỏi bệnh và âm mưu bị bại lộ. Sâm đích
thân đàn áp những người tham dự vào âm mưu đảo chính.
Nguyễn Khắc Tuân, Nguyễn Phương Ðĩnh, Chu Xuân Hán
bị khép án tử, Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du) cũng
bị khép trọng tội. Sau vụ đàn áp đẫm máu, Ngô Thì
Nhậm được thăng làm Công bộ Hữu thị lang.
Vụ
này khiến cho giới sĩ phu Bắc hà xem Ngô Thì Nhậm
như một loại chiên ghẻ. Sử sách ghi lại vụ này theo
nhãn quan chính trị của mình."Việt sử thông
giám cương mục" của triều Nguyễn cho rằng Ngô
Thì Nhậm cùng Nguyễn Huy Bá tố cáo âm mưu đảo chính
cho Trịnh Sâm biết, nhờ thế sau khi đàn áp, Sâm
thưởng công cho Ngô Thì Nhậm bằng chức tước cao
trọng. Ngô Thì Sĩ bị nhục nhã vì đứa con bất hiếu,
uống thuốc độc tự tử. Do đó Nhậm mới bị cái tiếng
"sát tứ phụ nhi thị lang" ( giết bốn cha
để được chức Thị lang. Bốn cha ý chỉ Ngô Thì Sĩ
và ba người bạn vong niên của cha là Nguyễn Khản,
Nguyễn Phương Ðĩnh và Nguyễn Khắc Tuân).
"Hoàng
Lê Nhất Thống Chí" và "Ngô gia thế phả"
dĩ nhiên bênh vực cho Ngô Thì Nhậm, cho rằng ông
không liên can vào vụ này, và sở dĩ được Trịnh Sâm
thăng chức chỉ vì Ngô Thì Nhậm bị Quận Huy ganh
ghét, muốn ông phải mắc tai tiếng với đời. Những
tài liệu lịch sử khác, độc lập hơn, như "Hậu
Lê Thời Sự Kỷ Lược", "Lịch Triều Tạp Kỷ"
tuy ghi nhận dư luận đương thời nhưng không hề nói
Ngô Thì Nhậm tố cáo vụ đảo chính. Có hay không,
cho đến ngày nay vẫn còn là một nghi vấn, việc xét
công tội của Ngô Thì Nhậm cũng không còn là vấn
đề quan trọng nữa. Ngô Thì Nhậm tham dự vào trò
chơi chính trị thì phải gánh lấy những hậu quả của
các âm mưu tranh giành quyền bính. Oan hay ưng,
không thành vấn đề. Sau loạn kiêu binh, ông đã phải
trả giá cho trò chơi quyền bính này, phải trốn nấp
suốt sáu năm trong nhục nhã, khổ cực.
Ðiều
quan trọng là Ngô Thì Nhậm đã đối phó như thế nào
trước tai họa ấy. Thơ phú ông làm trong sáu năm
sống ẩn nấp (từ 1782-1788) phản ánh rất rõ tâm trạng
Ngô Thì Nhậm thời gian này, nhất là các bài phú.Ba
bài phú tiêu biểu nhất của thời kỳ này là "Mộng
Thiên thai phú", "Lâm trì phú", Tiêu
dao du phú". Tai tiếng ông gánh chịu sau vụ
án Canh Tý chỉ ảnh hưởng chút ít đến tâm hồn Ngô
Thì Nhậm, không hề làm cho ý hệ Nho giáo - kim chỉ
nam của đời ông - bị lung lay. Những bài phú tài
hoa phóng dật ấy, mới đọc chúng ta tưởng ông đã
thoát ra khỏi cương giới của Nho giáo, bay bổng
lên trên những ràng buộc, nhưng đọc kỹ thì thấy
không phải thế. Ngô Thì Chí, em ruột Ngô Thì Nhậm
thật đã hiểu rõ lòng anh khi nhận xét rằng trong
bài phú của anh (Mộng Thiên thai phú) "núi
sông, phong cảnh, vua chúa, Tiên Phật, thảy đều
định rõ ranh giới, rút cả vào hai chữ 'danh giáo'
của nhà Nho".Trong "Mộng Thiên thai phú",
Ngô Thì Nhậm mượn lời "khách" đặt câu
hỏi cho chính mình:
Tử
tương hà cư? Tiên dư? Thích dư?
Ức hiệu chiêm hoàng ốc chi hậu trần dư?
Dĩ ngô quan tử:
Khứ quốc, hoài hương, ưu sàm, úy ky (cơ)
Nan vi Lưu, Nguyễn chi cao đạo
Khả học Tam tổ chi từ bi
Tĩnh phương thốn ư dục động,
Liễm vạn sự ư vô vi
(Nay
ông định sao nhỉ? Theo Tiên ư? Theo Phật ư?
Hay theo ngắm bụi đường của xe hoàng ốc ru?
Ta xem ông, rõ kẻ:
Bỏ nước, nhớ mong quê
Ðã ngại lời dèm báng
Lại sợ tiếng cười chê
Khôn theo Lưu, Nguyễn đường cao ẩn
Nên học Tam tổ đạo từ bi
Gửi lòng mình vào tĩnh lặng
Gác mọi việc vào vô vi.)
để
sau đó tự trả lời:
Dư
văn khách ngôn, phú chướng đại tiếu:
Ngô hà năng Tiên, Thích diệc bất đáo
Liêu tòng sự ư kinh tịch
Cầu vô khiếm hồ danh giáo
Túng Hợp Phố chi hữu niên
Giác cô tùng chi tương lão:
Kỳ hoặc:
Thiên địa vô ải, giang sơn tương yêu
Quải nhất biểu hề, du ngao.
Biến vũ trụ dĩ vi lư
Phù hà hệ hồ hồng mao?
Ngô tử điểm kiểm tư sơn, đãi ngô tiêu dao.
Nhân sinh giải cấu giai tiền định
Khởi trực Ðào Nguyên năng thụ đào?
(Nghe
lời khách nói xong, ta vỗ tay, cười bảo:
Tôi sao thể thành Tiên? Phật, cũng không đắc đạo!
Chỉ theo hướng Thi Thư
Khỏi trái đường "danh giáo"
Hợp Phố kia về, hoặc có phen,
Gốc thông lẻ xem chừng sắp lão!
Thảng hoặc:
Ðất trời chẳng hẹp,
Núi sông yêu cầu,
Quẳng một bầu chừ, chơi thỏa thích
Phất tay áo chừ, đi ngao du
Khắp vòng vũ trụ, nhà ta đó
Ðôi cánh chim hồng buộc được nao?
Núi này xin dành lại
Ðợi ta về tiêu dao
Ðời người gặp gỡ do tiền định
Há chỉ Ðào Nguyên mới gặp đào. (2)
Ngô
thì Nhậm vững tin ở thiên mệnh; hệ thống tư tưởng
Nho giáo giúp ông an nhiên chờ thời và chịu đựng
nghèo túng lẫn dư luận.
Cái
"thời" ông chờ đã đến vào năm 1778, lúc
Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai giết Vũ Văn Nhậm và
xuống chiếu tìm quan lại cũ của cựu triều để giao
cho trọng trách cai trị Bắc hà. Tài liệu sử còn
lại cho đến ngày nay bảo rằng Ngô Thì Nhậm là người
đầu tiên trong đám nhân sĩ Bắc hà tới trình diện
ở bộ Lễ , và vì một sự hiểu lầm, suýt bị lễ quan
Võ Văn Ước làm nhục. Văn thơ của ông không lưu dấu
tích tâm trạng ông trước khi quyết định phục vụ
cho triều Tây Sơn. Chúng ta có thể đoán đây không
phải là một quyết định vội vã, dễ dàng.
Thử
ở vào hoàn cảnh Ngô Thì Nhậm lúc đó. Cả dòng họ
ông là bề tôi phủ chúa, chính ông nhận được nhiều
ân huệ của Tĩnh vương Trịnh Sâm. Ông từng hãnh diện
cho rằng mình là người lái thuyền lấy "nhân
nghĩa" làm con sào, "trung tín" làm
bánh lái, thì bây giờ phải ăn làm sao nói làm sao
với mọi người khi ra cộng tác với Nguyễn Huệ người
xô ngã họ Trịnh. Ông đã nếm đủ vị cay đắng của dư
luận suốt sáu năm qua. Ông biết trước là lần này
dư luận sẽ khắc nghiệt hơn, độc địa hơn.
Những
nhà viết sử ở Hà nội ca tụng hết lời quyết định
hợp tác với Tây Sơn của Ngô Thì Nhậm, xem như một
"giác ngộ cách mạng", "trở về với
nhân dân"... Việc xưng tụng theo nhãn quan
đấu tranh giai cấp của sử gia cộng sản Việt nam
đã làm, vừa gượng ép, vừa không hợp lý. Ở vào thời
kỳ việc thông tin còn khó khăn, tài liệu tuyên truyền
của chính quyền vừa sơ sài vừa khó phổ cập (do trở
ngại Hán tự trong các chiếu biểu và văn thư hành
chánh), khó lòng Ngô Thì Nhậm biết được thực chất
của Tây sơn là gì. Mai Quốc Liên viết tiểu sử Ngô
Thì Nhậm trong "Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm"
bảo rằng: "Chính sách cầu hiền chân thành và
sáng suốt của Nguyễn Huệ, uy tín lớn lao của người
anh hùng nông dân áo vải này, đã gặp sự chờ đợi
của Ngô Thì Nhậm sau bao năm ẩn náu". Lối nhận
định ấy giản lược quá đáng thực tại lịch sử. Thật
ra, sau lần đầu kéo quân ra Bắc diệt Trịnh, đặt
một ông vua trẻ họ Lê lên cái ngai khập khễnh, cưới
một nàng công chúa mươì sáu tuổi và vơ vét kho tàng
của cải của phủ chúa chở về Nam, Nguyễn Huệ chỉ
mới khiến cho dân Bắc hà bàng hoàng kinh sợ (lớp
quí tộc vương tôn lâu đời) hoặc tò mò thích thú
(lớp dân chúng nghèo khổ), chứ chưa gây được một
uy tín lớn lao. Ngô Thì Nhậm từng viết:
Ngô
hoài ký liêu khuếch
Tư sơn trường thôi ngôi
Vọng tri kỷ hề, thiên nhất nhai
Hà nhân thức hề, ngô linh đài?
(Lòng
ta gửi man mác
Núi này mãi cao vời
Mong Người-Tri-Kỷ chừ, một phương trời
Lòng ta chừ, tri âm ai người? (3)
(Mộng Thiên thai phú)
Người-Tri-Kỷ
ông chờ đợi, vào thời điểm 1778, không phải, chưa
phải là Nguyễn Huệ. Xuất xứ của Nguyễn Huệ, vóc
dáng của Nguyễn Huệ, hành động của Nguyễn Huệ thật
khó mà phù họp với dự tưởng của ông Nghè Nhậm về
Người-Tri-Kỷ. Ðó là một sức mạnh hoang dã bất trắc,
hứa hẹn bão táp chứ không hứa hẹn một trất tự ổn
cố như mong ước của nhà nho. Nếu muốn tìm một mẫu
thực cho hình ảnh Người-Tri-Kỷ, có lẽ Ngô Thì Nhậm
nghĩ tới Tĩnh vương Trịnh Sâm, lúc vị chúa này chưa
bị cái nạn Tuyên phi.
Là
người đầu tiên trong số cựu thần phủ chúa đến trình
diện ở bộ Lễ, Ngô Thì Nhậm chưa chắc đã quyết định
dứt khoát và sớm sủa hơn các bạn đồng liêu. Có thể
chỉ vì không thể chịu đựng hơn nữa cuộc sống ẩn
nấp ru rú, ông đánh một ván cờ liều. May cho ông,
ông gặp Trần Văn Kỷ, một trí thức cùng trình độ
và cùng một khả năng hành động như ông. Sau đó,
ông nhận được lòng tín nhiệm tuyệt đối của Nguyễn
Huệ.
Thử
thách lớn lao nhất của Ngô Thì Nhậm, vì thế, không
phải là quyết định ra hợp tác với nhà Tây sơn, mà
là những gì ông phải đương đầu sau đó. Ông được
Nguyễn Huệ phong ngay cho chức Tả Thị lang bộ Lại,
tước Tĩnh phái hầu, cùng với Võ Văn Ước coi tất
cả quan văn võ của triều Lê. Như vậy là sau khi
Nguyễn Huệ về Nam, Ngô Thì Nhậm đột ngột trở thành
nhân vật cao cấp nhất trong guồng máy cai trị của
Bắc hà, song song với Ngô Văn Sở người của Tây Sơn
trông coi về quân sự và an ninh. Ông không còn cái
an toàn của người thừa hành trong guồng máy. Trước
hết, ông phải đương đầu với chính cái ý hệ đã giúp
ông an nhiên tự tín bao lâu nay, ý hệ Nho giáo.
Hệ thống triết lý (bao gồm đầy đủ luận lý học, đạo
đức học, tâm lý học, siêu hình học, chính trị xã
hội học) này trong quá trình phát triển đã dần dần
biến cải, giản lược, càng về sau càng trở thành
một lý thuyết hữu hiệu để duy trì trật tự phong
kiến. Với đa số dân chúng, ý hệ nho giáo đơn giản
hóa thành những tiêu chuẩn đạo đức như trung, hiếu,
tiết, nghĩa. Người cầm quyền đặc biệt đưa vào chương
trình giáo dục và đào tạo người thừa hành ý niệm
tuyệt đối của chữ "Trung", của "Lẽ
Chính Thống".
Chắc
chắn trước khi quyết định ra hợp tác với Tây Sơn,
Ngô thì Nhậm đã trằn trọc nhiều đêm vì chữ "Trung".
Ông phải tự hỏi triều Tây Sơn có "thiên mệnh"
hay không? Nguyễn Trãi không hề thắc mắc như thế.
Những người theo phò Nguyễn Ánh lấy lại cơ nghiệp
nhà Nguyễn và những cựu thần Lê Trịnh chống Tây
Sơn cũng không hề thắc mắc gì. Họ đầy tự tin, vì
việc họ làm, vương triều họ bảo vệ đã có cái nền
chính thống dày những hai trăm năm. Núi sông, đồng
bằng, cây cỏ, chim muông, tấc đất ngọn rau đều là
của "chúa", Trịnh ở Ðàng Ngoài, Nguyễn
ở Ðàng Trong. Tổ tiên Trịnh Nguyễn có công gầy dựng
thì con cháu hai trăm năm sau (dù là hạng con cháu
ốm yếu bệnh hoạn như Trịnh Cán) có quyền được hưởng,
anh em Tây Sơn lấy cái "mệnh" gì mà từ
một chỗ heo hút vô danh dám nổi lên diệt Nguyễn,
diệt Trịnh. Phải công nhận họ đang có sức mạnh,
nhưng sức mạnh không qua được lẽ phải. Lẽ phải nằm
ở đâu? Ngô Thì Nhậm phải trả lời những câu hỏi hóc
búa đó, trước là cho ông, sau đó cho những người
thân trong gia đình, cho các bạn học, cho các bạn
đồng liêu nay trở thành kẻ dưới quyền ông.
Ngô
Tưởng Ðạo chú ruột, Ngô Thì Chí em ruột đã chọn
phía đối nghịch với ông. Những lá thư trao đổi giữa
Ngô Thì Nhậm với Ngô Tưởng Ðạo, Trần Danh Án còn
lưu lại, chứng tỏ phản ứng của giới nho sĩ bảo thủ
Bắc hà đối với Ngô Thì Nhậm gay gắt, khốc liệt đến
mức nào. Là nho sĩ Bắc hà, lại nhận nhiệm vụ quan
trọng nhất Tây Sơn giao cho để đối phó với tình
trạng rối ren phức tạp ngay trên quê hương mình,
Ngô Thì Nhậm chịu tất cả mọi chỉ trích, phỉ báng,
chửi rủa. Ông có quyền, nhưng hoàn toàn bị cô lập,
hoàn toàn cô đơn.
Ðã
thế, ông còn phải hàng ngày đối phó với một đám
tướng lãnh Tây Sơn ít học và hãnh tiến, tự cao tự
đắc với thứ quyền uy mới mẻ của mình. Vũ Văn Nhậm
đã bị giết nhưng chắc chắn cung cách kiêu lộng của
Nhậm taị Thăng long vẫn là chuyện đầu môi của dân
Bắc hà. Ngô Văn Sở có khá hơn không?
Theo
Hoàng Lê Nhất Thống Chí:
"Một
hôm, mọi người cùng họp nhau ăn uống ở nhà hiệp
nghị, Sở bảo Lân (nội hầu) và Tuyết (đô đốc) rằng:
-
Chúa công đem cả thành lớn giao phó cho ta, cũng
ví như sai người cắt áo gấm mà chưa thể tin là có
biết cách cầm kéo hay không. Các ông thấy việc đó
ra sao? Giả thử có Tề thiên Ðại thánh từ trên trời
rơi xuống hay Diêm vương từ dưới đất lên, ta cũng
chỉ quét một lưới là hết. Huống chi cái lũ tẹp nhẹp,
chẳng qua chỉ để người ta thử xem gươm có sắc hay
không, chứ làm được trò trống gì.
Rồi
Sở ngoảnh lại ảo Ngô Thì Nhậm rằng:
-
Quan Thị lang thật giỏi về văn học, còn việc cung
kiếm có thạo gì không?
Nhậm
nói:
-
Có văn tất phải có võ, văn võ không phải chia làm
hai đường. Nhưng người xưa dùng binh, gặp việc thì
lo, sao ngài lại lấy việc binh làm trò chơi mà coi
thường như thế? Tôi trộm nghe bọn người nước ta
chạy sang bên Trung hoa, trong đó có nhiều người
định xúi họ mở mang bờ cõi, gây ra binh biến. Ngài
chịu sự ký thác ở cõi ngoài, e rằng không khỏi một
phen bạc đầu vì lo lắng, đến lúc ấy ngài nên nhớ
đến lời nói của tôi.
Sở
cười và nói:
-
Lúc ấy sẽ phiền ông làm một bài thơ để lui quân
giặc. Nếu không làm được như thế, thì túi dao bao
kiếm chính là phận sự của kẻ võ thần, can gì phải
quá lo? " (4)
"Hoàng
Lê Nhất Thống Chí" là một cuốn tiểu thuyết
lịch sử do người trong gia đình Ngô-thì viết, nên
người đọc có quyền nghi ngờ các tác giả đã tô điểm
thêm cho phong thái tự tại tự tín của Ngô Thì Nhậm
trước các tướng tá Nam hà. Nhưng cứ suy luận theo
lẽ thường tình, thì thái độ hống hách khinh thị
của Ngô Văn Sở đối với người Bắc hà là có thật.
Còn thái độ ung dung tự tín của Ngô Thì Nhậm trước
đám võ biền kiêu ngạo, tôi cũng nghĩ là có thật.
Nếu ông tỏ ra qụy lụy hèn nhát, hoặc cầu an vâng
dạ cho xong, thì về sau, Ngô Thì Nhậm không đủ uy
và dũng để thuyết phục Ngô Văn Sở tạm rút quân về
Tam điệp trước sức tấn công vũ bão của quân Thanh.
Phải có một nghị lực phi thường, một niềm tin mạnh
mẽ vào sức mạnh của trí tuệ, Ngô Thì Nhậm mới đối
phó nổi, một bên là dư luận ác cảm của sĩ phu Bắc
hà, một bên là bản tính thô bạo kiêu căng của đám
tướng lãnh Tây Sơn.Tôi nghĩ Ngô Thì Nhậm phải đợi
tới lúc Nguyễn Huệ xưng đế và đại phá quân Thanh,
ông mới hoàn toàn yên ổn về tinh thần. Chữ "trung"
không còn quấy rầy ông nữa. Ông không còn mặc cảm
bất trung với chúa Trịnh, mà dư luận cũng hết xem
ông như một kẻ xu thời, phản bội. Ðến lúc ấy, Ngô
Thì Nhậm mới có được ưu thế thuận lợi của Nguyễn
Trãi. Ông dốc toàn tài năng cho nhà Tây Sơn.
Chính
sách ngoại giao khôn khéo đối với nhà Thanh, không
nghi ngờ gì nữa, là tác phẩm của Ngô Thì Nhậm, không
phải là công trạng của Quang Trung. Từ lúc khởi
dấy dưới sự chỉ bảo của anh cho tới lúc cưỡi voi
dày lên xác quân Thanh ở Thăng long, Nguyễn Huệ
chưa hề thất bại. Sau khi thắng quân Thanh, Nguyễn
Huệ sẽ phạm những lỗi lầm thường thấy ở kẻ thành
công, nếu không có những lời cố vấn sáng suốt của
Ngô Thì Nhậm.
Sau
khi ổn định an ninh một dải đất dài từ ải Nam quan
vào tới Bến Ván, Quang Trung đã nghe theo lời cố
vấn của hai văn thần quan trọng là Trần Văn Kỷ và
Ngô Thì Nhậm để tổ chức lại guồng máy hành chánh,
thuế khóa. Chúng ta không biết sự phân công phân
nhiệm giữa hai văn thần này ra sao, có điều rõ ràng
là cả hai quí trọng nhau, không hề có những xích
mích hay đố kỵ do mới cũ, nam bắc. Có lẽ phần đối
nội như quản trị hành chánh, tài chánh, nhân sự
do quan Trung-thư-lệnh Trần Văn Kỷ đảm trách vì
ông đồ Vân Trình là người cũ, giao thiệp quen biết
với các quan lại công thần từ Qui nhơn ra hơn Ngô
Thì Nhậm. Phần Ngô Thì Nhậm, có lẽ đảm trách phần
đối ngoại và những vấn đề có tính cách chiến lược
dài hạn.
Trong
bài thơ "Tảo triều Trung Hòa điện tứ nhập nội
thị độc chiến thủ tấu nghị cung ký":
Xâm
thần vị tán ngũ canh sương
Y ốc kê thanh triệt Thượng Dương
Phủ tọa dĩ bài kim kiếm vệ
Các thần phương chỉnh tú y hàng
Thần mô miếu toán truyền thiên ngữ
Quốc kế biên trù diễn các chương
Thùy thị bình Hoài Bùi tướng quốc
Ưu cầu cơ lược tán ngô hoàng?
(
Tảng sáng chưa tan sương canh năm
Tiếng gà eo óc, thấu cung Thượng Dương
Nơi ngự tọa, thị vệ gươm vàng đã sắp đặt
Chỗ đình thần, hàng ban áo gấm đã chỉnh tề
Truyền đạt lời vua, mưu mô chiến lược
Kế hoạch trong nước, ngoài biên giới đều ban chỉ
dụ
Ai là người có tài dẹp giặc đất Hoài như tướng quốc
họ Bùi xưa
Biết lo nghĩ, chuyên cần, bày mọi mưu cơ để giúp
vua ta ) (5)
Chúng
ta thấy Ngô Thì Nhậm đóng góp rất nhiều cho việc
soạn thảo, nghiên cứu các kế hoạch quốc phòng cũng
như đối nội. Sau một thời gian chiến tranh liên
miên, đồng ruộng hoang hóa, xóm làng điêu tàn đổ
nát, dân cư xiêu tán, kinh tế kiệt quệ, Quang Trung
phải đối phó với những khó khăn chồng chất của thời
bình. Mà thật ra, cũng chưa phải là thời bình, vì
Qui nhơn vẫn còn đó, ngăn chận con đường thống nhất
trọn vẹn, và Nguyễn Ánh vẫn còn khống chế vùng đất
màu mỡ Gia định. Trong các kế hoạch bình định, chắc
chắn Ngô Thì Nhậm soạn thảo cho Quang Trung kế hoạch
tái phối trí dân số và phát triển nông nghiệp, vì
văn bản chính thức của kế hoạch này, "Tờ Chiếu
Khuyến nông", được dòng họ Ngô-thì lưu giữ
và ghi vào tập "Hàn các anh hoa" của Ngô
Thì Nhậm. Phần chính của tờ chiếu như sau (bản dịch):
Trẫm
chịu mệnh trời, giữ nghiệp lớn, bốn bể trong lặng.
Nay buổi đầu đại định, chính sách khuyến khích sản
xuất làm cho dân giàu phải tiến hành lần lượt.
Phàm
kẻ du đãng, người giấu giàu là thói thường. Cái
đạo che chở dân, chẳng gì bằng dắt dân lưu tán trở
về, khai khẩn ruộng hoang, khiến dân du thủ du thực
trở về làm ruộng. Còn những dân nào kiều ngụ nơi
khác từ trước, trốn tránh sưu dịch, hoặc ở quê vợ
quê mẹ, hoặc đã lập nghiệp bán buôn, trừ ra những
người đã nhập tịch từ ba đời trở lên, còn thì nhất
thiết bắt về bản quán, xã khác không được dung túng
cho trú ngụ. Những ruộng công ruộng tư, trót đã
bỏ hoang, phải trở về nhận lấy để cày cấy, không
được để hoang, khiến cho những người thục cày cấy
ruộng khác phải chịu thuế khống.
Các
sắc mục, xã trưởng, thôn trưởng phải xét sổ đinh
hiện có bao nhiêu xuất, số điền hiện có bao nhiêu
mẫu, ruộng hoang mới khai khẩn bao nhiêu mẫu, hạn
trong tuần tháng chín phải làm sổ xép loại, đem
nộp cho các quan Phân xuất, Phân tri huyện mình,
các viên này chuyển đệ lên, đợi quan Khâm sai xét
thực, sẽ châm chước mà đánh thuế cho công bằng.
Xã
nào dung túng cho khách hộ trú ngụ mà không đuổi
về bản quán và những người trốn tránh lần lữa không
về, nếu có người biết tố giác, điều tra ra sự thật,
thì sắc mục, xã trưởng, thôn trưởng xã ấy cùng người
trốn tránh đều bị xử tội. Xã nào có ruộng bỏ hoang
đã lâu mà không ai nhận, nếu là ruộng công, thì
trách cứ vào các viên chức sắc, các chủ hộ xã ấy,
phải chiếu nguyên ngạch thuế ruộng mà nộp gấp đôi.
Nếu là ruộng tư thì sung công, ngạch thuế cũng như
ruộng công."
(6)
Ngày
nay chúng ta không có tài liệu sử nào để biết chính
sách di dân và khai hoang do Ngô Thì Nhậm khởi xướng
đã được thi hành tới đâu, đã gây ra những phản ứng
gì trong dân chúng, đã đạt được kết quả gì. Tuy
nhiên, lấy lý thường mà xét, chính sách ấy không
thực tế và chắc chắn đã gây ra những xáo trộn khủng
khiếp thay vì ổn định xã hội.
Từ
thời Nguyễn, chế độ phân định "chính hộ"
(dân thường trú chính thức) và "khách hộ"
(dân tạm cư từ nơi khác tới) đã có nhiều bất công.
Theo Lê Quí Dôn ghi lại trong "Phủ Biên Tạp
Lục", "khách hộ" chịu đủ mọi thiệt
thòi về nghĩa vụ quân sự, nộp thuế, làm sưu dịch.
Sau một thời gian dài chinh chiến liên miên, nhất
định số dân lưu tán xiêu dạt càng cao. "Chiếu
khuyến nông" đã không giải quyết kỳ thị bất
công có từ thời chúa Nguyễn, mà còn làm cho bất
công trầm trọng thêm. Ai không lưu cư từ ba đời
trở lên đều bị buộc phải trở về "bản quán",
trong khi các khách hộ ở "bản quán" lại
bị buộc hồi hương. Sự xáo trộn không cần thiết,
chẳng những không gia tăng sản xuất nông nghiệp
mà còn làm trì trệ sản xuất, chưa kể "Chiếu
khuyến nông" tạo điều kiện cho bọn chức sắc
tham nhũng, áp bức dân đen.
Trước
khi mất, Quang Trung đã ra hịch truyền quan lại,
quân dân hai phủ Quảng ngãi, Qui nhơn (phần đất
do Nguyễn Nhạc kiểm soát) sửa sang cầu cống chuẩn
bị quân lương để Quang Trung dẫn quân theo đường
bộ qua hai phủ tiến vào Gia định diệt lực lượng
Nguyễn Ánh. Ðây là một quyết định táo bạo, vì kế
hoạch hành quân đó đương nhiên phủ nhận vương quyền
của Nguyễn Nhạc. Kế hoạch đó cũng cho chúng ta thấy
rõ Quang Trung ý thức chính xác tầm hiểm họa của
Gia định. Ngô Thì Nhậm có công lao gì trong việc
soạn thảo kế hoạch hành quân lớn lao này?
Thiếu
tài liệu, chúng ta không trả lời được. Cho dù Quang
Trung còn sống để thực hiện kế hoạch quân sự này,
chưa chắc ông đã đạt các mục tiêu chính. Ông dễ
dàng ngang nhiên kéo quân qua địa phận của Nguyễn
Nhạc mà ông vua anh già cả bệnh hoạn không dám phản
ứng gì. Ông cũng có thể dễ dàng đánh bại quân Nguyễn
Ánh ở Gia định như các lần trước. Nhưng quân Tây
Sơn không thể đóng lâu ở Gia định. Họ đã không được
dân Gia định xem trọng. Từ trước tới sau, giới di
dân người Hoa nắm giữ guồng máy kinh tế của đất
Gia định trù phú, và cả dân làm ruộng xem Tây Sơn
như một bọn cướp hàng năm thuận mùa gió vào Gia
định cướp lúa rồi về. Tôi cho rằng trước khi mất,
Quang Trung vẫn chưa thấy hết giá trị kinh tế lớn
lao của Gia định. Ông chỉ quan tâm tới Gia định
theo cái nhìn một tướng lãnh. Ngô Thì Nhậm có lẽ
cũng không nhìn được xa hơn Quang Trung. Ông có
thể quyền biến để giữ được niềm tin vào ý hệ nho
giáo trong thời kỳ hưng phế điên đảo, nhưng cũng
chính thứ nho giáo bảo thủ ông hấp thụ thu hẹp tầm
nhìn của ông, không cho phép ông thấy sức mạnh của
giới doanh thương và tiềm năng kinh tế lớn lao của
miền Nam.
Vương
triều Tây Sơn suy vi nhanh chóng sau khi Quang Trung
mất. Ngô Thì Nhậm vừa mất Người-Tri-Kỷ vừa mất niềm
tin tuyệt đối vào đạo nho. Phải chờ tới lúc đó ông
mới hiểu đạo Phật. Ông lập thiền viện, soạn công
án, trở thành Hải Lượng thiền sư. Từ một nhà nho
nhiệt tín, một nhà chính trị nhiệt tín, ông trở
thành đệ tứ tổ của Thiền tông Việt nam. Chưa có
một người trí thức Việt nam nào, từ xưa tới nay,
có một đời sống tâm linh và đời sống trần thế phong
phú đa diện cho bằng Ngô Thì Nhậm.
CHÚ
THÍCH
1.
Thơ Ngô Thi Nhậm, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội,
1986, trang 32-33, bản dịch của Nguyễn Sỹ Lâm
2. Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 2, nhà
xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, trang 36,
41-42, bản dịch của Ngô Linh Ngọc.
3. Sách đã dẫn, trang 45, bản dịch của Ngô Linh
Ngọc.
4. Hoàng Lê Nhất Thống Chí, quyển 2, Ngô gia văn
phái, Nguyễn Ðức Vân, Kiều Thu Hoạch dịch, nhà xuất
bản Văn Học, Hà Nội, 1987, trang 155-156.
5. Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 1, nhà
xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, trang 213,
bản dịch của Ngô Linh Ngọc.
6. Tuyển tập thơ vân Ngô Thì Nhậm, q.2, trg 120,
bản dịch Mai Quốc Liên.
NGUYỄN
MỘNG GIÁC

|