LỊCH
SỬ VIỆT NAM

Lý
Thường Kiệt
( Li Chang Jie )
Nguyễn
Mộng Khôi
Nực
cười châu chấu đá xe,
Tưởng chừng chấu ngã, chẳng dè xe nghiêng.
( Phong Dao)
Sau
chín năm, kể từ khi nhà Lý rời đô từ Hoa Lư lên
Thăng Long. Môt vĩ nhân của nước Đại Việt ( tên
nước Việt Nam bấy giờ ) ra đời. Vĩ nhân đó là Ngô
Tuấn. Sau này, ông được vua Lý Thái Tôn tin dùng
và coi như môt người em ( Thiên tử huynh đệ ), nên
được mang họ vua. Từ đó Ngô Tuấn được đổi tên là
Lý Thường Kiệt.
Thường
Kiệt người làng Bác Biên, xã Phúc Xá, huyện Gia
Lâm. Sau ông rời về phường Thái Hòa, bây giờ là
vườn bách thảo, quận Ba Đình, Hà nôi. Ông sinh năm
Kỷ Mùi ( 1019 ), mất năm Ất Dậu( 1105 ), hưởng thọ
86 tuổi.
Thân phụ là môt võ tướng, mất khi đang thanh sát
vùng biên giới Hoa Việt, lúc đó Thường Kiệt 13 tuổi,
nhưng được bà mẹ và người chú hết sức dạy dỗ văn
chương và võ nghệ... Năm 23 tuổi được tuyển vào
cung làm hoạn quan ( eunuch ) với chức Hoàng môn
chi hậu; rồi tăng dần tới chức Thái úy ( chức Thống
chế ngày xưa hay chức Tổng tư lệnh ngày nay )
Suốt 63 năm tận trung báo quốc, ông đã làm được
cho dân, cho nước những công trình tuyệt vời từ
chính tri, văn học, quân sự và cả Phật sự...vv..
Trong chính trường, Lý Thường
Kiệt là đấng đại danh thần, có những phương sách
đối ngoại, đối nôi rất giỏi, là chỗ dựa tin cậy
và vững chắc của nhà Lý, nhất là dưới thời hoàng
đế Lý Nhân Tôn ( 1072-1127 ).
Trong lịch sử văn học,Thường
Kiệt là cây đại bút, là tác giả của áng hùng thư
‘’ Nam Quốc Sơn Hà ‘’, có giá trị thiêng liêng như
bản tuyên ngôn đôc lập lần thứ nhất từ thời tự chủ.
Trong quân sự ông là bậc đại tướng, là linh hồn
của những chiến công bình Chiêm, phạt Tống, những
chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà trong thế kỷ
11.
Danh sĩ Đặng Minh Khiêm đời
Hồng Đức có môt bài thơ ca ngợi:
Đệ huynh chỉ xích thị minh quang,
Tài lược kiêm ưu hữu mão dương.
Bắc phạt, Nam chinh huân nghiệp trước,
Thù phi môn ngoại tiểu điêu đương.
Thoát Hiên Vịnh sử.
Anh em chầu trực chốn đền đài,
Tài lược gồm hai lại đẹp trai.
Đánh Bắc, bình Nam huân nghiệp rạng,
Hoạn thần nhưng khác lũ hầu sai. (Giáo
sư Hoàng Xuân Hãn dịch)
(Đền Trúc nằm ở thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện
Kim Bảng, Hà Nam thờ danh tướng Lý Thường Kiệt)
Với đạo Phật, ông góp nhiều
công đức. Thiền sư Pháp Bảo sống cùng thời Lý Thường
Kiệt ghi công đức vào bia đá:
Tông giáo qui sùng.
Cảnh phúc thị thực.
dịch:
Thuận theo và tôn sùng ( Phật giáo ).
Giữ gìn phúc đức quả là đây.
Và; trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan
Huy Chú ( con Phan Huy Ích ) viết:
‘’ Ông là người giàu mưu lược và có biệt tài làm
tướng, từng làm quan trải thờ đến ba đời hoàng đế
là Lý Thái Tôn, Lý Thánh Tôn, Lý Nhân Tôn, phá Tống,
bình Chiêm, công lao, đức vọng ngày môt lớn, được
sủng ái, thật xứng là người đứng đầu các bậc công
hầu vậy.’’
Lý thường Kiệt biết rằng nhà Tống ( Song ) đang
dòm ngó Đại Việt, chỉ chờ cơ hi thuận tiện là đem
quân sang đánh để sát nhập nước ta làm châu quận.
Đại Việt vẫn chưa quên mối thù môt ngàn năm bị đô
h; vì vậy Lý Thường Kiệt muốn đánh Tống để được
lợi thế bất ngờ (tiên hạ thủ vi cường ).
Nhưng trước khi phạt Tống ( 1075 ) ở phía Bắc, Lý
Thường Kiệt phải tấn công Chiêm Thành cho yên mặt
phía Nam và nhân tiện tái chiếm ba châu Địa Lý,
Ma Linh, Bố Chính ( là tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị
ngày nay) mà nước Chiêm đã nhượng cho Đại Việt (
từ năm 1069) thời Lý Thánh Tôn, nhưng người Chiêm
vẫn còn tiếc rẻ, hay quấy nhiễu và muốn đòi lại.
Nhà
Tống đến đời Tống Thần Tôn ( Song Shen Zong 1068-1078
) có Vương An Thạch ( Wang An Shi 1021-1086 ) làm
tể tướng. Vương là môt chính trị gia có tài, có
đầu óc cách mạng tân tiến. Vương đặt ra nhiều phép
cải cách như :
-Phép Thanh Miêu: lấy thóc chứa trong kho cho nông
dân vay mà chi dùng tới ngày mùa.
-Phép bảo giáp: nhà nào có 2 con trai thì phải có
mt người luyện tập võ nghệ để phòng khi có chiến
tranh
-Phép bảo mã: giao ngựa cho dân nuôi để tiết kiệm
ngân sách
-Phép nông điền, thủy lợi .
-..vv..
Nếu những kế hoạch đó mà thành công thì Trung quốc
(Zhong Guo ) sẽ rất hùng mạnh. Trung quốc mà hùng
mạnh thì Đại Việt lo. Chính những cải cách táo bạo
này đã đụng chạm đến quyền lợi của lớp chủ điền
và phe bảo thủ. Họ đã ngấm ngầm bất mãn. Vì vậy
có những sự không cng tác giữa dân chúng và quan
lại.
Vương An Thạch thấy có cơ nguy làm lung lay chế
đ nên ông muốn toàn dân nhất trí, toàn dân đoàn
kết để hướng dẫn dư luận vào mt mục tiêu là‘’ đánh
Đại Việt ‘’.Vương sai tri châu Tiêu Chu( Xiao Zhou
)ở Ung Châu ( Yong Zhou ) thi hành kế hoạch. Tiêu
Chu đến Quế Châu( Gui Zhou ) giao dịch với các tù
trưởng, từ Đạo Đạc Ma đến châu Điền Đống để nghiên
cứu tình hình Đại Việt. Nhưng lúc này Đại Việt đã
chiến thắng Chiêm Thành, bờ cõi được mở rng về phương
Nam, dân sinh quốc kế rất thịnh đạt nên Tiêu Chu
lo sợ chưa giám tiến binh. Vương An Thạch bèn cử
Thẩm Khởi ( Shen Qi ) thay Tiêu Chu.
Con
kỳ lân trạm khắc bằng đá, đào được tại khuôn viên
chùa Lịch Xứng, không rõ niên đại
Thẩm
Khởi thu xếp mọi việc theo ý họVương và chuẩn bị
quân lính, vũ khí, tiếp liệu... để Nam chinh. Nhưng
sau không biết vì lẽ gì mà Thẩm Khởi bị thất sủng.
Tống triều cử Lưu Di ( Liu Di ).
Di cho người đi thanh tra các khe ngòi, các đồn
lũy, sửa soạn binh khí, thuyền bè và cấm không cho
người gần đấy đi lại , buôn bán với người Đại Việt.
Vua Lý Nhân Tôn thấy thái đô bất thân thiện của
Lưu Di và đoán là quân Tống sắp đánh Đại Việt, bèn
viết thư cho Tống Thần Tôn ( Song Shen Zong ) kể
tôi Lưu Di rồi năm Ất Mão (1075) khởi đại binh phạt
Bắc. Lý Thường Kiệt làm tổng tư lệnh, Tôn Đản làm
phụ tá đem 10 vạn quân, chia làm 2 đạo thủy b cùng
tiến đánh. Quân Việt còn viện cớ rằng nhà Tống do
thừa tướng Vương An Thạch đặt ra phép cải cách mới
làm khổ trăm họ.Vậy quân Đại Việt sang đánh để cứu
vớt nhân dân Trung Quốc...
Môt danh tướng Nhật Bản, dưới
thời Minh Trị Thiên Hoàng ( Ming Zhi Tian Huang
), khi nghiên cứu về chiến lược đánh Tống đã khen
ngợi:
‘’ Sự tấn công bất ngờ của Lý Thường Kiệt đã tạo
thành lịch sử chiến tranh. Trước nguy cơ ngoại bang
xâm lấn không thể tránh, Lý Thường Kiệt tấn công
địch trước là có lý. Đây là môt chiến lược căn bản
nhằm phá vỡ ý chí xâm lược của địch quân ‘’(
Ly Thuong Kiet’s surprise attack made war history.
When the danger of foreign invasion could not be
avoided. Ly thuong kiet advocated attacking the
enemy first. This was an original strategy aimed
at thwarting the enemy’s aggressive will )
Lý Thường Kiệt đem quân đánh
Khâm Châu ( Qin Zhou ) và Liêm Châu( Lian Zhou )
thuôc tỉnh Quảng Đông ( Guang Dong ) giết hại hơn
8 ngàn người. Đạo quân Tôn Đản đánh Ung Châu ( Yong
Zhou ), thuc Quảng Tây ( Guang Xi ). Quan đô giám
là Trương Thủ Tiết ( Zhang Shou Jie) đem binh lại
cứu bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn Lôn Quan (
Kun Lun Guan ) , chém Trương tại trận tiền.
Tôn
Đản vây thành Ung Châu hơn 40 ngày. Quan tri châu
họ Tô ( Su ) quyết tử thủ. Đến khi thành bị hạ thì
Tô bắt cả gia đình 36 người phải chết trước, rồi
tự đốt theo. Môt số người trong thành theo gương
quan tri châu không chịu hàng. Quân Tôn Đản vào
thành giết hại gần 6 vạn người và bắt được 200 nhà
sư, thu lấy bằng sắc; rồi sai thám tử cạo đầu, mặc
áo cà sa mang bằng sắc ấy giả làm sư đi sâu vào
đất Tống dò xét. Nhờ vậy Lý Thường Kiệt biết rõ
quân cơ chiến sự trong trận phục thù của quân Tống
sau này.
Tổng số thiệt hại nhân mạng về phía Trung Hoa lên
tới 10 vạn. Quân Việt đại thắng rồi rút về nước,
mang theo mt số tù binh và của cải.
Vua
Tống được tin này thì vô cùng tức giận, bèn sai
Quách Quì ( Guo Kui )làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết
( Zhao Jie ) làm phó cùng 9 danh tướng khởi binh
10 vạn hi với quân Chiêm Thành và Chân Lạp để cùng
tấn công Đại Việt.
Tháng chạp năm Bính thìn ( 1076 ), quân Tống vào
địa hạt nước ta. Cuôc gặp gỡ đầu tiên giữa quân
Lý, Tống ở sông Như Nguyệt, tức sông Cầu tỉnh Bắc
Ninh, nay là ngoại ô Hà ni. Trận này quân Tống thua,
chết hơn 1000 người. Quách Quì bèn mang quân về
phía tây đến đóng ở sông Phú Lương là môt khúc sông
phía tây của sông Như Nguyệt. Lý Thường Kiệt vi
đem binh thuyền lên đón đánh không cho quân giặc
qua sông. Lý Quì sai chặt tre, gỗ làm máy bắn đá.
Những viên đá to hơn trái bưởi bay sang như mưa,
khiến thuyền quân Lý thủng nát nhiều, quân sĩ chết
tới mấy ngàn người.
Sau trận này, khí thế quân
Tống lên cao, trong khi tinh thần quân ta bắt đầu
xút giảm. Lý Thường Kiệt bèn vận dụng đòn tâm lý.
Nửa đêm cho người tâm phúc vào đền Trương Hát, Trương
Hống ( đền này ở phía nam sông Như Nguyệt, nay là
huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh )giả làm Thần linh
thét lên:
-Nam
quốc sơn hà, Nam Đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Học giả Nguyễn Đồng Chi dịch:
Nước Nam Việt có vua Nam Việt.
Trên sách trời chia biệt rành rành.
Cớ sao giặc giám hoành hành?
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
Ông Đặng Bá Cảnh dịch:
Vua Nam ngự trị đất phương Nam.
Trời đã phân chia rõ địa bàn.
Nếu kẻ âm mưu mong lấn chiếm.
Cuối cùng rồi tướng bại quân tan.
Bài hùng thi đó truyền rất
nhanh. Quân Đại Việt và dân chúng đều tin tưởng
là sẽ được thần linh phù hô;vì đền Trương Hát, Trương
Hống nổi tiếng linh thiêng. Trương Hát và em là
Trương Hống vốn là danh tướng của Việt vương Triệu
Quang Phục ( 549-571). Triệu Quang Phục có công
đánh đuổi quan quân nhà Lương cai trị nước ta. Sau
hơn 20 năm trị vì. Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử
đánh bại, phải nhảy xuông sông tự vận và anh em
Trương Hát, Trương Hống cũng bị Lý Phật Tử sát hại.
Cuộc
đua thuyền trên sông Đáy này là một nghi lễ tưởng
niệm cuộc hành quân của Lý Thường Kiệt trên sông
trong lần tiễn phạt quân Chiêm Thành
Tương
truyền, anh em Trương Hát hiển thánh. Năm 950, Nam
Tấn vương Ngô Xương Văn đi đánh giặc ở Tây Long
được anh em họ Trương phù h nên phá được giặc. Sau
khi thắng trận Vương truy phong cho Hát là ‘’Đại
vương giang đô h quốc thần vương’’ và Hống là ‘’
Tiểu vương giang đô h quốc thần vương ‘’. Từ đó
ngôi đền được dân địa phương sùng kính.
Bốn câu thơ trên làm phấn
khởi tinh thần quân Đại Việt, nhưng đồng thời cũng
làm nản lòng quân nhà Tống vì Lý Thường Kiệt dựa
vào thuyết ‘’ Thiên mệnh ‘’ của phái Tống nho chủ
xướng. Thuyết này đang được quảng bá ở Trung quốc
và các nước Á đông bấy giờ. Theo thuyết đó thì mọi
sự, mọi việc đều do ‘’ Trời ‘’ sắp xếp. Cá nhân
hay tập thể sinh ra để thi hành.
‘’Ngẫm hay muôn sự tại Trời’’ ( Kiều- Nguyễn Du
), hoặc:
‘’Quyền Tạo hóa Trời tranh tất cả’’(Cung Oán-Nguyễn
Gia Thiều )
Vì vậy, quân nhà Tống mà xâm lăng Đại Việt là trái
với sách nhà Trời thì chắc chắn phải thua.
Nhờ Lý Thường Kiệt đưa ra ‘’ Thuyết Thiên Mệnh ‘’
đúng hoàn cảnh và đúng lúc nên bài thơ có 2 tác
dụng tương phản là làm gỉảm ý chí xâm lăng của địch
( địch vận ) và tăng tinh thần quyết chiến của ta
( tuyên vận ). Đó là môt trong những lý do chính
yếu khiến đoàn quân Quách Quì bị cầm chân tại sông
Phú Lương.
Ở
mặt trận phía Nam, quân Chiêm Thành và Chân Lạp
cũng bị đánh tan môt cách dễ dàng vì chủ lực quân
Chiêm đã bị phá trước khi phạt Tống. Hai cánh quân
đó phải rút lui mà không giúp được quân Tống.
Lúc đó, thế của quân Đại Việt và quân nhà Tống không
phân thắng bại. Lý triều e đánh lâu không lợi. Nếu
kéo dài cuôc chiến chỉ thêm tốn thêm nhân lực và
tài lực quốc gia mà Lý Thường Kiệt biết rằng cuc
hành quân lúc này của Tống triều chỉ do vấn đề thể
diện.
Lý triều liền cử sứ bô sang điều đình ngưng chiến.
Điều này thật đúng sự mong ước của nhà Tống. Bởi
quân Tống lúc đó cũng bị tổn thất quá nửa vì chiến
tranh và không hợp thủy thổ nên mang bệnh mà chết
rất nhiều. Tống Thần Tôn liền chấp nhận ngay lời
thương nghị; rồi cho rút binh. Nhưng khi rút về
họ chiếm giữ mấy châu phía bắc là:
-Châu
Quảng Nguyên thuc châu quảng Uyên tỉnh Cao Bằng
ngày nay
-Châu Tư Lang tức Hạ Lang, Thượng Lang tỉnh Cao
Bằng.
-Châu Tô Mậu, giữa Cao Bằng và Lạng Sơn.
Năm Mậu Ngọ ( 1078 ), vua Lý Nhân Tôn mở cuôc giao
hảo với Tống triều . Sứ thần Đại Việt là Đào Tôn
Nguyên đưa 5 con voi đã thuần thục sang cống vua
nhà Tống và đòi lại 3 châu quận trên.
Tống triều ưng thuận, với điều kiện là Lý triều
phải trả laị những quân dân các châu Khâm, Liêm,
Ung do Lý quân bắt 3 năm trước. Tất cả có 221 người.
Trước khi cho về nước Lý Thường Kiệt cho thích vào
trán; đàn ông trên 20 tuổi ba chữ ‘’ Đầu Nam triều
‘’ ( nghĩa là hàng Nam triều ); đàn bà sâm hai chữ
‘’ Quan khách ‘’ ( khách nhà nước )vào cánh tay
trái. Quân dân nào tuổi từ 15 đến 20 thì phải xung
vào lính Đại Việt và khắc trên trán ba chữ ‘’ Thiên
tử binh ‘’ ( lính nhà vua )
Hành đông sâm chữ vào trán và cánh tay tù nhân của
Lý triều là muốn làm nhục nhà Tống.
Nhà Tống nhận được bọn tù nhân và 5 con voi, rồi
rút quân khỏi 3 châu phía bắc, chỉ giữ lại mấy huyện
nhỏ ở biên giới. Đất Quảng Nguyên có mỏ vàng cũng
phải bỏ lại. Dân Tàu tiếc của, hát mỉa mai vua Tống:
-Nhân tham Giao Chỉ tượng.
Khước thất Quảng Nguyên kim.
Ông Đặng Bá Cảnh dịch:
-Tham chi Giao Chỉ năm voi.
Quảng Nguyên sao để mất toi kho vàng.
(Bàn thờ Lý Thường Kiệt tại Đền Trúc, Kim Bảng,
Hà Nam)
Muà hạ năm Giáp tý (1084 )
Lý triều lại phái Binh bô thị lang Lê Văn Thịnh,
người đậu thủ khoa đầu tiên ở nước ta sang yêu cầu
Tống triều phân chia lại danh giới và trả nốt mấy
huyện mà quân Tống còn giữ.
Lý triều áp dụng chính sách đòi dần để tình thế
hai nước vừa xung đt bớt căng thẳng. Nếu yêu sách
quá nhiều trong môt buổi, có thể nhà Tống sẽ không
chiụ; vì như thế sẽ làm mất thể diện. Lý triều tiến
từ từ, quả nhiên việc thương thuyết đem được như
ý muốn. Chúng ta khâm phục việc ngoại giao của nhà
Lý bấy giờ, khi cương, lúc nhu, nhưng bao giờ cũng
giữ được cái kiêu hùng của kẻ chiến thắng.
Đời vua Lý Nhân Tôn tức thái tử Càn Đức lên ngôi
mới 7 tuổi. Quan thái sư Lý Đạo Thành làm phụ chính,
nhưng bên trong mẹ là ý lan thái phi buông mành
nghe việc triều đình.
Ý Lan thái phi là môt nhân vật đặc biệt của thời
đại, bên cạnh Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành hai
vị văn võ có uy tín và thao lược nhất bấy giờ. Nhưng
Lý Đạo Thành không chủ trương xâm lăng nước ngoài.
Chỉ có thái phi và Thường Kiệt có môt tầm nhìn xa
cho tương lai đất nước, nên cương quyết thi hành
chiến lược bình Chiêm, phạt Tống.
(Trụ cổng Đền Trúc, 2 côt trụ đá có khắc 2 câu :Việt
hữu Lý công, Cổ nhân chuẩn thức.
Nước Việt có tướng công người họ Lý, Noi theo đúng
thể thức của người xưa)
Cuôc
tình duyên của thái phi cũng ly kỳ và đẹp như môt
huyền thọai. Bấy giờ, vua Lý Thánh Tôn đã 40 tuổi
mà chưa có con trai, lấy làm lo lắng nên hay đi
cầu tự ở các đền chùa. Môt hôm ngài ngự giá về làng
Thổ Lỗi . Ngài cho phép dân chúng tự do chiêm bái
long nhan. Thiên hạ già trẻ, trai gái đi xem đông
như chảy hi, ai cũng muốn được nhìn mặt nhà vua.
Trong khi đạo ngự đi qua có môt cô con gái đang
ngồi tựa gốc cây lan như không để ý đến ai. Nhà
vua ngạc nhiên, liền đòi đến hầu thì thấy cô gái
đó tuy quê mùa, nhưng có nhan sắc đoan trang, cử
chỉ đường hoàng, nói năng thanh nhã, ngài liền vời
về cung. Thiếu nữ ấy tên Yến, tục danh là cô Cám,
thôn nữ làng Thổ Lỗi, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh bấy giờ. Về kinh nhà vua sai Sùng Tín đại trưởng
lão dạy cô học và những lễ nghi nơi cung đình. Nhờ
sự thông minh, chẳng bao lâu cô lầu thông kinh sử
và được phong là ý lan phu nhân.ý lan là tên cung
điện, nơi phu nhân luyện tập văn bài và cũng có
ý gợi lại kỷ niệm xưa khi nhà vua gặp phu nhân lần
đầu đang ngồi tựa gốc lan.
Rồi phu nhân sinh ra hoàng tử Càn Đức và từ đó được
phong là ý Lan thái phi.
Về chính trị, thái phi làm
giám quốc rất đắc lực trong việc trị dân. Năm 1069,
Lý Thánh Tôn và Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh
Chiêm Thành. Trận ấy Đại Việt thua phải rút quân.
Khi đoàn quân chiến bại trở về tới châu Cự Liên,
nhà vua thấy nhân dân ai cũng ca tụng bà thái phi
trị nước rất giỏi, dân no nước mạnh. Thánh Tôn bảo
với các tướng sĩ tùy tùng rằng:
-Người đàn bà trị nước còn được như thế mà mình
đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn
ông hèn lắm à ?
Thánh Tôn cùng Thường Kiệt trở lại đánh. Quân Chiêm
Không ngờ quân Việt trở lại, nên bị thua. Vua Chiêm
là Chế Củ bị bắt. Củ phải xin dâng 3 châu Địa Lý,
Ma Linh và Bố Chánh để chuc tôi
Khi về già, thái phi gây được nhiều công đức như
xuất tiền kho để chuc con gái nhà nghèo bị cầm bán,
rồi đem gả chồng vào những nơi tử tế. Chẩn cấp cho
dân chúng những nơi có thiên tai. Cho xây 70 ngôi
chùa ở Kinh Bắc ( Bắc Ninh ).
Cũng như thái phi,Thường Kiệt chuyên tâm về đạo
Phật khi lớn tuổi và lúc đất nước thanh bình.
Năm Đinh Tỵ, ông được bổ làm
tổng trấn Thanh Hoa ( tức Thanh Hóa ngày nay ).
Môt hôm có Sùng Tín đại trưởng lão từ Thăng Long
vào chơi, Lý thường Kiệt nhờ tìm đất để dựng chùa.
Trưởng lão chọn được khí đất tốt nằm ở phía nam
núi Ngưỡng Sơn thuôc tỉnh Thanh Hóa; rồi đích thân
Lý Thường Kiệt trông coi việc xây cất. Sau 4 năm(
1085-1089 ) thì hoàn thành, đặt tên là chùa Linh
Xứng. Tới đầu thế kỷ 20 thì chùa bị xụp đổ hoàn
toàn. Chỉ còn tấm bia bằng đá khắc bài ‘’ Ngưỡng
Sơn Linh Xứng Tự Bi Minh ( bài khắc trên bia để
tại chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn ) của ngài Giác
Tính Hải Chiếu đại sư, người sống cùng thời với
ông để lại. Tấm bia đó có 3 đoạn đã tóm tắt sự nghiệp
và ca ngợi công đức của Lý Thường Kiệt:
(Phía sau chùa Lich Xứng có tháp Chiêu An cao những
chín tầng tại Hà Trung, Thanh Hoá)
Đoạn môt, nói về
việc xây cất cùng cảnh trang nghiêm lông lẫy của
ngôi chùa.
Đoạn hai, kể việc bình Chiêm, phạt Tống và công
lao phò tá 3 đời hoàng đế, so sánh ông với Y Doãn
( Yi Yin ), Hoắc Quang (Guo Guang ) của nhà Thương
( Shang ) , nhà Hán ( Han ).
Đoạn ba, ca ngợi lòng sùng đạo Phật của Lý Thường
Kiệt: ‘’ Thái úy tuy thân vướng việc đời mà lòng
vẫn hướng về Tam thừa. Thái úy không ngừng nâng
đỡ Phật giáo, nhân lúc rảnh việc triều đình./.
Nguyễn
Mộng Khôi
CÙNG MỘT TÁC GIẢ:
Những
Kẻ Bị Cắt Tai
( Giác Chánh - NMK)
TRI
TÚC
CHÙA
TRẤN-QUỐC Ở HỒ-TÂY QUA LICH SỬ & THI VĂN
Hội ngộ với văn học và lịch sử
CỎ
CÂY CŨNG CÓ LINH HỒN
Không
khí không mất tiền mua
TÂM
BÊNH SANH THÂN BÊNH
ẤN
GIÁO-PHẬT GIÁO-HỒI GIÁO
Lý
Thường Kiệt
ĐỘNG
HOA VÀNG
Sức Mạnh Của Cầu Nguyện
Thành
Cổ Loa-Tình Mỹ Châu
BA
NGÀY GIẢI PHÓNG THĂNG LONG
BẢN DỊCH THƠ TRỊNH CỐC- NGUYỄN
MỘNG KHÔI
Vu Lan & Cúng Cô Hồn
VẠN
HẠNH THIỀN SƯ
Bà
Chúa Liễu Hạnh
Thăng trầm của chữ Nho qua
bài thơ ÔNG ĐỒ
Ai Lên Xứ Lạng Cùng Anh
Dương
Vân Nga :Từ chính sử đến truyền thuyết
LINCOLN
VÀ KENNEDY

|