Liên hệ

 
 


 

 

LỊCH SỬ VIỆT NAM

Lý Thường Kiệt
( Li Chang Jie )

Nguyễn Mộng Khôi

Nực cười châu chấu đá xe,
Tưởng chừng chấu ngã, chẳng dè xe nghiêng.
( Phong Dao)

Sau chín năm, kể từ khi nhà Lý rời đô từ Hoa Lư lên Thăng Long. Môt vĩ nhân của nước Đại Việt ( tên nước Việt Nam bấy giờ ) ra đời. Vĩ nhân đó là Ngô Tuấn. Sau này, ông được vua Lý Thái Tôn tin dùng và coi như môt người em ( Thiên tử huynh đệ ), nên được mang họ vua. Từ đó Ngô Tuấn được đổi tên là Lý Thường Kiệt.

Thường Kiệt người làng Bác Biên, xã Phúc Xá, huyện Gia Lâm. Sau ông rời về phường Thái Hòa, bây giờ là vườn bách thảo, quận Ba Đình, Hà nôi. Ông sinh năm Kỷ Mùi ( 1019 ), mất năm Ất Dậu( 1105 ), hưởng thọ 86 tuổi.
Thân phụ là môt võ tướng, mất khi đang thanh sát vùng biên giới Hoa Việt, lúc đó Thường Kiệt 13 tuổi, nhưng được bà mẹ và người chú hết sức dạy dỗ văn chương và võ nghệ... Năm 23 tuổi được tuyển vào cung làm hoạn quan ( eunuch ) với chức Hoàng môn chi hậu; rồi tăng dần tới chức Thái úy ( chức Thống chế ngày xưa hay chức Tổng tư lệnh ngày nay )
Suốt 63 năm tận trung báo quốc, ông đã làm được cho dân, cho nước những công trình tuyệt vời từ chính tri, văn học, quân sự và cả Phật sự...vv..
Trong chính trường, Lý Thường Kiệt là đấng đại danh thần, có những phương sách đối ngoại, đối nôi rất giỏi, là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của nhà Lý, nhất là dưới thời hoàng đế Lý Nhân Tôn ( 1072-1127 ).
Trong lịch sử văn học,Thường Kiệt là cây đại bút, là tác giả của áng hùng thư ‘’ Nam Quốc Sơn Hà ‘’, có giá trị thiêng liêng như bản tuyên ngôn đôc lập lần thứ nhất từ thời tự chủ.
Trong quân sự ông là bậc đại tướng, là linh hồn của những chiến công bình Chiêm, phạt Tống, những chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà trong thế kỷ 11.
Danh sĩ Đặng Minh Khiêm đời Hồng Đức có môt bài thơ ca ngợi:
Đệ huynh chỉ xích thị minh quang,
Tài lược kiêm ưu hữu mão dương.
Bắc phạt, Nam chinh huân nghiệp trước,
Thù phi môn ngoại tiểu điêu đương.
Thoát Hiên Vịnh sử.
Anh em chầu trực chốn đền đài,
Tài lược gồm hai lại đẹp trai.
Đánh Bắc, bình Nam huân nghiệp rạng,
Hoạn thần nhưng khác lũ hầu sai.
(Giáo sư Hoàng Xuân Hãn dịch)

(Đền Trúc nằm ở thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam thờ danh tướng Lý Thường Kiệt)
Với đạo Phật, ông góp nhiều công đức. Thiền sư Pháp Bảo sống cùng thời Lý Thường Kiệt ghi công đức vào bia đá:
Tông giáo qui sùng.
Cảnh phúc thị thực.
dịch:
Thuận theo và tôn sùng ( Phật giáo ).
Giữ gìn phúc đức quả là đây.
Và; trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú ( con Phan Huy Ích ) viết:
‘’ Ông là người giàu mưu lược và có biệt tài làm tướng, từng làm quan trải thờ đến ba đời hoàng đế là Lý Thái Tôn, Lý Thánh Tôn, Lý Nhân Tôn, phá Tống, bình Chiêm, công lao, đức vọng ngày môt lớn, được sủng ái, thật xứng là người đứng đầu các bậc công hầu vậy.’’
Lý thường Kiệt biết rằng nhà Tống ( Song ) đang dòm ngó Đại Việt, chỉ chờ cơ hi thuận tiện là đem quân sang đánh để sát nhập nước ta làm châu quận. Đại Việt vẫn chưa quên mối thù môt ngàn năm bị đô h; vì vậy Lý Thường Kiệt muốn đánh Tống để được lợi thế bất ngờ (tiên hạ thủ vi cường ).
Nhưng trước khi phạt Tống ( 1075 ) ở phía Bắc, Lý Thường Kiệt phải tấn công Chiêm Thành cho yên mặt phía Nam và nhân tiện tái chiếm ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính ( là tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) mà nước Chiêm đã nhượng cho Đại Việt ( từ năm 1069) thời Lý Thánh Tôn, nhưng người Chiêm vẫn còn tiếc rẻ, hay quấy nhiễu và muốn đòi lại.

Nhà Tống đến đời Tống Thần Tôn ( Song Shen Zong 1068-1078 ) có Vương An Thạch ( Wang An Shi 1021-1086 ) làm tể tướng. Vương là môt chính trị gia có tài, có đầu óc cách mạng tân tiến. Vương đặt ra nhiều phép cải cách như :
-Phép Thanh Miêu: lấy thóc chứa trong kho cho nông dân vay mà chi dùng tới ngày mùa.
-Phép bảo giáp: nhà nào có 2 con trai thì phải có mt người luyện tập võ nghệ để phòng khi có chiến tranh
-Phép bảo mã: giao ngựa cho dân nuôi để tiết kiệm ngân sách
-Phép nông điền, thủy lợi .
-..vv..
Nếu những kế hoạch đó mà thành công thì Trung quốc (Zhong Guo ) sẽ rất hùng mạnh. Trung quốc mà hùng mạnh thì Đại Việt lo. Chính những cải cách táo bạo này đã đụng chạm đến quyền lợi của lớp chủ điền và phe bảo thủ. Họ đã ngấm ngầm bất mãn. Vì vậy có những sự không cng tác giữa dân chúng và quan lại.
Vương An Thạch thấy có cơ nguy làm lung lay chế đ nên ông muốn toàn dân nhất trí, toàn dân đoàn kết để hướng dẫn dư luận vào mt mục tiêu là‘’ đánh Đại Việt ‘’.Vương sai tri châu Tiêu Chu( Xiao Zhou )ở Ung Châu ( Yong Zhou ) thi hành kế hoạch. Tiêu Chu đến Quế Châu( Gui Zhou ) giao dịch với các tù trưởng, từ Đạo Đạc Ma đến châu Điền Đống để nghiên cứu tình hình Đại Việt. Nhưng lúc này Đại Việt đã chiến thắng Chiêm Thành, bờ cõi được mở rng về phương Nam, dân sinh quốc kế rất thịnh đạt nên Tiêu Chu lo sợ chưa giám tiến binh. Vương An Thạch bèn cử Thẩm Khởi ( Shen Qi ) thay Tiêu Chu.

Con kỳ lân trạm khắc bằng đá, đào được tại khuôn viên chùa Lịch Xứng, không rõ niên đại

Thẩm Khởi thu xếp mọi việc theo ý họVương và chuẩn bị quân lính, vũ khí, tiếp liệu... để Nam chinh. Nhưng sau không biết vì lẽ gì mà Thẩm Khởi bị thất sủng. Tống triều cử Lưu Di ( Liu Di ).
Di cho người đi thanh tra các khe ngòi, các đồn lũy, sửa soạn binh khí, thuyền bè và cấm không cho người gần đấy đi lại , buôn bán với người Đại Việt.
Vua Lý Nhân Tôn thấy thái đô bất thân thiện của Lưu Di và đoán là quân Tống sắp đánh Đại Việt, bèn viết thư cho Tống Thần Tôn ( Song Shen Zong ) kể tôi Lưu Di rồi năm Ất Mão (1075) khởi đại binh phạt Bắc. Lý Thường Kiệt làm tổng tư lệnh, Tôn Đản làm phụ tá đem 10 vạn quân, chia làm 2 đạo thủy b cùng tiến đánh. Quân Việt còn viện cớ rằng nhà Tống do thừa tướng Vương An Thạch đặt ra phép cải cách mới làm khổ trăm họ.Vậy quân Đại Việt sang đánh để cứu vớt nhân dân Trung Quốc...
Môt danh tướng Nhật Bản, dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng ( Ming Zhi Tian Huang ), khi nghiên cứu về chiến lược đánh Tống đã khen ngợi:
‘’ Sự tấn công bất ngờ của Lý Thường Kiệt đã tạo thành lịch sử chiến tranh. Trước nguy cơ ngoại bang xâm lấn không thể tránh, Lý Thường Kiệt tấn công địch trước là có lý. Đây là môt chiến lược căn bản nhằm phá vỡ ý chí xâm lược của địch quân ‘’( Ly Thuong Kiet’s surprise attack made war history. When the danger of foreign invasion could not be avoided. Ly thuong kiet advocated attacking the enemy first. This was an original strategy aimed at thwarting the enemy’s aggressive will )
Lý Thường Kiệt đem quân đánh Khâm Châu ( Qin Zhou ) và Liêm Châu( Lian Zhou ) thuôc tỉnh Quảng Đông ( Guang Dong ) giết hại hơn 8 ngàn người. Đạo quân Tôn Đản đánh Ung Châu ( Yong Zhou ), thuc Quảng Tây ( Guang Xi ). Quan đô giám là Trương Thủ Tiết ( Zhang Shou Jie) đem binh lại cứu bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn Lôn Quan ( Kun Lun Guan ) , chém Trương tại trận tiền.

Tôn Đản vây thành Ung Châu hơn 40 ngày. Quan tri châu họ Tô ( Su ) quyết tử thủ. Đến khi thành bị hạ thì Tô bắt cả gia đình 36 người phải chết trước, rồi tự đốt theo. Môt số người trong thành theo gương quan tri châu không chịu hàng. Quân Tôn Đản vào thành giết hại gần 6 vạn người và bắt được 200 nhà sư, thu lấy bằng sắc; rồi sai thám tử cạo đầu, mặc áo cà sa mang bằng sắc ấy giả làm sư đi sâu vào đất Tống dò xét. Nhờ vậy Lý Thường Kiệt biết rõ quân cơ chiến sự trong trận phục thù của quân Tống sau này.
Tổng số thiệt hại nhân mạng về phía Trung Hoa lên tới 10 vạn. Quân Việt đại thắng rồi rút về nước, mang theo mt số tù binh và của cải.

Vua Tống được tin này thì vô cùng tức giận, bèn sai Quách Quì ( Guo Kui )làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết ( Zhao Jie ) làm phó cùng 9 danh tướng khởi binh 10 vạn hi với quân Chiêm Thành và Chân Lạp để cùng tấn công Đại Việt.
Tháng chạp năm Bính thìn ( 1076 ), quân Tống vào địa hạt nước ta. Cuôc gặp gỡ đầu tiên giữa quân Lý, Tống ở sông Như Nguyệt, tức sông Cầu tỉnh Bắc Ninh, nay là ngoại ô Hà ni. Trận này quân Tống thua, chết hơn 1000 người. Quách Quì bèn mang quân về phía tây đến đóng ở sông Phú Lương là môt khúc sông phía tây của sông Như Nguyệt. Lý Thường Kiệt vi đem binh thuyền lên đón đánh không cho quân giặc qua sông. Lý Quì sai chặt tre, gỗ làm máy bắn đá. Những viên đá to hơn trái bưởi bay sang như mưa, khiến thuyền quân Lý thủng nát nhiều, quân sĩ chết tới mấy ngàn người.
Sau trận này, khí thế quân Tống lên cao, trong khi tinh thần quân ta bắt đầu xút giảm. Lý Thường Kiệt bèn vận dụng đòn tâm lý. Nửa đêm cho người tâm phúc vào đền Trương Hát, Trương Hống ( đền này ở phía nam sông Như Nguyệt, nay là huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh )giả làm Thần linh thét lên:

-Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Học giả Nguyễn Đồng Chi dịch:
Nước Nam Việt có vua Nam Việt.
Trên sách trời chia biệt rành rành.
Cớ sao giặc giám hoành hành?
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.

Ông Đặng Bá Cảnh dịch:
Vua Nam ngự trị đất phương Nam.
Trời đã phân chia rõ địa bàn.
Nếu kẻ âm mưu mong lấn chiếm.
Cuối cùng rồi tướng bại quân tan.

Bài hùng thi đó truyền rất nhanh. Quân Đại Việt và dân chúng đều tin tưởng là sẽ được thần linh phù hô;vì đền Trương Hát, Trương Hống nổi tiếng linh thiêng. Trương Hát và em là Trương Hống vốn là danh tướng của Việt vương Triệu Quang Phục ( 549-571). Triệu Quang Phục có công đánh đuổi quan quân nhà Lương cai trị nước ta. Sau hơn 20 năm trị vì. Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử đánh bại, phải nhảy xuông sông tự vận và anh em Trương Hát, Trương Hống cũng bị Lý Phật Tử sát hại.

Cuộc đua thuyền trên sông Đáy này là một nghi lễ tưởng niệm cuộc hành quân của Lý Thường Kiệt trên sông trong lần tiễn phạt quân Chiêm Thành

Tương truyền, anh em Trương Hát hiển thánh. Năm 950, Nam Tấn vương Ngô Xương Văn đi đánh giặc ở Tây Long được anh em họ Trương phù h nên phá được giặc. Sau khi thắng trận Vương truy phong cho Hát là ‘’Đại vương giang đô h quốc thần vương’’ và Hống là ‘’ Tiểu vương giang đô h quốc thần vương ‘’. Từ đó ngôi đền được dân địa phương sùng kính.
Bốn câu thơ trên làm phấn khởi tinh thần quân Đại Việt, nhưng đồng thời cũng làm nản lòng quân nhà Tống vì Lý Thường Kiệt dựa vào thuyết ‘’ Thiên mệnh ‘’ của phái Tống nho chủ xướng. Thuyết này đang được quảng bá ở Trung quốc và các nước Á đông bấy giờ. Theo thuyết đó thì mọi sự, mọi việc đều do ‘’ Trời ‘’ sắp xếp. Cá nhân hay tập thể sinh ra để thi hành.
‘’Ngẫm hay muôn sự tại Trời’’ ( Kiều- Nguyễn Du ), hoặc:
‘’Quyền Tạo hóa Trời tranh tất cả’’(Cung Oán-Nguyễn Gia Thiều )
Vì vậy, quân nhà Tống mà xâm lăng Đại Việt là trái với sách nhà Trời thì chắc chắn phải thua.
Nhờ Lý Thường Kiệt đưa ra ‘’ Thuyết Thiên Mệnh ‘’ đúng hoàn cảnh và đúng lúc nên bài thơ có 2 tác dụng tương phản là làm gỉảm ý chí xâm lăng của địch ( địch vận ) và tăng tinh thần quyết chiến của ta ( tuyên vận ). Đó là môt trong những lý do chính yếu khiến đoàn quân Quách Quì bị cầm chân tại sông Phú Lương.

mặt trận phía Nam, quân Chiêm Thành và Chân Lạp cũng bị đánh tan môt cách dễ dàng vì chủ lực quân Chiêm đã bị phá trước khi phạt Tống. Hai cánh quân đó phải rút lui mà không giúp được quân Tống.
Lúc đó, thế của quân Đại Việt và quân nhà Tống không phân thắng bại. Lý triều e đánh lâu không lợi. Nếu kéo dài cuôc chiến chỉ thêm tốn thêm nhân lực và tài lực quốc gia mà Lý Thường Kiệt biết rằng cuc hành quân lúc này của Tống triều chỉ do vấn đề thể diện.
Lý triều liền cử sứ bô sang điều đình ngưng chiến. Điều này thật đúng sự mong ước của nhà Tống. Bởi quân Tống lúc đó cũng bị tổn thất quá nửa vì chiến tranh và không hợp thủy thổ nên mang bệnh mà chết rất nhiều. Tống Thần Tôn liền chấp nhận ngay lời thương nghị; rồi cho rút binh. Nhưng khi rút về họ chiếm giữ mấy châu phía bắc là:

-Châu Quảng Nguyên thuc châu quảng Uyên tỉnh Cao Bằng ngày nay
-Châu Tư Lang tức Hạ Lang, Thượng Lang tỉnh Cao Bằng.
-Châu Tô Mậu, giữa Cao Bằng và Lạng Sơn.
Năm Mậu Ngọ ( 1078 ), vua Lý Nhân Tôn mở cuôc giao hảo với Tống triều . Sứ thần Đại Việt là Đào Tôn Nguyên đưa 5 con voi đã thuần thục sang cống vua nhà Tống và đòi lại 3 châu quận trên.
Tống triều ưng thuận, với điều kiện là Lý triều phải trả laị những quân dân các châu Khâm, Liêm, Ung do Lý quân bắt 3 năm trước. Tất cả có 221 người. Trước khi cho về nước Lý Thường Kiệt cho thích vào trán; đàn ông trên 20 tuổi ba chữ ‘’ Đầu Nam triều ‘’ ( nghĩa là hàng Nam triều ); đàn bà sâm hai chữ ‘’ Quan khách ‘’ ( khách nhà nước )vào cánh tay trái. Quân dân nào tuổi từ 15 đến 20 thì phải xung vào lính Đại Việt và khắc trên trán ba chữ ‘’ Thiên tử binh ‘’ ( lính nhà vua )
Hành đông sâm chữ vào trán và cánh tay tù nhân của Lý triều là muốn làm nhục nhà Tống.
Nhà Tống nhận được bọn tù nhân và 5 con voi, rồi rút quân khỏi 3 châu phía bắc, chỉ giữ lại mấy huyện nhỏ ở biên giới. Đất Quảng Nguyên có mỏ vàng cũng phải bỏ lại. Dân Tàu tiếc của, hát mỉa mai vua Tống:
-Nhân tham Giao Chỉ tượng.
Khước thất Quảng Nguyên kim.

Ông Đặng Bá Cảnh dịch:
-Tham chi Giao Chỉ năm voi.
Quảng Nguyên sao để mất toi kho vàng.

(Bàn thờ Lý Thường Kiệt tại Đền Trúc, Kim Bảng, Hà Nam)
Muà hạ năm Giáp tý (1084 ) Lý triều lại phái Binh bô thị lang Lê Văn Thịnh, người đậu thủ khoa đầu tiên ở nước ta sang yêu cầu Tống triều phân chia lại danh giới và trả nốt mấy huyện mà quân Tống còn giữ.
Lý triều áp dụng chính sách đòi dần để tình thế hai nước vừa xung đt bớt căng thẳng. Nếu yêu sách quá nhiều trong môt buổi, có thể nhà Tống sẽ không chiụ; vì như thế sẽ làm mất thể diện. Lý triều tiến từ từ, quả nhiên việc thương thuyết đem được như ý muốn. Chúng ta khâm phục việc ngoại giao của nhà Lý bấy giờ, khi cương, lúc nhu, nhưng bao giờ cũng giữ được cái kiêu hùng của kẻ chiến thắng.
Đời vua Lý Nhân Tôn tức thái tử Càn Đức lên ngôi mới 7 tuổi. Quan thái sư Lý Đạo Thành làm phụ chính, nhưng bên trong mẹ là ý lan thái phi buông mành nghe việc triều đình.
Ý Lan thái phi là môt nhân vật đặc biệt của thời đại, bên cạnh Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành hai vị văn võ có uy tín và thao lược nhất bấy giờ. Nhưng Lý Đạo Thành không chủ trương xâm lăng nước ngoài. Chỉ có thái phi và Thường Kiệt có môt tầm nhìn xa cho tương lai đất nước, nên cương quyết thi hành chiến lược bình Chiêm, phạt Tống.

(Trụ cổng Đền Trúc, 2 côt trụ đá có khắc 2 câu :Việt hữu Lý công, Cổ nhân chuẩn thức.
Nước Việt có tướng công người họ Lý, Noi theo đúng thể thức của người xưa)

Cuôc tình duyên của thái phi cũng ly kỳ và đẹp như môt huyền thọai. Bấy giờ, vua Lý Thánh Tôn đã 40 tuổi mà chưa có con trai, lấy làm lo lắng nên hay đi cầu tự ở các đền chùa. Môt hôm ngài ngự giá về làng Thổ Lỗi . Ngài cho phép dân chúng tự do chiêm bái long nhan. Thiên hạ già trẻ, trai gái đi xem đông như chảy hi, ai cũng muốn được nhìn mặt nhà vua. Trong khi đạo ngự đi qua có môt cô con gái đang ngồi tựa gốc cây lan như không để ý đến ai. Nhà vua ngạc nhiên, liền đòi đến hầu thì thấy cô gái đó tuy quê mùa, nhưng có nhan sắc đoan trang, cử chỉ đường hoàng, nói năng thanh nhã, ngài liền vời về cung. Thiếu nữ ấy tên Yến, tục danh là cô Cám, thôn nữ làng Thổ Lỗi, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh bấy giờ. Về kinh nhà vua sai Sùng Tín đại trưởng lão dạy cô học và những lễ nghi nơi cung đình. Nhờ sự thông minh, chẳng bao lâu cô lầu thông kinh sử và được phong là ý lan phu nhân.ý lan là tên cung điện, nơi phu nhân luyện tập văn bài và cũng có ý gợi lại kỷ niệm xưa khi nhà vua gặp phu nhân lần đầu đang ngồi tựa gốc lan.
Rồi phu nhân sinh ra hoàng tử Càn Đức và từ đó được phong là ý Lan thái phi.
Về chính trị, thái phi làm giám quốc rất đắc lực trong việc trị dân. Năm 1069, Lý Thánh Tôn và Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh Chiêm Thành. Trận ấy Đại Việt thua phải rút quân. Khi đoàn quân chiến bại trở về tới châu Cự Liên, nhà vua thấy nhân dân ai cũng ca tụng bà thái phi trị nước rất giỏi, dân no nước mạnh. Thánh Tôn bảo với các tướng sĩ tùy tùng rằng:
-Người đàn bà trị nước còn được như thế mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm à ?
Thánh Tôn cùng Thường Kiệt trở lại đánh. Quân Chiêm Không ngờ quân Việt trở lại, nên bị thua. Vua Chiêm là Chế Củ bị bắt. Củ phải xin dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh để chuc tôi
Khi về già, thái phi gây được nhiều công đức như xuất tiền kho để chuc con gái nhà nghèo bị cầm bán, rồi đem gả chồng vào những nơi tử tế. Chẩn cấp cho dân chúng những nơi có thiên tai. Cho xây 70 ngôi chùa ở Kinh Bắc ( Bắc Ninh ).
Cũng như thái phi,Thường Kiệt chuyên tâm về đạo Phật khi lớn tuổi và lúc đất nước thanh bình.
Năm Đinh Tỵ, ông được bổ làm tổng trấn Thanh Hoa ( tức Thanh Hóa ngày nay ). Môt hôm có Sùng Tín đại trưởng lão từ Thăng Long vào chơi, Lý thường Kiệt nhờ tìm đất để dựng chùa. Trưởng lão chọn được khí đất tốt nằm ở phía nam núi Ngưỡng Sơn thuôc tỉnh Thanh Hóa; rồi đích thân Lý Thường Kiệt trông coi việc xây cất. Sau 4 năm( 1085-1089 ) thì hoàn thành, đặt tên là chùa Linh Xứng. Tới đầu thế kỷ 20 thì chùa bị xụp đổ hoàn toàn. Chỉ còn tấm bia bằng đá khắc bài ‘’ Ngưỡng Sơn Linh Xứng Tự Bi Minh ( bài khắc trên bia để tại chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn ) của ngài Giác Tính Hải Chiếu đại sư, người sống cùng thời với ông để lại. Tấm bia đó có 3 đoạn đã tóm tắt sự nghiệp và ca ngợi công đức của Lý Thường Kiệt:

(Phía sau chùa Lich Xứng có tháp Chiêu An cao những chín tầng tại Hà Trung, Thanh Hoá)

Đoạn môt, nói về việc xây cất cùng cảnh trang nghiêm lông lẫy của ngôi chùa.
Đoạn hai, kể việc bình Chiêm, phạt Tống và công lao phò tá 3 đời hoàng đế, so sánh ông với Y Doãn ( Yi Yin ), Hoắc Quang (Guo Guang ) của nhà Thương ( Shang ) , nhà Hán ( Han ).
Đoạn ba, ca ngợi lòng sùng đạo Phật của Lý Thường Kiệt: ‘’ Thái úy tuy thân vướng việc đời mà lòng vẫn hướng về Tam thừa. Thái úy không ngừng nâng đỡ Phật giáo, nhân lúc rảnh việc triều đình./.


Nguyễn Mộng Khôi

CÙNG MỘT TÁC GIẢ:

Những Kẻ Bị Cắt Tai ( Giác Chánh - NMK)

TRI TÚC

CHÙA TRẤN-QUỐC Ở HỒ-TÂY QUA LICH SỬ & THI VĂN

Hội ngộ với văn học và lịch sử

CỎ CÂY CŨNG CÓ LINH HỒN

Không khí không mất tiền mua

TÂM BÊNH SANH THÂN BÊNH

ẤN GIÁO-PHẬT GIÁO-HỒI GIÁO

Lý Thường Kiệt

ĐỘNG HOA VÀNG

Sức Mạnh Của Cầu Nguyện

Thành Cổ Loa-Tình Mỹ Châu

BA NGÀY GIẢI PHÓNG THĂNG LONG

BẢN DỊCH THƠ TRỊNH CỐC- NGUYỄN MỘNG KHÔI

Vu Lan & Cúng Cô Hồn

VẠN HẠNH THIỀN SƯ

Bà Chúa Liễu Hạnh

Thăng trầm của chữ Nho qua bài thơ ÔNG ĐỒ

Ai Lên Xứ Lạng Cùng Anh

Dương Vân Nga :Từ chính sử đến truyền thuyết

LINCOLN VÀ KENNEDY



.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website
 

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS
Tin mới nhất của VOA

Ca khúc ngày hôm nay

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu | Du Lịch | Thư tín|TRÁI TIM HỒNG CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây| Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ | Đọc Truyện