| 
NHÀ
NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT
NHÀ
TUỲ ĐƯỜNG VÀ CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA (603-939)
NHÀ
ĐINH VÀ SỰ THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ
NHÀ
TIỀN LÊ (980-1009)
NHÀ
NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT
Giao Chỉ và nhà Tây
Hán (Nǎm 111 trước Công nguyên nǎm 39 sau Công nguyên)
Đấu tranh giành độc lập - Hai Bà Trưng khởi nghiệp
(40-43)
Nhà Đông Hán (25 - 220)
Lý Tiến và Lý Cầm phá lệ
Nhà Đông Ngô (222 - 280)
Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (248)
Giao Chỉ và nhà Tây Hán (Nǎm 111 trước Công
nguyên nǎm 39 sau Công nguyên)
Sau khi xâm lược
Nam việt, nhà Hán đổi thành Giao Chỉ bộ và chia
ra làm 9 quận:
Nam Hải (Quảng Đông)
Thượng Ngô (Quảng Tây)
Uất Lâm (Quảng Tây)
Hợp Phố (Quảng Đông)
Giao Chỉ (Bắc Bộ)
Cửu Chân (Thanh Hoá)
Nhật Nam (Nghệ Tĩnh)
Châu Nhai (Đảo Hải Nam)
Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam)
Nhà Hán đặt mỗi quận
một viên thái thú trông coi mọi việc trong quận
và viên thứ sử giám sát các quận. ở Giao Chỉ các
lạc tướng, lạc hầu vẫn được giữ nguyên và được cha
truyền con nối như trước.
Đấu tranh
giành độc lập - Hai Bà Trưng khởi nghiệp (40-43)
Những nǎm đầu Công
nguyên từ miền đất Mê Linh đã xuất hiện hai người
con gái kiệt xuất Trưng Trắc, Trưng Nhị và ở Chu
Diên là chàng trai Thi Sách dũng mãnh. Bởi thế,
mùa xuân nǎm ấy, khi mùa sǎn ở Mê Linh bắt đầu,
quan lạc tướng Chu Diễn đã cho con trai là Thi Sách
dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân
với họ Trưng. Y' quan lạc tướng Chu Diên đã rõ,
hai miền đất Mê Linh và Chu Diên liên kết được với
nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân
duyên của đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trách mà sức
mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh ấy
có thể xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của
nhà Hán, khôi phục lại nước cũ của người Việt. I't
lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng
Trắc đã cùng thi Sách kết nghĩa vợ chồng.
Giật mình trước cuộc
hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc
tướng Chu Diên, Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt
phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh
đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem
như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên
đưa tới khiến Trưng Trắc đau đớn,. Rồi ngay sau
đó, Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết
trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Trước khí
thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đo uý
trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan
tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh luỹ giặc tiến xuống
Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận trị Giao
Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân
từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương
nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung
sát, dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc,
Trưng Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy xa bay về
Nam Hải chịu tội với vua hán. Tin thắng trận dồn
dập bay đi.
Đất nước sạch bóng
quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm
vua, đóng đô ở Mê Linh.
Nǎm Tân Sửu (41),
vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm
phó tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là
Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang đánh Trưng
Vương. Chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người
Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống giặc đến
cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để
sống mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương.
Trong một trận đánh, sau khi phóng những ngọn lao
và bắn những mũi tên cuối cùng, Trưng Trắc, Trưng
Nhị đã gieo mình xuống dòng sông Hát Giang. Đó là
ngày mùng 6 tháng 2 nǎm Quý Mão (43).
Nhà Đông
Hán (25 - 220)
(Bắc thuộc lần thứ hai)
Mã Viện đánh được
Trưng Vương đem đất Giao Chỉ sáp nhập vào nhà Đông
Hán rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp
các nơi, đi đến đâu xây thành đắp luỹ đến đó.
Cũng như nhà Tây
Hán, nhà Đông Hán gộp miền đất Âu Lạc cũ thành Châu
Giao gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, khoảng
50 huyện. Đứng đầu châu vẫn là thứ sử từ Trung Quốc
cử sang. Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của
người Việt là những tên huyện lệnh người Hán. Luật
cũ của người Việt bị bãi bỏ. Dân Việt buộc phải
theo luật Hán. Chính quyền đô hộ đặc biệt đẩy mạnh
việc di dân Hán đến ở lẫn với dân Việt, bắt dân
Việt phải theo phong tục tập quán sống như người
Hán. Chúng bắt dân ta học chữ Hán và tiếng Hán,
truyền bá các tư tưởng "thần phục thiên tử",
"quy phục thiên triều".
Lý Tiến và
Lý Cầm phá lệ
Nhìn chung, các triều
đại phong kiến Trung Quốc tự xem mình là "Thiên
tử" coi dân Việt là "man dợ" nên
người Việt dẫu có học hành thông thái cũng không
được trọng dụng. Ngoài trường hợp Trương Trọng nói
trên, mãi đến đời vua Linh Đế (168-189) cuối nhà
Đông Hán, mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được
cất nhắc làm thái thú quận Giao Chỉ. Lý Tiến dâng
sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi làm quân bất
kỳ quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng vua Hán
chỉ cho những người đỗ Mậu Tài hoặc Hiếu Liêm được
làm quan trong xứ mà thôi. Lúc đó có người Giao
Chỉ tên là Lý Cầm, làm lính túc vệ trong cung, khẩn
thiết xin vua Hán bãi lệnh đó. Nói mãi, vua Hán
mới cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu Tài đi làm quân
lệnh ở Hạ Dương và một người đỗ Hiếu Liêm làm quan
lệnh ở Lục Hợp.
Thực tế đất Âu Lạc
từng có những người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan
nhà Hán, bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung
Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ khi Sĩ Nhiếp (187-226)
sang làm thái thú, vǎn hoá mới phát triển, nền giáo
dục mới được mở mang là không đúng.
Nhà Đông
Ngô (222 - 280)
Nhà Đông Hán mất,
nước Trung Quốc phân làm 3 nước: Bắc Nguỵ, Tây Thục
và Đông Ngô. Nhà Đông Ngô vẫn cho Sĩ Nhiếp làm thái
thú.
Nǎm Bính Ngọ (226),
Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng làm thái thú:
Ngô chủ là Tôn Quyền chia Giao Châu từ Hợp Phố về
Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về Nam gọi là
Giao Châu. Sai Lữ Đại làm thứ sử Quảng Châu, Đài
Lương làm thứ sử Giao Châu và Trần Thì sang thay
Sĩ Huy làm thái thú quận Giao Chỉ. Bọn Đài Lương
và Trần Thì sang đến Hợp Phố thì bị Sĩ Huy đem quân
ra chống giữ. Thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại một mặt
đem binh sang đánh dẹp, mặt khác cho người dụ Sĩ
Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng liền bị
Lữ Đại bắt giết. Tôn Quyền lại hợp Quảng Châu và
Giao Châu làm một và phong cho Lữ Đại làm thứ sử.
Cuộc khởi
nghĩa của Triệu Thị Trinh (248)
Bà Triệu, Triệu Trinh
Nương hay Triệu Thị Trinh đều là tên các đời sau
gọi người nữ anh hùng dân tộc hồi đầu thế kỷ thứ
II. Theo dã sử, Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 nǎm
Bính Ngọ (225). Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một
hào trưởng lớn ở miền núi Quan Yên, quận Cửu Chân
(Thanh Hoá). ở đó cho đến nay vẫn còn lưu truyền
nhiều truyền thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi
nghĩa chống giặc Ngô. Đó là chuyện Bà Triệu thu
phục được coi voi trắng một ngà, chuyện "Đá
biết nói" rao truyền lời thần nhân mách bảo
từ trên núi Quan Yên.
Có Bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Bà Vương...
Mỗi lần ra trận,
Triệu Thị Trinh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc
ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi dẫn quân xông trận,
oai phong lẫm liệt. Quân Ngô kinh hồn, bật vía đã
phải thốt lên:
Vung giáo chống hổ
dễ
Giáp mặt vua Bà khó
Hay tin khởi nghĩa
ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô
hốt hoảng phái ngay Lục Dận, một tướng từng kinh
qua trận khai mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ
sử. Lục Dận vừa đánh mạnh vừa đem của cải chức tước
ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một
số kẻ dao động mắc mưu theo địch. Mặc dầu vậy, Triệu
Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không
nao núng. Sau 6 tháng chống chọi vì có kẻ phản bội,
bà đã hy sinh trên núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hoá).
Bấy giờ Bà mới 23 tuổi.

XEM
TIẾP
|