| LỊCH
SỬ VIỆT NAM
Nền
văn hoá Đông Sơn
Phát
hiện mới ở Đồng Trương
Một
số mẫu vật được khai quật
TTCN - Hơn một tuần khai quật hang động dưới chân
lèn đá Đồng Trương thuộc xã Hội Sơn, huyện Anh Sơn
(Nghệ An), hai nhà khảo cổ thuộc Viện Khảo cổ VN
là Bùi Vinh và Bùi Văn Liêm đã phát hiện nhiều điều
thú vị hiện lên từ những mảnh gốm, vỏ sò, tảng đá,
vòng cổ, hạt cườm, lục lạc đeo chân... bên những
bếp lửa của người Việt thời sơ cổ cách đây hơn một
vạn năm.
Ông Bùi Vinh cho hay: “Cuộc khai
quật mới chỉ được một nửa (50m2/100m2) nhưng kết
quả khá phong phú gồm hàng ngàn hiện vật thuộc nhiều
loại đã trải qua các niên đại khác nhau”. Ông mở
từng gói nilông của “giai đoạn sớm” thuộc hậu kỳ
đá cũ cho tôi xem những công cụ đá được ghi ký hiệu
rất cẩn thận.
Đó là vô số tảng đá có hình thù
khác biệt như chày nghiền, não, công cụ chặt đập,
rìu tay, mũi nhọn... Ông giải thích đây là loại
công cụ đá được ghè đẽo rất thô sơ, ghi dấu bước
chập chững ban đầu của văn hóa người Việt thời sơ
Hòa Bình (Hòa Bình sớm) hoặc thời cách tân (đồ đá
cũ).

Rìu đồng góc vuông
Những mẫu vật này không mấy lạ lẫm trong lịch sử
khảo cổ VN. Điều đặc biệt và thú vị ở đây là sự
phát hiện mười ngôi mộ cổ hiện hình với những thanh
xương đùi, xương tay trong phạm vi 60cm/mộ. Kinh
nghiệm khai quật di chỉ mộ táng giúp ông Vinh nhận
biết đây là quần thể ngôi mộ có nghi thức chôn ngồi,
hoặc nằm co bó gối được chôn cất trực tiếp vào đất
(không có quan tài) ngay ở nơi cư trú cùng với nhiều
loại đồ tùy táng.
Chỉ vào những tầng tro xám của những bếp lửa đã
tắt ngấm ngàn xưa bên cạnh những ngôi mộ với nhiều
lớp vỏ ốc suối, ông Vinh nhận định: “Người Việt
cổ không muốn rời xa người thân đã chết nên đã chôn
cất họ ngay cạnh bếp lửa nhà mình”. Ông cũng nêu
một giả thuyết: sở dĩ có nghi thức chôn ngồi hoặc
bó gối là do người sống sợ “con ma” về làm hại (?).
Đặc
biệt trong mười ngôi mộ táng có hai mộ chỉ chôn
độc hai chiếc đầu lâu. Theo ông Vinh, có giả thuyết
cho rằng nghi thức này xuất phát từ tục săn đầu
lâu thời đó do những thủ lĩnh bộ tộc khởi xướng
để đem về thờ xua đuổi tà ma như tục của một số
dân tộc sơ khai trên thế giới (?).
Di chỉ chôn ngồi rất ít gặp trong
lịch sử khảo cổ. Riêng hai năm 1978-1980 trong lúc
khai quật di chỉ cồn Cổ Ngựa ở huyện Hà Trung (Thanh
Hóa), ông Vinh đã gặp 101 mộ táng chôn ngồi hoặc
nằm co bó gối kiểu này nhưng niên đại gần hơn, cách
đây khoảng 6.000 năm (thuộc văn hóa Đa Bút, hậu
Hòa Bình).
Kiểu mộ chôn ngồi ở Đồng Trương
là lần thứ hai được phát hiện sau cồn Cổ Ngựa nhưng
có niên đại sớm nhất ở nước ta, khoảng 10.000-12.000
năm. Di chỉ đặc biệt ở Đồng Trương có thể cho phép
các nhà khảo cổ nghiên cứu thành phần chủng tộc
của chủng nhân văn hóa (văn hóa sơ Hòa Bình).
Mặt khác, tuy xa cách nhau hàng
ngàn năm nhưng cách táng trụ có quan hệ chặt chẽ
với nhau sẽ giúp các nhà nghiên cứu đồng tính chất
về văn hóa của người Việt thời từ sơ Hòa Bình đến
tận thời hậu Hòa Bình (khoảng 6.000 năm).
“Giai đoạn muộn” thuộc thời đại
kim khí hiện lên trong di chỉ với khá nhiều hiện
vật của văn hóa Đông Sơn gồm: rìu, dao găm (có trang
trí hình người), một số đồng tiền Ngũ Thu (thời
Tây Hán)..., vòng tay bằng đồng và mảnh vỡ của thạp
đồng.
Nằm lẫn với đồ đồng
là những vật dụng trang sức (vòng tay, chuỗi hạt)
bằng thủy tinh cùng với rất nhiều đồ gốm như dõi
xe chỉ, vại, nồi, bát, đĩa... Tiến sĩ Bùi Văn Liêm
cho biết tất cả hiện vật này nằm ở địa tầng trên
thuộc nhiều giai đoạn kéo dài khoảng 3.000 năm.
Riêng niên đại thời kim khí có từ 3.000 năm đến
2.000 trước Công nguyên.
Trẩy
hội Đền Hùng
"Dù ai đi ngược về xuôi,Nhớ ngày giỗ Tổ mùng
mười tháng ba."
Giỗ tổ Hùng Vương hay lễ hội đền Hùng là một lễ
hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam. Hàng năm,
vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, hàng vạn người từ khắp
mọi miền tổ quốc đổ về đền Hùng để tưởng nhớ và
tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng,
những vị vua đầu tiên của dân tộc. Đền Hùng là một
khu du lịch nổi tiếng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã
Hy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú cách Hà
Nội 100km về phía Bắc. Đó là một quần thể kiến trúc
bao gồm lăng tẩm, đền, miếu cổ kính. Do những biến
động của lịch sử và sự khắc nghiệt của thời gian,
các kiến trúc ở đền Hùng đã được trùng tu và xây
dựng lại nhiều lần, gần đây nhất là vào năm 1922.
Từ chân núi đi lên, qua cổng đền, điểm dừng chân
của du khách là đền Hạ, tương truyền là nơi bà Âu
Cơ đẻ ra bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm
người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn
chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm
vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Qua đền Hạ
là đền Trung, nơi các vua Hùng dùng làm nơi họp
bàn với các Lạc hầu, Lạc tướng. Trên đỉnh núi là
đền Thượng là lăng Hùng Vương thứ sáu (trong dân
gian gọi là mộ tổ) từ đền Thượng đi xuống phía Tây
nam là đền Giếng, nơi có cái giếng đá quanh năm
nước trong vắt. Tương truyền ngày xưa các công chúa
Tiên Dung và Ngọc Hoa, con vua Hùng Vương thứ mười
tám, thường tới gội đầu tại đó. Lễ hội đền Hùng
bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính
chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn
hóa dân gian khác... Các hoạt động văn hóa mang
tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước
kiệu vua và lễ dâng hương. Đó là hai nghi lễ được
cử hành đồng thời trong ngày chính hội. Đám rước
kiệu xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua
các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương.
Đó là một đám rước tưng bừng những âm thanh của
các nhạc cụ cổ truyền và màu sắc sặc sỡõ của bạt
ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống...
Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ
thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước
như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền
thoại để tới đỉnh núi Thiêng.Góp phần vào sự quyến
rũ của ngày lễ hội, ngoài những nghi thức rước lễ
còn những hoạt động văn hóa quần chúng đặc sắc.
Đó là những cuộc thi hát xoan (tức hát ghẹo), một
hình thức dân ca đặc biệt của Vĩnh Phú, những cuộc
thi vật, thi kéo co, hay thi bơi trải ở ngã ba sông
Bạch Hạc, nơi các vua Hùng luyện tập các đoàn thủy
binh luyện chiến. Người hành hương tới đền Hùng
không chỉ để vãn cảnh hay tham dự vào cái không
khí tưng bưng của ngày hội mà còn vì nhu cầu của
đời sống tâm linh. Mỗi người hành hương đều cố thắp
lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói
thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ
tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất,
gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó
hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ
những chân hương. Trẩy hội Đền Hùng là truyền thống
văn hóa đẹp của người Việt Nam. Trong rất nhiều
những ngày hội được tổ chức trên khắp đất nước,
hội đền Hùng vẫn được coi là hội linh thiêng nhất
bởi đó là nơi mỗi người Việt Nam nhớ về cội nguồn
và truyền thống oai hùng, hiển hách của cha ông.
Nền văn hoá Đông
Sơn
Trống đồng Việt Nam
phân bố ở nhiều nơi trên đất nước ta, từ Sơn La,
Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn... đến Thanh Hóa, Nghệ
An, Đồng Nai, Sông Bé, Khánh Hòa, Vũng Tàu... vào
tận vùng hải đảo xa xôi Phú Quốc. Ngoài ra, bằng
con đường giao lưu văn hóa hoặc trao đổi, trống
đồng Việt Nam vượt biên giới đến những nước lân
cận trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Thailand,
Malaysia...
Trống
đồng Việt Nam có nhiều loại hình, nhưng tất cả khởi
nguồn từ trống Đông Sơn mà đỉnh cao là sự hoàn thiện
kỹ thuật chế tạo là trống đồng Ngọc Lũ. Trống đồng
Việt Nam có niên đại khởi đầu khoảng thiên niên
kỷ I trước Công nguyên cho đến một vài thế kỷ sau
công nguyên. Nó là sản phẩm đầy trí tuệ của người
Việt cổ, cộng đồng cư dân đã chinh phục vùng đồng
bằng sông Hồng, sông Mã, một vùng đất chứa nhiều
sản vật thiên nhiên nhưng cũng đầy thử thách. Tổ
tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên
nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo hiếm
có đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau bản địa,
nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất Đông Nam
Á.
Trống đồng là biểu
hiện tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt
kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền uy của một nhà
nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta - Nhà
Nước Hùng Vương. Trống đồng và những hình khắc họa
trên trống đã giúp chúng ta ngày nay hình dung được
đôi nét về cuộc sống của người Việt cổ ở thời xa
xưa ấy. Hoa văn trên trống đồng có nhiều loại, kiểu
bố trí hợp lý trên các phần mặt, tang và thân trống.
Nó được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích để
làm một trong những cơ sở khoa học trong phân loại
trống và khắc họa những nét sinh hoạt kinh tế, xã
hội, văn hóa Đông Sơn thời bấy giờ.
Trống Đồng Đông Sơn:
là một loại nhạc cụ dùng trong các buổi lễ hay khi
đi đánh nhau. Trống đồng được tìm thấy ở nhiều nơi
trên đất Việt Nam, như Thanh Hóa (Đông Sơn, 24 trống),
Hà Đông (9 trống), Bắc Ninh, Cao Bằng (mỗi tỉnh
3 trống), Hà Nam, Hà Nội, Hoà Bình, Kiến An (mỗi
nơi 2 trống), Nam Định, Lào Cai, Sơn Tây, Yên Bái,
Hải Dương, Nghệ An, Thủ Dầu Một, Kontum (mỗi nơi
một trống). Ở Hoa Nam thì tìm thấy nhiều nhất, ở
Vân Nam (5 trống). Các tỉnh khác thì Quế Châu, Quảng
Tây, Tứ Xuyên (mỗi tỉnh tìm thấy 3 trống), Quảng
Đông (2 trống). Tại Cam bốt, Lào, Thái Lan, Miến
Điện, MãLai, Nam Dương cũng thấy nhiều trống đồng
cổ. Riêng Thái Lan và Lào cũng như ở xứ Mường (thượng
du Việt Nam) ngày nay người ta vẫn còn dùng trống
đồng. Trống đồng đẹp nhất phải kể đến các trống
Ngọc Lũ, Hoà Bình, và Hoàng Hạ.
Trống Đồng Ngọc Lũ:
tìm thấy ở chùa Ngọc Lũ (Hà Nam) vào năm 1901. Trống
này cao 0,63 mét (1.8 ft), đường kính mặt trống
0,86 mét (2.5 ft), được trang trí bằng các hình
chạm sâu xuống cả trên mặt trống lẫn tang trống.
Chính giữa mặt trống là một hình ngôi sao (hay mặt
trời) 14 cánh. Chung quanh ngôi sao này là 16 vòng
tròn đồng tâm có trang trí bằng nhiều hình kỷ hà
hay hình vẽ khác nhau. Giữa vòng thứ 5 và thứ 6
có khắc hình 2 căn nhà mái cong, có sàn, trong có
người tóc dài ngồi. Trước nhà là 4 dàn trống và
đoàn vũ nhạc nhảy múa, thổi khèn. Sau nhà có 2 người
đang giã gạo. Xen kẽ với 2 nhà sàn trên là 2 nhà
sàn mái tròn trong có người cầm kiếm. Trước nhà
này có một người tay phải cầm kiếm, tay trái cầm
một con chim. Sau nhà là một đoàn võsĩ cầm lao,
cầm kiếm đang múa. Giữa vòng thứ 7 và thứ 8 có chạm
hình 2 đàn hươu (10 con mỗi đàn) và xen kẽ với 2
đàn chim đang bay (mỗi đàn 8 con). Giữa vòng thứ
8 và thứ 9 có khắc 18 con chim mỏ dài đang bay,
xen kẽ với 18 con chim đang đậu dưới đất. Trên tang
trống, phần phình ra có khắc hình thuyền trên có
những người cầm lao, kiếm, cung, đang chuẩn bị chiến
đấu, hoặc đang nhảy múa hoặc chèo thuyền. Trên phần
thẳng đứng có những đường trang trí kỷ hà thẳng
đứng hay nằm ngang đóng khung lấy những hình người
cầm rìu và lá chắn.
Văn Miếu tại Hà Nội
Văn Miếu tại Hà Nội, nơi tượng trưng cho Nho học
Việt Nam, được xây dựng dưới đời vua Lý Thánh Tông
vào mùa thu, tháng tám, năm Canh Tuất (1070). Đồng
thời, tượng của Khổng Tử và bốn đồ đệ giỏi nhất
của ông cũng được tạc và thờ tại đây. Sáu năm sau
(1076), vua Lý Nhân Tông lại lập thêm Quốc Tử Giám
để làm nơi dạy học. Thoạt đầu, đấy chỉ là nơi học
tập của các hoàng tử, dần dần về sau mở rộng ra
đến con quan và con dân.Sang đời nhà Trần, vào năm
1243, Văn Miếu và Quốc Tử Giám được sửa sang lại.
Đến đời nhà Lê là một nước trọng Nho, xem Nho giáo
như là quốc giáo, thì Văn Miếu và Quốc Tử Giám lại
càng được chú trọng hơn nữa. Kiến trúc này được
trùng tu cả thảy 4 lần vào các năm 1511, 1567, 1762,
1785, và nhiều công trình mới được thực hiện, trong
đó có bia đá đề tên Tiến Sĩ.Văn Miếu - Quốc Tử Giám
là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, tại đây,
hàng ngũ trí thức "rường cột" của đất
nước được đào tạo từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.
Nhiều nhân tài đã xuất thân từ đấy và đã có nhiều
cống hiến to lớn. Đó là nhà sử học Ngô Sĩ Liên,
Phan Huy Ích, nhà bác học Lê Quý Đôn, Phùng Khắc
Khoan, nhà chính trị Ngô Thì Nhậm, Phạm Công Trứ...Văn
Miếu - Quốc Tử Giám là một biểu tượng sâu sắc cho
tinh hoa của lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Ngôi
đình làng
Bất kỳ một làng quê nào ở Việt Nam cũng có một ngôi
đình. Đình là ngôi nhà công cộng của làng quê thời
xưa, dùng làm nơi thờ Thành Hoàng và họp việc làng.
Đó là một ngôi nhà to, rộng được
dựng bằng những cột lim tròn to thẳng tắp đặt trên
những hòn đá tảng lớn. Vì, kèo, xà ngang , xà dọc
của đình cũng làm toàn bằng gỗ lim. Tường đình xây
bằng gạch. Mái đình lợp ngói mũi hài, bốn góc có
bốn đầu đao cong. Trên nóc đình là hai con rồng
chầu mặt nguyệt. Sân đình được lát gạch. Trước đình
có hai cột trụ cao vút, trên đình được tạc hình
con Nghê. Trong đình, gian giữa có bàn thờ, thờ
một vị thần của làng gọi là Thành Hoàng. Một chiếc
trống cái cũng được để trong đình để đánh vang lên
theo nhịp ngũ liên thúc giục dân làng về đình tụ
họp bàn tính công việc của làng.
Vào những ngày lễ, tết, dân làng
đến đình thắp hương tế lễ nhộn nhịp, cầu mong Thành
Hoàng và Trời Đất giúp cho mưa thuận gió hòa, cày
cấy, làm ăn thuận tiện và có nhiều phúc lành. Mùa
xuân đến, sân đình trở thành sân khấu hát chèo,
hoặc để đấu vật, chọi gà, múa hát giao duyên. Xung
quanh đình, thường có những câ đa cổ thụ vẫy gọi
chim về làm tổ, ríu rít âm thanh, có giếng nước
rộng trong vắt để làm nước ăn, nước uống và để các
cô gái làng xinh đẹp đến soi gương làm duyên.
Trước đình thường có một hồ nước
trồng sen, hương thơm ngào ngạt. Đình làng còn là
nơi trai thanh nữ tú trong làng đến để hẹn hò tình
yêu. Ngôi đình làng Việt Nam cổ kính, trang nghiêm,
ẩn mình sau lũy tre xanh mướt là một tác phẩm nghệ
thuật của con người hòa nhập trong làng quê.

|