| LỊCH
SỬ VIỆT NAM

Trường
Bưởi - Hồ Tây- Phúc Nhạc
(Bài viết sau có nhiều chi tiết giá trị để riêng
tặng những cựu học sinh Chu Văn An .Tuy nhiên, có
một vài chi tiết và từ ngữ không thích hợp, xin
bỏ qua cho. . . HNPĐ )
Nhà
tưởng niệm Danh sư Chu Văn An
Ta chúc mừng nhau tuổi bảy mươi
Cháu con dâu rể lên “Ông” rồi
Lửa đạn thăng trầm bao sóng gió
Mà hồn trường Bưởi vẫn xanh tươi
... Các cậu có nhớ không? Cái buổi sáng tinh khiết
một ngày tháng 9 năm 42 đó, chúng mình lần đầu tiên
bỡ ngỡ quen nhau bên cái cổng sắt rộng lớn của khu
trường Bưởi cạnh dòng nước Hồ Tây xanh trong bát
ngát với những con thuyền mỏng bập bềnh trôi. Kỳ
thi concours năm ấy ngoài hệ E.P.S như thường lệ
còn mở thêm hai hệ mới: E.O dạy chữ Hán và A (sinh
ngữ Anh Văn). Proviseur(1) là Pérucca có cái chân
trái đi hơi tập tễnh, dáng dấp parisien lịch sự,
có cô con gái đầm cũng khá là xinh. Censeur(2) Dizes
dân Corse có cái mũi khoằm khoằm như mũi diều hâu
mặt lúc nào cũng đỏ gay như mào gà sống thiến hay
đập bàn quát tháo học sinh. Thầy giáo chủ nhiệm
(Professeur principal) của chúng ta năm Đệ nhất
là thầy Bao dáng mảnh khảnh nho nhã hay mặc bộ tropical
màu xám, năm Đệ nhị là thầy Bảng người cao khỏe,
ít cười. Năm Đệ tam ở Phúc Nhạc là thầy Mùi với
cặp kính to trên một khuôn mặt tròn, nước da ngăm
đen, thầy dạy tiếng Pháp nhưng lại hay dặn học sinh
chúng ta chỉ nên sử dụng tiếng Pháp giờ vào lớp
không nên dùng tràn lan trong sinh hoạt mà quên
đi tiếng mẹ đẻ. Thầy Hiệt dạy Văn, thầy Chương Physique
- Chimie(3) nghiêm nghị nhưng nhân hậu, ba Hùng
dạy Toán rất yêu thương học sinh, ba Khang Histoire(4)
người đẫy đà vui tính hay mặc “soóc”, ngày nghỉ
thường lên chơi thị xã Ninh Bình, thầy Chính Géographie(5)
người xương xương nghiêm túc trong bộ đồ nam phục,
thường có tâm sự riêng, cụ Thẩm Quỳnh Caractères
chinois(6) đạo mạo với chiếc áo the, khăn xếp, thầy
Quang “sciences nat.” luôn chau chuốt thanh lịch,
thầy Nguyễn Tường Lân dạy vẽ và v.v... Các thầy
cũ ở đâu ai còn, ai mất ? Chúng ta có lỗi đã không
được biết tường tận và do bao năm binh lửa cũng
ít có quan hệ thăm hỏi các thầy nhưng luôn luôn
xin được gửi về các thầy, lòng dạt dào kính trọng
và biết ơn vô hạn trước công lao dạy bảo khó nhọc
của các thầy đã đào tạo thế hệ trẻ chúng con nên
người hữu ích hôm nay.

Trường Bưởi năm 1941 dưới thời thuộc Pháp.
Trên cổng trường, ta còn nhìn thấy cái tên“Lycée
du Protectorat” (Trung học Bảo hộ) và lá cờ đỏ “tam
tài” - quốc kỳ Pháp
Các cậu có nhớ không? Những buổi sớm gió trời lồng
lộng, trên cái vòng piste ven quanh Hồ Tây chúng
ta cùng chạy đua 100 mét, 200 mét hoặc nhảy dài,
nhảy cao dưới sự hướng dẫn của các moniteur(7) Phan
Thiết như anh Đức, anh Ước và cả một tay trung sĩ
người Pháp cao to tên là Doux. Các moniteurs này
thường vui vẻ dễ dãi với học sinh chúng ta. Cũng
cái vòng piste đó còn dùng làm nơi tổ chức Hội trường
Bưởi hàng năm với những vở ca kịch lịch sử như Trần
Nguyên Hãn, Lê Lai cứu chúa, Huyền Trân công chúa
hay như hoạt cảnh một chiếc xe bò kết lá trên có
mấy chàng “cow – boy” mũ rộng vành, áo ca rô tay
phừng phừng chiếc ghi ta gô miệng hát nghêu ngao
một điệu du mục Mề tây cơ. Sau lễ hội trường Bưởi
say máu với những đề tài lịch sử chống ngoại xâm
của cha ông, chúng ta thường kéo nhau đến bãi bóng
Finance đánh nhau với lũ Tây con trường Albert Sarraut
cũng hay đến đó đá bóng. Bọn mình hồi đó mới là
hạng “nhóc” đàn em mới nhập trường nên thường chỉ
được giao đóng vai Supporter và đánh hôi. Gạch,
thanh củi, đòn gánh, guốc dép... có cậu mang cả
point américain để nện Tây thả cửa. Bọn Sarraut
và mấy cô đầm Félix Faure rất nể học sinh trường
Bưởi.
Chúng ta còn nhớ cả các thầy giám thị như thầy Lung,
thầy Bình, thầy Di, thầy Đệ. Các thầy thường hay
quản lý chúng ta ngoài giờ lên lớp để luôn nhắc
nhở chúng ta vào nề nếp học tập giữ đúng nội quy
giờ giấc. Nhưng ngày ấy tuổi trẻ ham chơi nghịch
nên khi bị cấm đoán, chúng ta thường hay có định
kiến không đúng về các thầy.
Những buổi trưa tiếng ve kêu ran dưới vòm cây sấu,
chiếc xe điện lại leng keng ngày hai buổi đậu sát
bên cổng trường đưa đón bọn Demi-Pension chúng mình,
còn các cậu học giỏi được bourse internat hoặc ở
tỉnh xa thì ăn ở luôn tại trường, tầng gác ba lộng
gió. Mình nhớ bà hàng nước hiền hậu có cái quầy
nhỏ bán ô mai, chuối, bưởi, kẹo vừng kẹo bột nhiều
lúc rất dễ dãi bán chịu ghi sổ cho các cậu chẳng
may túi rỗng hoặc người nhà chưa kịp gửi tiền lên.
Nhớ bác bảo vệ mặt ngớ ngẩn thần kinh mỗi khi đánh
trống vào lớp xong lại khoan khoái rít một hơi thuốc
lào sòng sọc. Nhớ cả ông già mắt hấp háy mới sáng
tinh mơ đã đến ngồi cạnh cổng trường rao bán bánh
mỳ pa-tê mỗi chiếc hai xu. Nhớ cả dàn đồng ca (orchestre)
tuyển chọn một số anh em có giọng tốt dưới sự hướng
dẫn của hai giảng viên nhạc người Pháp: Robert và
Parmentier... Chúng mình đã phải gân cổ lên mỗi
buổi sáng chào cờ “Allons, enfants de la patrie(8)...”
hoặc trước giờ học đã phải đứng nghiêm nhìn ảnh
lão Pétain to tướng treo trên tường mà đồng thanh
“Maréchal, nous voilà! Devant toi, le sauveur de
la France(9)...”. Nó bắt hát thì phải hát, chứ bọn
mình có ý thức gì đâu. Khuynh hướng chung ngày ấy
là thích những giai điệu cổ điển kia như cái bài
Barcarolle với cái âm hưởng dịu dặt của một con
thuyền trôi trên sóng nước mang cái dáng dấp Hồ
Tây thân quen của chúng ta.
Cuộc đời học sinh đang nhẹ nhõm hồn nhiên như vậy
ở Hà Nội thì giữa năm 42 máy bay Mỹ thường sang
oanh tạc bọn Nhật ở đây. Chúng đánh nhau làm dân
mình chết thay. Chợ Hàng Da, ga Hàng Cỏ. Bom rơi
người chết nhà đổ. Để giữ an toàn cho học sinh,
cuối năm 43 đó chúng ta được di chuyển về một vùng
xa xôi: Phúc Nhạc (Ninh Bình) còn các cậu ban Tú
Tài thì đi Thanh Hoá. Một chuyến tàu bịn rịn nhớ
nhung, chuyển bánh lùi lũi, âm thầm trong bóng đêm
phủ đặc.
Các cậu có nhớ không? Tàu đến ga Cầu Guột (dưới
Thanh Trì) thì trật bánh, xô mạnh vào cái chateau
d’eau bên đường. Nước sối tung tóe vào trong khoang
làm ướt sũng hành lý và bọn học sinh chúng mình.
Hơn chục người chết. Tin rất nhanh về Hà Nội “học
sinh trường Bưởi chết vô kể”, nhiều ông bố, bà mẹ
vừa khóc vừa đáp xe bổ xuống hoặc phóng nhanh lên
trường hỏi tin tức. May sao học sinh trường Bưởi
không ai việc gì. Chỉ chết một số hành khách đang
đứng dưới đường đợi tàu hoặc sơ ý ngồi vắt vẻo ở
bậc lên xuống. Có một người đứng bên cái chateau
d’eau bị thành tàu va mạnh chết bẹp dí; máu bê bết
phải gỡ mãi xác mới ra. Cái hình ảnh rùng rợn buổi
niên thiếu đó cứ ám ảnh mình mãi sau này khiến mỗi
khi đi tàu mình thường rất nghiêm túc ngồi tụt hẳn
vào bên trong và chẳng bao giờ dám thò đầu, thò
tay ra ngoài khoang:
“Ôi Phúc Nhạc đêm buồn bảng lãng,
Đời học sinh nương gửi giáo đường...”

Tu chủng viện Phúc Nhạc thuộc tỉnh Ninh Bình
- năm 1944 nơi học sinh trường Bưởi
(khối E.P.S) sơ tán. Một buổi sáng xếp hàng “chào
cờ” trước khi vào lớp
Chúng ta bắt đầu một nhịp sống mới: Phúc Nhạc. Mái
nhà thờ Đạo âm u với những tiếng cầu kinh rì rầm,
những vạt áo dài thâm lặng lẽ đi dưới hành lang.
Các cha cố rất chiều học sinh thường hay hỗ trợ
gạo, củi và các trái cây, ngày nghỉ mời học sinh
tham gia các buổi nghe kinh, giảng đạo, có lần xe
ô tô đưa chúng mình đến tận Phát Diệm, cái nôi của
giòng đạo Thiên Chúa xứ Bắc này. Tuần phủ Ninh Bình
Từ Bộ Thực cũng thường đến thăm trường và có những
sự giúp đỡ thiết thực, ưu ái.
Những ngày nghỉ chúng ta thường tổ chức lên chơi
thị xã Ninh Bình thăm chùa Non Nước hang Từ Thức,
động Hoa Lư nghe nói chuyện về những đề tài lịch
sử, gương chiến đấu chống quân xâm lược của cha
ông xưa, từng bước nhen nhúm trong mỗi chúng ta
lòng tự hào và thiết tha yêu quê hương đất nước.
Ngoài những giờ ôn bài vở, chúng ta thường hay chơi
đá cầu hoặc đá bóng. Bóng da hoặc bóng cao su. Đến
bây giờ mà vẫn nhớ như in trên cái bãi cỏ Phúc Nhạc
dưới nắng trưa, những đường bóng lắt léo thông minh
của Sơn Đài, Ngọc Huynh ở vị trí ailier và inter
gauche thường được bổ sung cho lớp 4C với những
Vĩnh Vếu, Toàn Cháy thi đấu với lớp đàn anh 4A gồm
một số “cầu thủ” con quan như Từ Bộ Lãng, Lê Gia...
Cậu Lãng môi đỏ chót như son, thường mặc “soóc”
cố ý phô bộ đùi phốp pháp trắng như đầm, chiếc khăn
bông trắng vắt ngang cổ rất điệu, giữ thủ môn và
cũng rất sợ những cú sút từ xa của Vĩnh Vếu. Có
lần 4A bị thua cay cú đón đánh 4C - Đặng Đình Bàn
nổi hung vác dao phay khua tới (cậu này sau hy sinh
ngay trong đêm đầu tác chiến Thủ đô 19/12/46).
Mình thì từ lâu đã đoạn tuyệt với giấc mơ “cầu thủ”
mà chỉ chuyên cần đi “com măng” bài vở anh em cho
tờ bích báo của lớp. Điều đáng nêu là tờ bích báo
của cánh E.P.S 42 chúng mình đã duy trì được đều
đặn suốt từ “Première année” đến khi trường - sau
đảo chính - trở về Hà Nội mới thôi. Ra hàng tuần
và cả những số đặc san, nguyệt san. Bìa hoa hoét
màu sắc khá đẹp mang những cái tên gợi cảm dễ thương:
Tuổi trẻ, Hoa niên thiếu, Phượng, Conga (Con gà
- số Tết một năm Dậu) cộng tác viên “tên tuổi” nghe
cũng “kêu” đấy chứ: Anh Sơn, Ngọc Thuỷ, Lan Như,
Quý Thiên, Hàn Phương Sỹ, Mộng Long, Mộng Lục “six
rêves” (cậu này sau làm báo Văn nghệ Quân Đội, hy
sinh ở biên giới phía Bắc) tham gia còn có cả Trần
Quang Huy lớp trên tức Việt Phương cửa mở sau này.
Bọn mình nói chung chăm chỉ, học khá, có cậu hơi
gạo. So với các lớp kia thì cánh E.P.S 42 chúng
mình gần như là nghèo nhất. Do đó chúng mình biết
thân phận tu chí học hành chứ không “ăn chơi” như
một vài cậu bên A hoặc E.O. Brillant nhất có lẽ
là Trọng Lai, Lê Ánh, Sơn Đài, Đăng Phùng thường
giật prix d’honneur và prix d’excellence(10), cuối
mỗi học kỳ. Đẹp giai có Mai Sinh hôm nay đang là
ông đại tá Tổng cục chính trị Mai Khang tuổi hơn
60 vẫn rất bảnh bao, nghi thức như xưa. Nhỏ nhắn
có Đỗ Văn Hàn, Chu Trọng Đễ. Có cái ve bên mắt đá
cầu chân trái rất “nghệ” là Đỗ Trọng Khương những
buổi trưa dưới cái sân préau có mái che. Cậu Đông
tàu hoả hùng hục như một toa xe lửa. Rồi Yến Surdain,
Loại khỉ, Thuần cả đăm, Long đỏ, Long trắng, hai
cậu miền núi: Bạc cầm Trực to nặng Đào Đức Mậu thư
sinh...
Các cậu còn nhớ không? Cái tay Slaess giám thị lai
da đen đó thường hay “trù” học sinh chúng mình.
Quá chín giờ đêm, đèn tắt đi ngủ là nó bắt đầu lên
dortoir, rình mò đi dép, êm như một con mèo, soi
đèn pile lên đầu giường những cậu chưa ngủ còn đang
rì rầm nói chuyện. Thế là “consigne” chủ nhật cắm
tại trường không được đi chơi. Bọn mình rất căm
mới bố trí phục kích chăng dây thừng giữa hai chân
giường, cu cậu vừa lò dò đi tới bị giật mạnh ngã
quay lơ, một số anh em cái chăn dang sẵn rộng cứ
thế chùm lên hắn ta mà đánh đòn hội chợ tơi bời.
Xong nhanh như chớp ai về giường nấy ngáy khò khò
im thin thít. Đèn bật sáng, Slaess lồng lộn nhưng
cũng đành chịu vì chẳng biết ai đầu têu để phạt.
Riêng mình thời kỳ internat Phúc Nhạc còn nhớ một
kỷ niệm khó quên. Một buổi giữa đêm, học sinh đang
ngủ, mình vào nhà vệ sinh đóng chặt cửa lại đốt
thử mấy quả pháo đùng mới mua ở chợ xem nó có kêu
không và kêu có vang không.
Ai ngờ, nó kêu thật và kêu rất vang. Cả dortoir
chồm dạy, hốt hoảng tưởng máy bay Mỹ oanh tạc ban
đêm. Mình suýt bị đuổi. Điện khẩn về Hà Nội “Lên
ngay đón Phiến về”. Gia đình tưởng mình ốm đau,
sắp chết giữa lúc bom đạn rầm rầm và giữa ban ngày,
ban mặt đáp ô tô từ Hà Nội vào, đến nơi thấy mình
đang ngồi ở Trạm xá (bị kỷ luật cách ly) nhai bánh
dày kẹp chả trâu, gia đình mới yên tâm, sau phải
demander excuses(11) và hứa hẹn cam kết mãi với
lão Censeur Dizès, vụ này mới yên.
* *
*
Những năm cuối 44 đầu 45 để thực hiện âm mưu chính
trị sát hại dân mình, lúa đang độ sắp chín thì bọn
Nhật bắt ta nhổ lên để trồng đay. Nạn đói lan tràn.
Hàng ngày ra chợ Phúc Nhạc chúng ta chứng kiến bao
cảnh thương tâm. Xác chết nằm ngập lối đi. Có những
thân hình chỉ còn da bọc xương, đôi mắt trũng sâu
như hai lỗ đáo. Có người vừa cướp giật chiếc bánh
đúc của bà hàng quán đưa lên miệng nhai ngấu nghiến,
chưa kịp nuốt xong đã lăn ra chết. Có người mẹ thân
khô cứng, giá lạnh từ nửa đêm mà đứa con vẫn rúc
miệng ray ray bên vú.
Trong khi đó thì bọn học sinh mình hàng ngày vẫn
vùi đầu vào văn bài thi cử, đọc những dòng thơ đẫm
lệ Lamartine, những trang tình sử Le Cid, say sưa
với cảnh đẹp của một cánh rừng Boulogne, tháp Effel,
vườn hoa Lục-Xâm-Bảo có chú bé cặp lủng lẳng ngang
vai sautillant comme un moineau(12) ngày khai giảng,
học thuộc làu những Henri IV và Marie Antoinette
lên đoạn đầu đài, hay tỷ mẩn phân tích cơ thể một
con côn trùng chuồn chuồn, bươm bướm, những định
lý Archimède, những đẳng thức Toán khô cứng.v.v...
Các cậu còn nhớ không cũng trong khung cảnh lạnh
lẽo, cô đơn của toà Tu Chủng Viện với những tiếng
cầu kinh rì rầm, những vạt áo dài thâm lặng lẽ đi
dưới hành lang, những đêm đông giá rét dễ làm vẩn
vơ cái lứa tuổi 17, 18 mới lớn lên đang phải chịu
cảnh xa nhà, lòng luôn luôn trống vắng. Cậu Trường
Sơn Tây có mái tóc bơ phờ thi sỹ mê cô con gái thầy
V.T.Y. Économat (quản-trị) hay tỏ tình bằng âm điệu
day dứt của bài “Buồn tàn thu” “Ai lướt đi ngoài
sương gió. Không dừng chân đến em bẽ bàng”. Bài
“Nuit chinoise”(13) bài “Hà nhật quân tái lai” hồi
đó cũng đang rất thịnh hành. “Đi có để lại hình
bóng. Cùng nhớ thương em để bên lòng...”
Trong bối cảnh như vậy, mình thành thực kính trọng
một số các cậu ngày ấy đã sớm ý thức tư tưởng tiến
bộ, ngấm ngầm tham gia các tổ chức Việt Minh đầy
mạo hiểm tại trường, bí mật truyền tay nhau những
cuốn “Người cùng khổ” “Bản án chế độ thực dân Pháp,
cái tổ chức Hội Chuối được đông đảo tham gia gọi
tắt là đoàn S.E.T (Section d’excursion et tourisme)
bề ngoài là tham quan du lịch, thực chất là một
nơi để tập hợp học sinh khơi dậy lòng yêu nước,
căm thù giặc, tiếp tục truyền thống cách mạng của
trường Bưởi xưa. Tên tuổi Lã Triều Khu thường được
anh em mình nhắc đến với lòng ngưỡng mộ, cảm phục.
Mình còn nhớ có khi đang buổi học, bỗng nhộn nhạo
hẳn lên. Xe ô tô xình xịch mang mấy tên hiến binh
Nhật quần soóc đi ủng, thanh kiếm sền sệt bên hông
đỗ trước sân nhà trường. Thế rồi mấy cậu lớp trên
được điệu lên xe trước sự ngỡ ngàng, sợ hãi của
đám học sinh chúng ta.
Đêm 8 rạng ngày 9/3/1945 súng nổ ran phía thị xã
Ninh Bình. Sáng ra mới rõ Nhật đã đảo chính Pháp.
Và cũng chỉ cần chưa hết đêm, ở Hà Nội toàn quyền
Decoux đã ngoan ngoãn cờ trắng đầu hàng.
Hai hôm sau, hiến binh Nhật rầm rộ kéo về đây, trói
gô tất cả những người Pháp - trong có cả các “quan
chức” của cái trường Bưởi này - Dizes, Slaess và
bày đàn thê tử bị trói giật cánh khuỷu, đầu cúi
gầm, bước buồn bã, khóc như ri. Tất cả được áp giải
lên hai chiếc ô tô to mui bọc kín phóng nhanh về
trại tù binh.
Thông qua hình ảnh trên bọn mình đã tận mắt chứng
kiến sự tan rã của một nền thống trị thực dân đã
ăn sâu, bám rễ gần 100 năm nay mà bao cuộc khởi
nghĩa đẫm máu của cha ông trước đây đã chưa thành
công...
Nhà trường ngơ ngác trong cảnh “rắn không đầu”.
Việc học tạm ngừng. Mà có giở sách ra cũng chẳng
ai còn tập trung vào bài giảng của thầy. Chỗ này,
chỗ kia chụm đầu vào nhau, thông báo những tin “giật
gân”. Tây chết như rạ, Trần Văn Nhung dại dột theo
Nhật vào thành bị bắn chết ngay phút đầu, cờ đỏ
sao vàng xuất hiện nơi này, nơi khác ở nông thôn
và .v.v. Kháo chuyện râm ran những buổi tối trên
dortoir cũng chẳng lo bị ai phạt nữa. Một số võ
quan Nhật có thông ngôn Việt Nam đi kèm về trường
tuyên truyền thuyết Đại Đông Á, hô hào Việt Nam
cộng tác với Nhật vì Nhật đã “đem lại độc lập” (!)
cho Việt Nam.
Và bọn mình đứa nào cũng nôn nao được sớm trở về
Hà Nội.
Thầy Nguyễn Gia Tường tạm thời được cử làm Hiệu
trưởng. Kế hoạch về Hà Nội được chuẩn bị. Ông Từ
Bộ Thực lúc này đã chuyển về làm Tuần Phủ Nam Định
cho xe ô tô đến đón tất cả thầy trò về tập kết tại
tỉnh vì mọi đường xe lửa quân Nhật đã sử dụng ưu
tiên vào mục đích quân sự. Nghỉ ngơi ăn uống ở Nam
Định vài ngày rồi cũng lại ông Tuần Phủ tốt bụng
đó đã thuê riêng một chuyến tàu thuỷ đưa cái trường
Bưởi giã đám này về Hà Nội.
Sông nước mênh mông, con tàu rẽ sóng. Hai bên bờ
sông phơi bày những nét tiêu điều, xơ xác... Không
tiếng chó, tiếng gà. Xóm thôn hoang vắng. Những
xác chết cái nằm trên bờ ruộng, cái vắt vẻo ven
sông. Xác, xác, chỗ nào cũng xác chết, từng đàn
quạ đen lượn lờ bay trên không.
Con tàu càng trôi đi, bọn mình càng có dịp chứng
kiến những tội ác rùng rợn của giặc. Và có thể là
những hình ảnh khủng khiếp này đã tác động một cách
mạnh mẽ, đã ghi dấu ấn thật đậm vào những khối óc
tuổi thơ chúng mình ngày ấy nên đã giúp chúng mình
có đầy đủ dũng khí và quyết tâm lao vào cuộc trường
chinh mấy chục năm liền sau đó để cho những cảnh
thương tâm trên không thể còn bao giờ tái diễn.
Nhật tàn ác hống hách nhưng sau đó cũng lại phải
đầu hàng Đồng Minh.
Bọn chúng mình được tập trung lại, tiếp tục vào
năm Đệ tứ tại Việt Nam học xá đường Bạch Mai. Chỉ
còn lại không quá nửa, nhiều anh em cắt ngang từ
đây để tham gia bộ đội hoặc các tổ chức Cứu quốc
đang hết sức cuốn hút lúc bấy giờ. Nhà trường tổ
chức Học sinh Cứu quốc đoàn. Lần đầu tiên chúng
mình được tham gia sinh hoạt, hội họp được thảo
luận những vấn đề đại sự về quốc gia, dân tộc, được
công khai nhắc đến những từ Độc lập, Tự do... không
khí thật là say sưa hào hứng, cuộc họp dù kéo dài
cũng chẳng đứa nào thấy mệt. Tiếng Pháp bị bãi bỏ.
Tiếng Việt từ chỗ bị coi là ngữ văn phụ đã được
trở lại ngôi vị chính thống. Do sách giáo khoa chưa
in kịp, chúng mình đã phải góp tiền thuê in Ronéo
các bài giảng bằng tiếng Việt của thầy.
.
Rồi miền Nam quân Anh kéo vào theo sau là lũ tàn
quân Pháp. Súng nổ, kháng chiến Nam Bộ 23/9/45 miền
Bắc, Tưởng Giới Thạch xua lũ Tầu ô kéo sang, lếch
thếch vợ con chổi cùn, dế rách, xoong chảo, nồi
niêu.
Trong không khí hào hứng Độc lập, Tự do nhưng cũng
vô cùng nghiêng ngửa khó khăn của những ngày đầu
giành chành quyền về ta ấy, trường Bưởi từ VNHX
được chuyển về đóng tại trường Félix-Faure đường
Trần Phú nguyên là một trường nữ học Pháp trước
đây và mang tên mới, một thầy giáo, một danh nhân
nhà Trần “Chu Văn An”, tác giả của bản sớ “Thất
trảm” chấn động càn khôn. Cái tên “Lycée du Protectorat”(14),
đã vĩnh viễn vùi sâu vào quá khứ cũng như nền thống
trị của bất cứ kẻ nào muốn áp đặt lên đầu cổ nhân
dân ta.
(Kháng chiến toàn quốc trường Chu Văn An được chuyển
về Đào Giã - Phú Thọ do Ba Khang làm hiệu trưởng.
Trong những năm Hà Nội tạm chiến, trường Bưởi đã
bị binh đoàn xe tăng Pháp chiếm đóng, nên thầy và
trò phải tạm trú tại trường Trưng Vương phố Hàng
Bài sau lên Cửa Bắc chung với trường Sư phạm Đỗ
Hữu Vị cũ. Sau ngày 10/1954, trường Chu Văn An mới
lại trở về địa điểm cũ ngày xưa, bên cạnh sóng nước
Hồ Tây quen thuộc với bóng dáng những con thuyền
mỏng đang chập chờn bỏ lái buông theo...)
*
* *
Thế hệ trẻ chúng mình có lẽ chịu thiệt thòi nhiều
nhất. Ít được một ngày nghỉ ngơi hưởng thụ. Ít có
thì giờ gửi một lá thư cho người yêu, ít có cái
thanh thản đến Nhạc viện nghe một giai điệu buồn
của Chopin, của Mozart hoặc vào thư viện nghiền
ngẫm một cuốn sách hay một ý thơ đẹp của người xưa...
Tuổi trẻ chúng mình mới biết nhìn cuộc đời đã được
“vỡ lòng” ngay những cú đá đít “salaud cochon”(15)
của bọn Pháp, đã được tận mắt những xác chết khủng
khiếp năm Ất Dậu, đã là máu lửa và nước mắt.
Nhưng như lời Đinh Khắc Cao “Tuổi trẻ trường Bưởi
chúng mình cũng lại là những người hạnh phúc nhất
vì đã được sống trong một giai đoạn hào hùng, nóng
bỏng nhất của lịch sử, đã góp phần thay đổi vận
mệnh non sông, từ nô lệ ra thành người tự do...”
30 năm qua, trên khắp nẻo đường đất nước, mỗi người
chúng ta ra đi ít nhiều đều mang theo những kỷ niệm
của cái mái trường thân yêu, không nói ra nhưng
lòng tự nhủ lòng nguyện mãi mãi xứng đáng với công
dạy dỗ của các thầy, với truyền thống cách mạng
của trường, của các bậc đàn anh đi trước...
Cái chất trường Bưởi luôn tinh khiết toả sáng trong
tâm hồn mỗi chúng ta, dẫn dắt chúng mình trong từng
bước đi, từng hành động. Điều đáng mừng giữa cái
bộn bề của xã hội hôm nay với bao vụ “thất thoát”
hàng tỷ, hàng triệu không có tên anh em chúng mình.
Chúng ta nguyện mãi mãi xứng đáng với trường Bưởi
thân yêu, với công lao dạy dỗ khó nhọc của các thầy,
với truyền thống cách mạng của trường, của các bậc
đàn anh đi trước...
Các Thầy cũ đang ở nơi đâu?
Người còn, người mất áng mây trôi...
Vời vợi ơn Thầy công dạy dỗ
Chúng con bao đứa đã nên người...
Tỉnh say say tỉnh chuyện bâng khuâng
Êm xanh ngày cũ nắng tươi hồng
Tinh khôi giấy trắng hồn trinh trắng
Những đứa trò ngoan dưới mái trường.
Hồi ký trường Bưởi – khóa E.P.S 1942 Hồi ký “Xanh
xanh thuở ấy”
Băng Hồ
--------------------------------------------------------------------------------
(1) Hiệu trưởng
(2) Giám thị
(3) Lý - Hóa
(4) Lịch sử
(5) Địa lý
(6) Chữ Hán
(7) Thầy dạy Thể dục - Thể thao
(8) Hỡi những người con yêu của Tổ quốc
(9) Ngài Thống chế đó trước chúng ta - vị cứu tinh
của nước Pháp
(10) Phần thưởng vinh dự, Phần thưởng tuyệt diệu
(11) Xin lỗi
(12) Bước nhún nhảy như một con chim sẻ
(13) Đêm Trung Hoa
(14) Trường Trung học Bảo hộ
(15) Đồ hèn hạ con lợn

|