| LỊCH
SỬ VIỆT NAM

Nhân
ngày mất của Nguyễn Thái Học ( 17-6- 1930)
THÂN THẾ NGUYỄN THÁI
HỌC
(Trích trong Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại, Việt
Nam Quốc Dân Đảng của Hoàng Văn Đào)

ĐỜI HỌC SINH
ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY
ĐỜI CÁCH MẠNG
ĐỜI TÌNH ÁI
NGUYỄN THỊ GIANG TỰ SÁT
GIA ĐÌNH NGUYỄN THÁI HỌC
***
ĐỜI HỌC SINH
Nguyễn Thái Học sinh năm Quý Mão (1902) tại làng
Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh
Vĩnh Yên. Nhưng theo học bạ nhà trường thì Nguyễn
Thái Học sinh ngày mồng 1 tháng 12 năm 1904; sở
dĩ có chuyện chênh lệch tuổi ấy là vì giấy khai
sinh phải khai rút bớt tuổi, để xin vào học trường
công cho hợp lệ.
Thân phụ của Nguyễn Thái Học là cụ Nguyễn Văn Hách,
một nông dân chất phác hiền hậu, một nhà nho; thân
mẫu là cụ Nguyễn Thị Quỳnh hiệu diệu Tế, tính tình
khảng khái cương trực, việc tề gia nội trợ rất mực
thao lược đảm đang. Gia tài của gia đình Nguyễn
Thái Học gồm có 3 mẫu ruộng, một con trâu cầy và
3 gian nhà gạch 5 gian nhà tre. Ngoài những ngày
giờ làm ruộng, vị từ mẫu của Nguyễn Thái Học còn
phụ thêm nghề dệt vải và buôn vải, lụa về bán ngay
tại chợ làng Thổ Tang.
Nguyễn Thái Học có một người em gái là chị Nguyễn
Thị Hiền và 3 người em trai: Nguyễn Văn Nho, Nguyễn
Văn Lâm, và Nguyễn Văn Ni.
Năm 1906 Nguyễn Thái Học được thân phụ đưa đến
thụ giáo Hán Văn tại nhà một cụ Tú tài người đồng
hương.
Năm 1913, trường Tiểu học Pháp Việt được thiết
lập tại phủ Vĩnh Tường. Nguyễn Thái Học xếp bút
lông cầm bút sắt; học hết lớp nhì, Nguyễn Thái Học
và học lớp nhất tại trường Tiểu học Pháp Việt Việt
Trì.
Năm 1921, trường Nam Sư phạm chính thức tuyển thêm
45 học sinh năm thứ nhất, nhân dịp vừa mới khám
thành tại phố Đỗ Hữu Vị gần Cửa Bắc.
Trong số 45 học sinh mới trúng tuyển có Nguyễn
Thái Học. Vì mới tổ chức nên nhà trường chỉ có thể
cho một nửa số học sinh chừng hơn 100 người được
lưu trú tại trường; còn một nữa ở ngoài được lĩnh
mỗi tháng tám đồng học bổng.
Nguyễn Thái Học vì tính thích tự do nên tình nguyện
xin ở ngoài, trong khi học sinh tranh nhau ở trong
trường để sự học được thuận tiện và mau tấn tới.
Nguyễn Thái Học rủ mấy bạn đồng lớp đến ở trọ tại
hai nơi gần trường; một ở ngay phố Đỗ Hữu Vị và
một ở phố Hàng Bún (Bourrin) cũng gần đấy. Cùng
ở trọ với Nguyễn Thái Học còn có một nhà giáo trẻ
tuổi theo học trường Cao Đẳng Sư phạm là Hồ Văn
Mịch.
Học được ít lâu thì xẩy ra một việc khiến cho một
số học sinh có đầu óc phải bực tức mà nẩy nở ra
ý tưởng cách mạng. Nguyên có tên Thược, một cựu
thông ngôn lính chào mào ở Pháp về, được bổ vào
làm giám thị. Thược có những cử chỉ ngôn ngữ rất
lố lăng khả ố, và một thái độ thân Pháp khinh đồng
bào, khiến cho nhiều người phải lộn tiết. Thược
không nói tiếng Việt, khi cần nói với những người
làm công ở trong trường, y dùng một thứ tiếng Việt
pha giọng Tây, nghe rất đổi chướng tai.
Học sinh ai cũng ghét Thược, nhiều người tìm hết
cách cay độc để chế riễu, nhưng y vẫn cứ mặt rắn
như sành không lay chuyển chút nào! Kỳ thực thì
Thược biết lắm và căm thù những anh em học sinh
tinh quái nhất, trong số có Nguyễn Thái Học. Thược
rắp tâm làm hại cho kỳ được, y biết được tên Kinh
là con một tên mật thám y ngầm mua chuộc được Kinh
và dùng làm chỉ điểm riêng cho y. Nhân có chuyện
một học sinh bị Thược nhốt ở lầu 3 là nơi phòng
ngủ (dortoire). Học sinh này cáu kỉnh la ó chửi
rủa ầm ỹ, khiến Thược phải cho người lên mở cửa,
khi xuống, anh học sinh này lại xông thẳng tới Thược
định hành hung. Thược liền sang nhà riêng viên giám
đốc, vu cáo học sinh này lăng mạ người Pháp và những
câu bài Pháp. Viên Giám Đốc lập tức ra lệnh đuổi
anh học sinh về một cách oan ức; và bắt luôn một
số học sinh khác hàng ngày vẫn tỏ ý ghét Thược để
điều tra và tình nghi có tổ chức bí mật bài Pháp.
Nhiều người bị đuổi oan, và trong trường bỗng phát
sinh một luồng không khí ngờ vực rất khó thở; nhất
là sau khi có lệnh cấm học sinh không được phép
tụm năm tụm ba bàn chuyện. Sự kiện trên đã có ảnh
hưởng khá sâu xa vào tâm hồn cách mạng của Nguyễn
Thái Học.
Tâm hồn đó càng bị khích động hơn do thái độ kém
giáo dục của mấy mụ đầm dạy học, như mụ Sandré mà
học sinh đã đặt cho một biệt hiệu là "đầm sâu
róm", vì tính nết cục cằn hay gắt hay quát
tháo ầm ĩ của mụ. Một phía khác, tâm hồn đó cũng
lại bị khích động do những thái độ dơ dáng của bọn
phụ nữ buôn son bán phấn ở khu phố anh ở, hòa với
những hành động hung hãn của bọn lính tây ức hiếp
đồng bào để làm trò cười cho chúng.
Do đó Nguyễn Thái Học tỏ ý chán việc học mà anh
thường kêu là "học mướn". Anh không chịu
học sử nước Pháp, nhưng đến khi học tới lịch sử
cách mạng Pháp thì anh lại rất thích thú, rất ham
đọc và còn khảo cứu thêm.
Cứ mỗi lần mụ "đầm sâu róm" dậy ám tả
vào buổi sáng là y như mụ mở túi lấy mẩu bánh mì,
miếng phó mát và trái chuối tiêu ra, vừa đọc vừa
ngồm ngoàm ngốn; vì thế cho nên không mấy người
nghe được hết câu, lẽ dĩ nhiên là ai nấy bỏ lỗi
rất nhiều.
Mỗi lần như thế, anh Học lại tỏ vẽ giận dữ, nhưng
không biết làm thế nào cho mụ bỏ cách dạy học đó
đi, thỉnh thoảng anh chỉ dằn mạnh bút xuống bàn
tay hay ngáp thật lớn. Mụ Sandré biết vậy, nhưng
cũng cứ bỏ qua. Một hôm anh Học nghĩ được một kế
để chọc giận mụ, anh không viết nhưng lại nhắm mụ
để họa hình mụ đang ngồm ngoàm ăn. Thấy vậy mụ to
tiếng gọi:
- Anh Học, anh ngồi gần cửa sổ kia, anh nhắc lại
câu tôi vừa đọc.
Lẽ dĩ nhiên là anh Học không đọc được, anh còn
đương lúng túng định lấy vở của bạn bên cạnh để
đọc, thì mụ lại quát:
- Mang vở của anh lên xem nào.
Anh Học không ngần ngại mang vở lên. Mụ cầm vở
quát on xòm:
- Cái gì thế này! rồi mụ cầm vở của anh Học giơ
cao lên cho học trò xem, cả lớp cười ồ. Anh Học
vẫn điềm nhiên. Mụ quay lại hỏi:
- Anh bao nhiêu tuổi mà coi người lớn thế! Nom
không có vẻ học sinh tý nào!
Anh Học trả lời thong thả từng tiếng:
- Tôi 45 tuổi.
Mọi người cười vang. Mụ cáu kỉnh lại quát:
- À thằng này láo! Mày lại nhạo tao phải! ai đời
45 tuổi mà đi học trường Sư phạm bao giờ không?
Thấy anh Học vẫn chân chân đứng. Mụ càng bực mình:
- Anh sinh năm nào?
- Tôi sinh năm Bính Thìn.
Mọi người lại cười ồ. Mụ cáu:
- Bính Thìn, Bính Thìn là cái gì?
Anh Học vẫn đứng tự nhiên. Mụ kéo ghế đứng dậy
chỉ vào mặt anh nói với mọi người:
- Kìa coi kìa, thật là nhà quê! rồi quay lại hỏi
anh Học:
- Mày quê ở làng nào?
- Tôi quê ở làng "â..h.." Anh Học trả
lời hết sức bình tĩnh.
Mọi người lại phì cười. Tuy mụ đầm không hiểu ra
sao, nhưng thấy mọi người cười dữ quá, biết chắc
câu trả lời có ý hỗn xược, mụ xầm xầm bước xuống
bục tiến lại nắm lấy tay anh Học, nói:
- À thằng này láo, xuống buồng ông Giám đốc ngay
với tao.
Anh Học ung dung đáp:
- Vậy tôi xin đi trước.
Vừa ra khỏi lớp, không hiểu nghĩ thế nào, mụ đầm
lại lôi tay anh Học trở vào lớp, đẩy anh ngồi vào
chỗ, rồi lại tiếp tục đọc ám tả, như không có chuyển
gì xẩy ra: nhưng mụ không còn ngồm ngoàm nữa! nhặt
mẩu bánh mì, miếng phó mát ăn chưa hết quẳng qua
cửa sổ.
Đến cuối năm thứ 3 Nguyễn Thái Học từ giã trường
Sư phạm về nằm khàn ở nhà, bị Chính phủ Bảo hộ đòi
lại khoản trợ cấp học bổng 3 năm.
Nằm nhà đọc sách, đến kỳ thi Đíp lôm, Nguyễn Thái
Học cũng nộp đơn ứng thi. Ngay buổi đầu thi ám tả,
anh đã gặp phải viên Giám khảo người Pháp hóc búa,
không có cảm tình với học sinh bản xứ là Thomas,
đã đọc ám tả cho thí sinh, mà Thomas chỉ đọc mỗi
câu một lượt không nhắc lại. Cả phòng đều thất vọng,
thí sinh nào cũng bỏ từng quãng.
Đến gần nữa bài, Thomas thấy một thí sinh lớn tuổi
mặc áo the thâm, tay xách mũ trắng, tay cuốn giấy
thi vùng vằng tiến ra cửa.
Thomas quát hỏi:
- Ê! Anh kia đi đâu thế?
- Tôi đi ra, vì không thể thi cử như thế này được,
Nguyễn Thái Học trả lời.
Thomas lại tròn mắt hỏi dữ dội:
- Tại sao?
- Ông đọc nhanh quá, mà lại đọc có một lượt, tôi
không theo kịp, tôi xin bỏ cuộc.
Sao người khác viết được?
- Xin ông thử nhìn xem, có bao nhiêu viết kịp?
Thấy anh Học đối đáp bướng bỉnh. Thomas bước xuống
túm vai anh Học xoay một vòng, đẩy anh về chỗ. Vừa
quay lưng lên bục, đã lại thấy anh Học theo sau,
và lăm le ra cửa phòng thi ra ngoài. Thomas lại
quát:
- À! Anh này định làm gì thế này? Anh muốn tôi
cho gọi Cảnh binh dẫn anh vào nhà giam không?
Anh Học điềm tĩnh trả lời:
- Vậy tôi xin ông cho tôi ra ngoài, tôi bỏ cuộc
thi, và nếu ông không đi gọi Cảnh binh, chính tôi
cũng xin đi gọi hầu ông ngay bây giờ.
Thomas giận đến tái mặt không biết nói thế nào,
lại thấy anh Học nét mặt gân guốc quả quyết, khó
lòng bắt nạt nổi. Y sợ lại xẩy ra chuyện tương tự
như việc đã xảy ra cho y ở trường Chasseloup Laubat
ở trong Nam (1).
_____
Nguyên Thomas trước kia làm giáo sư tại trường
Trung Học Chasseloup Laubat ở Saigòn, vì thái độ
ngạo nghễ, và cách dậy học trò mất dậy của y, mà
đã bị học sinh trường đó đánh cho một trận đòn nên
thân. Sau đó Thomas bị đổi ra Bắc dậy trường Bưởi.
_____
Thomas dịu giọng bảo anh Học:
- Thôi được, anh cứ về chỗ, anh sẽ được toại nguyện.
Thomas bảo anh Học về ngồi chỗ cũ, rồi mở cửa đi
ra. Ai cũng tưởng là Thomas sẽ đi gọi cảnh binh
tới dẫn anh Học đi, hay ít ra cũng đi trình ông
Chủ khảo, nhưng mọi người đều đoán sai hết. Một
lát sau, Thomas cùng với một vị giáo sư khác, người
Việt Nam là ông Dương Quảng Hàm vào phòng thi. Thomas
nhường chỗ cho ông Hàm đọc lại từ đầu bài ám tả.
Nhờ đó mà một số thí sinh đã không bị rớt oan.
Những mẫu chuyện này đã biểu lộ một tinh thần tranh
đấu bất khuất, gặp sức đè nén nào cũng tìm cách
phản ứng kịch liệt và nhanh chóng không tính toán
đến hậu quả.
Dĩ nhiên là Nguyễn Thái Học không trúng tuyển kỳ
thi ấy, lại nhân có kỳ thi tuyển thừa phái, các
bạn khuyên anh nên ứng thi, anh Học đã trúng tuyển,
nhưng đến khi đó nghị định bổ đi nhậm chức, anh
Học đã bọ không đi, mà lại xin vào học tại trường
Cao Đẳng thương mãi.
Trong cuốn "Mesures politiques en l'Indochine",
Marty Giám đốc mật thám Đông Dương đã viết: "Nguyễn
Thái Học là một học sinh bướng bĩnh hay cãi nhau
với thày giáo".
ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY
Nguyễn Thái Học vóc người tầm thước đậm đà, cao
1m65, mặt vuông trán rộng, miệng rộng môi dầy, râu
quai nón, hai tai to và dài, đặc biệt là răng vồ,
nhưng cười tươi và có duyên, tính tình hồn nhiên
phóng khoáng, thẳng thắn cương quyết và có một đức
tự tin lạ lùng.
Cuộc đời sống của Nguyễn Thái Học thực rất suềnh
soàng giản dị, từ y phục đến giầy dép không hề chải
chuốt; ngoài thú hút thuốc lào và thỉng thoảng nhai
trầu, không thích một thứ gì khác! Nguyễn Thái Học
rất bình dị, miễn là ăn để sống, món ăn thích thú
nhất của ông là món "Phở Bò" suốt đời
không ham muốn cao sang. Về tiền tài: mỗi khi trong
túi có tiền là giốc hết tiêu chung với anh em, khi
cạn túi cũng hỏi ở anh em lấy một cách tự nhiên
không ngại ngùng e lệ. Giấc ngủ đối với Nguyễn Thái
Học thực rất là quan trọng, khi buồn ngủ, mặc dầu
gặp việc khó khăn đến đâu cũng phải ngủ, dẫu rằng
chỉ một giấc ngắn độ 15 phút, ngáy thật to. Khi
tỉnh dậy, giải quyết mọi việc rất sáng suốt và chu
đáo. Khi ngủ thường hay nằm sấp, hai chân quắp lên
trên mông.
Tuy đã ra đời lâu năm, Nguyễn Thái Học còn giữ
thổ âm của làng mình, là dùng lộn hai chữ L với
N. Còn một tính đặc biệt, là mỗi khi đương tập trung
suy nghĩ một vấn đề gì, thì mặc dầu những người
ngồi ngay trước mặt nói chuyện hoặc hỏi han đieu
gì, cũng không hề để ý nghe.
Nguyễn Thái Học có một người vợ ở quê nhà là Nguyễn
Thị Cửu do sự đính ước của đôi bên cha mẹ khi Nguyễn
Thái Học còn thơ ấu. Tuy chị Cửu về làm dâu nhà
họ Nguyễn lâu năm; nhưng cặp vợ chồng ấy không bao
giờ lại chung sống với nhau. Đến khi Nguyễn Thái
Học dấn thân vào cuộc đời cách mạng, Thái Học gửi
thư về thăm cha mẹ, tạ tội bất hiếu không năng về
thăm; cuối cùng xin phép cha mẹ cho chị Nguyễn Thị
Cửu được tự do đi lấy chồng.
ĐỜI CÁCH MẠNG
Về hoạt động cách mạng lúc ban đầu của Nguyễn Thái
Học. Tác giả trình bày đầy đủ ở chương I, Thiên
thứ nhất, dưới Mục đề "Thành lập V.N.Q.D.Đ.".
Nay nhắc lại, thiết tưởng là quá thừa. Vậy xin trình
bầy tiếp từ sau ngày Nam Đồng Thư Xã đóng cửa, nhà
giáo Phạm Tuấn Tài phải đổi lên trường Tiểu học
Pháp Việt Tuyên Quang vào giữa năm 1927. Nguyễn
Thái Học cùng Hồ Văn Mịch dọn đến ở luôn trụ sở
Nam Đồng Thư xã với Nhượng Tống. Họ đã trở nên nhưng
người bạn cùng ăn hết nhịn với nhau.
Từ sau ngày V.N.Q.D.Đ chính thức thành lập. Căn
lầu I Nam Đồng Thư xã trở nên trụ sở thường trực
của Tổng bộ. Lớp nhà dưới là gia đình bà Cổ, làm
nghề bán sôi, cháo rong và luôn nấu cơm tháng cho
Nguyễn Thái Học và các đồng chí của họ Nguyễn ăn.
Căn lầu của Nguyễn Thái Học ở, bề dài không quá
9 mét, bề ngang 3 mét rưỡi, vỏn vẹn chỉ có một bộ
ghế ngựa gỗ tạp, 1 chiếc bàn và 4 chiếc ghế cũng
bằng gỗ tạp, vừa dùng làm bàn viết lẫn bàn ăn; góc
này vài chiếc chiếu vất ngổn ngang, góc kia mấy
chiếc va li bẹp với một mớ quần áo thay, mà thợ
giặt chưa kịp đến lấy.
Mỗi khi các đồng chí từ bốn phương tới thủ đôi
đều tìm đến từng lầu số 6 này. Trước khi thổi cơm,
bà Cổ ở dưới nhà thường sai cô gái nhỏ của bà 13,14
tuổi, thò đầu lên cầu thang gác hỏi bữa nay có mấy
người ăn?
Cơm bưng lên, anh em cứ việc ăn, cơm bình dân,
mỗi người mỗi bữa có 5 xu. Bà Cổ cứ việc ghi vào
sổ, cuối tháng sẽ tính với ông Học sau. Chẳng mấy
tháng mà bà Cổ đã nhận được đủ số tiền, nhưng bà
vẫn vui vẻ bưng cơm giót nước như thường, không
bao giờ có nửa lời ta thán. "Bát cơm Phiếu
mẫu giã ơn ngàn vàng". Chúng tôi nghĩ thế,
nhưng chẳng bao giờ làm được. Trái lại, bà còn bị
thực dân làm khó dễ vì chúng tôi.
Các đồng chí, ai muốn nghỉ ngơi chốc lát hay muốn
ngủ lại đêm cứ việc trải chiếu xuống văn gác mà
nằm, nếu giường chật. Quần áo thay đổi lẫn lộn,
bộ nào vừa ai nấy mặc, không cần biết là của ai.
Đồng chí nàok nếu túi sẵn tiền thì bỏ ra khao nhau
chầu phở hay bún chả, nếu gặp khi anh em đều túi
rỗng, thì cứ việc gọi sôi, cháo của bà Cổ, rồi biên
vào sổ tính sau.
Nguyễn Thái Học luôn luôn khuyên nhủ đồng chí:
"Chúng ta phải gạt bỏ hết những tính ích kỷ
và tự ái, tự kiêu, thì chúng ta mới trở thành người
cách mạng được."
Muốn biết rõ Nguyễn Thái Học không gì hơn là nghe
lời bình phẩm của Hồ Văn Mịch (1) một người bạn
thân, một đồng chí đầy mưu lược, luôn luôn ở bên
cạnh Nguyễn Thái Học nói: "Anh Học bề ngoài
tuy nóng nảy, nhưng mưu việc gì thì rất nhiều cơ
trí, mà đãi người thì rất mực chân thành."
Thực quả vậy, sau ngày Đảng bị bại lộ, Nguyễn Thái
Học trốn thoát. Một hôm có cuộc họp được triệu tập
tại làng Dương Quang thuộc phủ Thuận Thành tỉnh
Bắc Ninh. Các đồng chí đã tiếp tục đến địa điểm
họp từ chiều hôm trước. Thám tử được tin mật báo
với Pháp, đêm ấy Giám Binh Bắc Ninh đem lính khố
xanh bí mật đến mai phục xung quanh làng Dương Quang.
Nguyễn Thái Học không hề được biết sự bao vây ấy.
Sáng sớm ngày hôm sau, khăn đống áo the, tay ôm
cặp tay ô, ung dung tiến đến làng Dương Quang. Thình
lình gặp lính xét hỏi, Thái Học thản nhiên trả lời
là nho sĩ ở huyện được phái về lập biên bản. Từ
dáng điệu đến cử chỉ thực giống hệt như nho sĩ ở
huyện. Lính khố xanh không chút nghi ngờ, để Nguyễn
Thái Học tự do đi. Nguyễn Thái Học ung dung tiến
vào làng, rồi tìm đường rút ra khỏi vòng vây. Trái
lại, Phạm Văn Hể đến từ chiều hôm trước, gần sáng
thấy động, hoảng hốt chạy ra khỏi làng, bị lính
tình nghi giữ lại, đem về giam tại Bắc Ninh, mãi
ít lâu sau mới được thả ra.
______
(1) Hồ Văn Mịch dáng người nhỏ nhắn, tư chất thông
minh, tính tình quả cảm. Nguyên quán tại làng Đồng
Hỷ, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Xuất thân làm giáo học, được ít lâu Hồ Văn Mịch
xin nghỉ để theo học lớp Cao đẳng Sư phạm.
Sau vụ ám sát Bazin tháng 2 năm 1929, Hồ Văn Mịch
bị bắt giam, Hội đồng Đề hình kết án 10 năm cấm
cố lưu đày ra Côn Đảo.
Trước ngày bị giam, Hồ Văn Mịch đã mắc bệnh lao
phổi, nên đã tạ thế tại Côn Đảo ngày mồng 8 tháng
4 năm 1932. Ở đây anh em có dựng trên mộ một tấm
bia bằng xi măng, khắc mấy chữ "Hồ Văn Mịch
1930" làm kỷ niệm.
______
Lại một lần khác, vào cuối tháng 11 năm 1929, tại
làng Quỳnh Khê thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dưng,
một cuộc họp được tổ chức tại nhà một đồng chí là
Phó tổng Vịnh. Có mật báo, tri huyện sở tại là Nguyễn
Ngọc Liễn đem lính cơ về vây làng Quỳnh Khê từ hồi
4 giờ sáng, đợi đến 6 giờ sáng vào khám xét nhà
Phó tổng Vịnh.
Nguyễn Thái Học đương ngủ ngáy như sấm, đồng chí
vào lay ông báo động, lay đến 2,3 lần ông mới tỉnh
dậy, điềm nhiên đi xuống phía nhà tá điền ngủ, trút
bỏ hết quần áo lại, lấy bộ quần áo của thợ cầy mặc
vào, rồi đội nón lá vác vồ tiến ra phía ruộng sau
nhà Phó Tổng Vịnh cùng đập đất với sáu nông phu.
Đúng 6 giờ, Tri huyện Liễn dẫn lính vào khám xét
nhà Phó tổng Vịnh, không thấy gì kéo nhau ra về.
Một hôm Nguyễn Thái Học phải đích thân xuống Hải
Phòng để chủ tọa một phiên họp quan trọng.
Ông bắt đầu đáp xe lửa từ ga Lạc Đạo vào hồi 4
giờ 20 phút sáng. Y phục vận theo đúng kiểu các
người dân quê Đình Dù mỗi khi ra tỉnh: quần màu
cháo lòng, áo the thâm và khăn đóng, vai vác cây
dù, nách kẹp đôi dép.
Đã đặc biệt chú ý từ trước, khi lên xe, Nguyễn
Thái Học đã lựa chỗ ngồi vào chiếc ghế toa hạng
ba, nơi ánh đèn bớt sáng.
Không ngờ khi xe lửa sắp chạy, thình lình có hai
tên thám tử: một Việt và một Pháp lại dẫn một người
bị còng tay lên ngồi đối diện anh. Thoáng nhìn,
Nguyễn Thái Học đã nhận ngay ra người bị còng tay
là một đồng chí, anh Lý Kim Hai ở Chi Bộ Nam Quách
(Hải Dương).
Một chi bộ đã bị vỡ lỡ, và lo ngại Hai Kim nhận
ra anh, lỡ phát xuất một cử chỉ nào sơ hở, khiến
anh bị lộ hình tích thì nguy to. Nguyễn Thái Học
định xuống xe đi chuyến sau; nhưng xe lửa đã bắt
đầu chuyển bánh nhanh rồi. Muốn lánh mặt qua ngồi
toa xe khác, thì phải đi qua mặt hai tên thám tử,
mà chúng thường chăm chú nhìn theo, thật là tiến
thoái lưỡng nan! Nguyễn Thái Học đành kéo vạt áo
the che mặt giả vờ ngủ.
Về phần Lý Hai Kim, anh cũng nhận ra được Nguyễn
Thái Học, ngước nhìn Học tỏ vẻ hiểu ý.
Để xe lửa chạy một hồi lâu, Nguyễn Thái Học đứng
dậy, dẵn giọng nói với bà già ngồi kế bên, có ý
để cho hai tên thám tử và anh Hai Kim nghe được:
- Bà coi giùm tôi chiếc dù và chiếc va li này,
tôi đi tiểu một chút.
Rồi anh thản nhiên đi thẳng về phía cầu tiêu, mặc
cái nhìn chòng chọc soi mói của tên thám tử Pháp
lai.
Thừa khi xe lửa từ từ tiến tới ga Vật Cách, Nguyễn
Thái Học vột trút bỏ chiếc áo the dài thâm, rồi
mở cửa cầu tiêu nhảy xuống đường kêu xe kéo thuê
đi Hải Phòng.
Khi người phu xe tới gần cầu Hạ Lý nhận xét tình
hình, thấy không thể nào qua cầu đàng hoàng được,
vì thấy lính gác cầu rất đông. Nguyễn Thái Học liền
tỏ vẻ thân thiện điều đình với người phu xe cho
anh thuê lại chiếc xe cùng bộ quần áo với giá 35
đồng bạc, gồm cả tiền bảo đảm chiếc xe khi không
may bị mất.
Nguyễn Thái Học lẳng lặng kéo chiếc xe không trên
cầu từ phía Hạ Lý sang.
- Anh kia, sao không đi vào lề mà lại nghênh ngang
giữa đường, muốn xe lửa cán chết phải không? Người
cảnh binh gác cầu quát to.
Anh kéo xe gần tới lề đường, cách đấy vài chục
thước, một tên thám tử mặc thường phục, vẫy Nguyễn
Thái Học lại.
- Có giấy tờ gì không? Lại đây coi!
- Chào xếp, xếp có về, tôi kéo về, tôi vẫn kéo
xếp đến sở làm đấy mà! Nguyễn Thái Học đáp.
Lời chào lễ phép, bất ngờ làm tên thám tử ngạc
nhiên, đang phân vân tự hỏi, có lẽ đây chính là
anh phu xe quen.
Giữa khi ấy từ phía bên kia cầu, một chiếc xe hơi
mui trần trong có mấy người Pháp đang bon bon đổ
dốc.
- Ô tô kìa! dẹp vào bên mà đi đi! tên thám tử ra
lệnh.
Dưới chân cầu Hạ Lý về Hải Phòng, một quán nước
chè có một thanh niên và một thiếu nữ ăn vận lối
quê ngồi đợi Nguyễn Thái Học từ lâu, ấy là Nguyễn
Văn Chấn và Nguyễn Thị Giang.
Đến trước quán nước, người phu xe ngừng lại, nói
với thanh niên trong quán: "Mời ông đi xe".
Nguyễn Văn Chấn đứng dậy, ung dung bước lên xe
và nói to:
- Về phố đường Cát Cụt.
Về tới nơi an toàn, anh em đều vui cười và nói:
- "Hãy giữ lấy bộ quần áo phu xe kia, để sau
này giao cho Viện Bảo Tàng".
Thế rồi không bao lâu cuộc Tổng khởi nghĩa bị thất
bại. Bỗng có tin Nguyễn Thái Học bị bắt ở ấp Cổ
Vịt đưa về giam tại ngục thất Hỏa lò Hà Nội. Và
dưới đây là một vài giai thoại về Nguyễn Thái Học:
Giới phụ nữ Pháp ở Hà Nội yêu cầu Arnoux giám đốc
sở mật thám Bắc Việt cho họ được đi coi mặt mũi
nhà lãnh tụ V.N.Q.D.Đ mà từ ngày Tổng khởi nghĩa
họ vẫn lo sợ cho số phận của họ không biết sẽ ra
sao?
Arnoux vốn muốn trưng với phái đẹp, và cũng muốn
nhân dịp khoe công, nên y nhận lời cho họ đi coi
mặt Nguyễn Thái Học. Arnoux thân dẫn vào ngục thất
Hỏa lò một đoàn hàng trăm phụ nữ Pháp. Cửa sà lim
mở ra, một ả đầm chừng 20 tuổi buột miệng nói:
- Où! Où! Où est le Général Nguyễn Thái Học? (Ông
tướng Nguyễn Thái Học đâu?)
Arnoux chặn lời ả và nói:
- Il n'est qu'un chef de brigands (Nó chỉ là một
tên tướng ăn cướp!)
Nguyễn Thái Học nghe tiếng nghiêm mặt nói:
- Ông Arnoux, ông hãy nên có lễ độ một chút!
- Lễ độ à! đây anh biết lễ độ!
Vừa nói, y vừa giơ cây ba toong đánh vào mặt nhà
lãnh tụ cách mạng rất mạnh, trúng vào hàm răng,
máu trào ra đầy miệng, làm Nguyễn Thái Học gẫy mất
hai cái răng cửa.
Chân bị cùm tay bị còng, Nguyễn Thái Học mỉm cười
nói:
- Tao đã thấy rõ bộ mặt văn minh của nước Pháp
chúng mày là thế đấy.
Than ôi! mối hận thù đối với bè lũ thực dân Pháp
biết đến ngày nào quên đi được; hỡi anh em cách
mạng quốc gia.
Giữa lúc ấy, một mụ đầm nạ giòng đang ôm con chó
lông xù sửng sốt về câu trả lời của Nguyễn Thái
Học, lỡ tay làm con chó nhẩu xuống đất chạy tung
tăng trong giẫy hành lang; Arnoux vội vàng đuổi
theo bắt con chó ôm nó lên và kính cẩn trao lại
cho bà chủ nó. Đám phụ nữ nhìn Nguyễn Thái Học một
lúc rồi kéo nhau ra.
Ngoài số phụ nữ Pháp và những yếu nhân trong giới
thực dân Pháp; còn có một người Việt Nam được vào
xem mặt Nguyễn Thái Học là Hoàng Trọng Phu Tổng
đốc tỉnh Hà Đông.
Ông qua công bộc trung thành nhất của Pháp này
theo chân viên Dự thẩm Coppin tới xà lim giam Nguyễn
Thái Học. Cửa phòng vừa mở, chỉ vào mặt một người
nằm ngửa trên sà lim, hai chân xỏ trong lỗ cùm,
hai cổ tay xích bắt tréo lại, mắt nhìn lên trần
suốt ngày đêm. Coppin nói:
- Thưa đại nhân, tôi xin giới thiệu đây là kẻ đã
làm cho cháu ruột của ngài bị giết!
Hoàng Trọng Phu như không chú ý câu nói ấy, hỏi
luôn Nguyễn Thái Học rằng:
- Thày bị bắt trong lúc còn súng lục lựu đạn ở
trong người, vậy sao thày lại không dùng võ khí
ấy mà thoát thân?
- Chỉ vì tôi không muốn giết mấy người phu tuần
đã bắt tôi, bởi họ chỉ là những kẻ thừa hành chỉ
thị của bọn quan thày Pháp; nếu tôi gặp bọn tham
quan ô lại đục khoét lương dân, thì súng và lựu
đạn của tôi sẽ không từ!
Hoàng Trọng Phu mỉm cười ra về không nói câu nào
nữa!
- Ngày mồng 2 tháng 3, Hội đồng Đề hình Bắc Việt
cho phép gia quyến Nguyễn Thái Học được vào ngục
thất Hỏa lò thăm. Nguyễn Thái Học lậy tạ mẹ già
rồi nói: "Đắc trung thất hiếu, xin mẹ tha thứ
cho con."
ĐỜI TÌNH ÁI
Từ sau vụ ám sát Bazin, Nguyễn Thái Học đeo hai
cái án xử vắng mặt với trát truy nả rất gắt gao
đến các hang cùng ngõ hẹp. Nguyễn Thái Học luôn
luôn phả hóa trang, khi khóac áo cà sa, đóng vai
nhà tu hành khổ hạnh đi khuyến giáo, lúc khoác áo
thương nhân đóng vai bác lái trâu, lái thuốc lào;
hoặc anh nông phu vác cuốc vồ ra đồng làm ruộng;
đôi khi còn hóa trang giả phụ nữ ra đồng nhổ mạ
cấy lúa; Cũng có khi đóng vai ông lý Đình Dù vác
chiếc ô rách đi chơi Kinh Kỳ thăm bà con họ hàng.
Gặp bao hoàn cảnh khó khăn! Nguyễn Thái Học hoạt
động cách mạng hăng say hơn bao giờ hết! Công tác
chính là công tác kiện toàn lại Đảng tiến tới giai
đoạn cấp bách Tổng khởi nghĩa. Vấn đề liên lạc luôn
phải thay đổi đồng chí để tránh tai mắt nhòm ngó
của mật thám. Nên từ đấy được ủy thác cho mấy nữ
đảng viên: Đỗ Thị Tâm, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Thị
Thành, Nguyễn Thị Bắc, Nguyễn Thị Giang... Cô Giang
là nữ liên lạc đứng vào hạng xuất sắc nhất. Không
những thế! Cô Giang còn là một nhà tuyên truyền
giỏi, tổ chức được Binh đoàn Yên Bái, Binh đoàn
này làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa đêm mồng 9 rạng
mồng 10 hồi tháng 2 năm 1930.
Nguyễn Thái Học hoạt động cách mạng mạnh mẽ trong
thời kỳ ấy, một phần lớn là nhờ sự giúp đỡ của nhân
dân; và cũng một phần phải nhờ ở tai mắt và sự khuyên
ngăn khuyến khích của Nguyễn Thị Giang; và một đồng
chí luôn luôn ở bên cạnh bảo vệ là Sư Trạch; hai
người này là hai cánh tay của Nguyễn Thái Học vậy.
Nhiều khi Thái Học phải cải trang tạm lánh ở vùng
Hòa Bình, Ninh Bình, Phú Thọ, nơi rừng núi bao lao.
Nguyễn Thị Giang luôn đem tin tứ cho Thái Học, và
lại đem chỉ thị của Thái Học truyền đi các nơi.
Bất cứ một công tác nào, dầu khó khăn đến đâu được
Đảng trao phó, cô Giang đều thi hành có kết quả.
Theo điều lệ V.N.Q.D.Đ thì không kết nạo phụ nữ
vào Đảng, mà chỉ có sự kết nạp vào Đoàn. Trường
hợp Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang là một trường
hợp đặc biệt. Vì trước ngày thành lập V.N.Q.D.Đ
hai cô Bắc Giang đã ở trong tổ chức cách mạng bí
mật của cụ Nguyễn Khắc Nhu ở Bắc Giang. Đến khi
cụ Nguyễn Khắc Nhu thám gia V.N.Q.D.Đ thì lý đương
nhiên cả tổ chức của cụ, cũng đều được tham gia
V.N.Q.D.Đ
Bắc, Giang, Tỉnh, là ba chị em ruột, con một nhà
nho ở Phủ Lạng Thương tỉnh Bắc Giang. Vốn nhà thanh
bạch, nhưng cả ba cô đều có công, dung, ngôn, hạnh
hoàn toàn. Hai cô chị lại được học ít nhiều Hán
văn, chữ Pháp theo hết bậc tiểu học. Cô Giang lạ
thông minh sắc sảo và tài ba hơn cô chị nhiều. Mặt
hơi rỗ huê, nhan sắc tuy không đẹp lắm, nhưng duyên
dáng và lịch sự vô cùng. Vì nhà nghèo nên cô phải
thôi học sớm, về làm nghề dạy trẻ em, nên người
ta thường gọi là cô giáo Giang.
Một đôi trai tài gái sắc, lại cùng chung chí hướng,
cùng cảnh ngộ, cùng có dịp gần gũi bên nhau luôn,
nên chẳng mấy lúc đã nẩy lên những tiếng đàn đồng
điệu. Họ đã cảm thông và đồng quan điểm như nhau,
họ cảm thấy yêu nhau, và đã cảm thấy không thể xa
cách được nhau.
Một buổi chiều hè, trên đường từ Phú Thọ về miền
xuôi, Nguyễn Thái Học cùng Nguyễn Thị Giang cùng
ghé vào đền Hùng Vương để hội đàm với Phó Đức Chính,
Lê Hữu Cảnh và Đặng Trần Nghiệp. Sau khi họp bàn
xong, Học và Giang rủ nhau ra ngoài hóng gió.
Đêm đã vào khuya, Lê Hữu Cảnh bước ra sân đền,
với ý định gọi hai người vào ngủ. Cảnh thấy Thái
Học vì quá mệt mỏi đã ngồi tựa lưng vào gốc cây
ngủ say, bên cạnh cô Giang ngồi tay phe phẩy quạt
xua muỗi và trông chừng. Lê Hữu Cảnh lặng lẽ quay
gót vào mật bàn với Phó Đức Chính và Đặng Trần Nghiệp:
có dịp thuận tiện nên yêu cầu Đảng bộ cho phép Học
Giang được thành đôi lứa kết hôn.
Một lần khác lại có dịp qua đền Hùng Vương. Thái
Học cùng Cô Giang vào chiêm bái, trước bàn thờ Tổ,
khói nhang nghi ngút, hai người cùng nhau thề thốt
nặng lời. Thề thế nào cũng lấy nhau nhưng sẽ chỉ
thành chính thức sua khi cách mạng thành công, và
được Đảng cho phép. Thấy Nguyễn Thái Học đeo khẩu
súng lục, cô Giang xin được đeo, để sau này nếu
Nguyễn Thái Học có vì Tổ quốc mà mệnh hệ nào! thì
Giang cũng quyết dùng khẩu súng này để chết theo!
NGUYỄN THỊ GIANG TỰ SÁT
Cuộc Tổng khởi nghĩa thất bại. Quay về Bắc Ninh,
Bắc Giang, Nguyễn Thị Giang đang chuẩn bị việc đánh
chiếm một đồng binh Khố Xanh để làm căn cứ địa;
thì được tin Nguyễn Thái Học đã bị bắt, ban đầu
cô còn nghi ngờ, vì rất có thể thực dân cho phao
đồn tin ấy để trấn áp dư luận, khủng bố tinh thần
những đảng viên còn thoát ở vòng ngoài, chứ chưa
chắc đã là sự thực, cô Giang liền thu xếp mọi việc
rồi tức tốc sang Hà Nội, tìm đến Lê Hữu Cảnh. Cảnh
cho biết Nguyễn Thái Học bị bắt thực rồi! Ngoài
anh Học ra, Sư Trạch, Phó Đức Chính, Nguyễn Như
Liên cũng đều bị bắt hết.
Nghe Lê Hữu Cảnh thuật lại xong, cô Giang nghẹn
ngào gần như tắt thở. Cô rất lo cho tiền đồ của
Đảng, vận mệnh của Tổ quốc. Tinh thần cô Giang trở
nên khủng hoảng, bỗng dưng khóc! bỗng dưng cười!
gần như một người mất trí, người điên! khiến các
đồng chí của cô có mặt ở Hà Nội, phải tìm hết lời
an ủi và tìm đủ mọi cách để bảo vệ tính mạng cho
cô có thể ở yên Hà Nội, để gián tiếp thăm nom và
giữ vững tinh thần cho Nguyễn Thái Học.
Một ý nghĩ táo bạo thoáng xuất hiện trong đầu óc
cô Giang, là phải làm thế nào để cứu thoát được
Nguyễn Thái Học và các đồng chí bây giờ? Cô Giang
đem ý định bàn với các đồng chí tổ chức một cuộc
bạo động để cướp lại tự do cho Nguyễn Thái Học,
cho các đồng chí và tất cả những đồng bào bị thực
dân giam cầm trong ngục thất Hỏa lò. Trong ngục
thất Hỏa lò, Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí bí
mật viết một tờ báo lấy tên là "Tù nhân báo"
để cổ võ tinh thần các đồng chí và tuyên truyền
cách mạng trong các trại giam. Những vật liệu viết
báo đều do tài vận động của cô Giang qua tay Giám
thị và lính lê dương có phận sự canh gác ngục thất
Hỏa Lò. Cô Giang còn tìm đủ mọi cách để giử quà
bánh và thông tin tức ở ngoài vào cho Nguyễn Thái
Học. Thái Học cũng luôn luôn gửi thư ra khuyến khích
cô Giang nên tích cực hợp tác với các đồng chí ở
ngoài để cải tổ phụng sự Đảng; hầu làm tròn sứ mạng
giải phóng dân tộc ở tương lai.
Đến chiều ngày 16 tháng 6, một đồng chí tất tả
chạy đến báo cho cô Giang biết:"Tối nay Nguyễn
Thái Học cùng 12 đồng chí sẽ bị đưa lên Yên Bái
để hành hình."
Tin đâu xét đánh ngang tai! Cô Giang lo lắng bồi
hồi ngồi không yên mà đứng không yên! Đợi trời đổ
tối, cô Giang giấu khẩu súng lục trong mình và mấy
trái bom trong tay nải, rồi lẳng lặng cùng mấy đồng
chí tìm những con đường vắng tiến ra ga Hàng Cỏ;
nhưng không thể làm thế nào lên được trên xe lửa;
sau nhờ có mấy đồng chí đốt than và thợ máy ngầm
đưa quần áo cải trang, Cô Giang và mấy đồng chí
mới lên được toa xe lửa. Dưới vòm trời đen tối,
sương sa mờ mịt, gió lộng từng cơn, bánh xe lửa
rít lên không gian im lặng, lòng Nguyễn Thị Giang
càng se thắt lại. Cùng đi một chuyến xe mà không
được gặp nhau, dầu chỉ được nói một câu thôi. Bao
nhiêu tình yêu thương! bao nhiêu nỗi căm hờn! rồn
rập cả vào tâm hồn nhà nữ cách mạng trẻ tuổi ấy.
Hai giòng lệ trào xuống. Thôi thế là hết! chỉ còn
mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Nguyễn Thị Giang mím
niệng lắc đầu lảo đảo bước xuống ga Yên Bái.
Trống điểm tàn canh, gà gáy rồn báo sáng. Nguyễn
Thị Giang cùng hai đồng chí cải trang thành nông
phu địa phương lặng lẽ tiến đến pháp trường.
Trước sức mạnh của thực dân, hàng rào lính, cảnh
binh và mật thám vây kín, không cho ai bén mảng
đến gần. Nguyễn Thị Giang đành xen vào đứng lẫn
trong đám người đến xem từ phía xa nhìn vào. Một
lần nữa âm mưu phá pháp trường thất bại! Cô Giang
cố nén nỗi căm hờn uất hận, không hề lộ ra nét mặt
để một ai hay!
Cô Giang đã chứng kiến suốt từ đầu đến cuối tấn
bi kịch chém giết dã man tàn bạo của quân cướp nước.
Còn sự đau đớn nào hơn mỗi khi nhìn thấy lưỡi dao
phập xuống, đầu một đồng chí rơi, máu đào phun ra;
rồi cuối cùng đến người mà mình tôn thờ yêu quý.
Những giòng máu trong cổ tuôn ra là những mũi dao
đâm vào con tim người Liệt nữ.
Tấm thảm kịch hạ màn vào đúng hồi 5 giờ 35 phút
sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930. Cô Giang cố gắng
lấy lại bình tĩnh lặng lẽ bước theo đám người lui
về nhà trọ, nằm vật xuống giường nghỉ ngơi chốc
lát, rồi mua giấy bút viết hai bức thư "Tuyệt
Mệnh" trên ba trang giấy trắng khổ hẹp bằng
bút chì xanh, đề ngày 17 tháng 6, nguyên văn như
sau:
BỨC THỨ NHẤT
"Thưa thày, mẹ,
"Con chết vì hoàn cảnh bó buộc con. Không
báo được thù nhà, rửa nhục cho nước! Sau khi đã
đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền
Hùng.
"Giờ con tìm về chỗ quê cha đất tổ, mượm phát
súng này mà kết liễu đời con".
Đứa con dâu bất hiếu kính lạy
Nguyễn Thị Giang
BỨC THỨ HAI
"Anh là người yêu nước!
"Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước!
"Anh giữ lấy linh hồn cao cả để về chiêu binh
rèn lính ở dưới suối vàng!
"Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày mong
được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau
anh để đánh đổ cường quyền mà cứu lấy đồng bào đau
khổ."
"Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung!
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thể lòng hy sinh;
Con đường tiến bộ mênh mông,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây!
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên;
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh chuân chuyên buộc mình!
Đảng kỳ phất phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ!
Cực lòng nhỡ bức sa cơ,
Chết sầu chết thảm có thừa sót sa.
Thế ru! Đời thế ru mà.
Đời mà ai biết! Người mà ai hay!"
Nguyễn Thị Giang
Viết xong hai bức tâm thư, cô Giang ra chợ mua
mấy vuông vải trắng thắt ngang đầu, và ngay buổi
chiều tối hôm ấy cô đáp xe lửa trở về Vĩnh Yên.
Tờ mờ sáng hôm sau, cô Giang trở về làng Thổ Tang,
vào mái nhà xưa của Nguyễn Thái Học, báo tin Thái
Học đã bị hành hình; rồi lậy tạ cụ ông và cụ bà
Nguyễn Văn Hách, giối giăng lại mấy lời tâm sự,
tháo chiếc đồng hồ đương đeo tay tặng cho Nguyễn
Văn Lâm, mặt sau đồng hồ có khắc chữ "G",
rồi lững thững như người mất trí tiến ra cái quán
bán nước trà xanh dưới gốc cây đề, tục gọi là xóm
Mới thuộc xã Đông Vệ giáp quốc lộ số 2, cách làng
Thổ Tang ngót một cây số.
Ngồi uống bát nước trà xanh nghĩ đến tình nhà nợ
nước, mà lòng đau sót chua cay, tinh thần cô rất
là rối loạn; nhưng chí đã quyết định, cô liền từ
biệt bà chủ quán ra đứng dưới gốc cây đề, hướng
mặt về phía làng Thổ Tang, rút khẩu súng lục mà
Nguyễn Thái Học đã tặng cô ở đền Hùng Vương ra kết
liễu đời mình; hôm ấy là ngày 18 tháng 6 năm 1930
tức ngày 22 tháng 5 năm Canh Ngọ (22 tuổi).
Một vụ án mạng, hương lý xã Đông Vệ cấp báo với
tri phủ Vĩnh Tường. Phủ cấp báo lên tỉnh, Công sứ
Vĩnh Yên đánh điện về sở mật thám Hà Nội.
Thi thể cô Giang năm dưới gốc cây đề, bên cạnh
có khẩu súng lục phơi sương nắng cho mãi đến hồi
16 giờ ngày hôm sau, bọn thực dân mới kéo nhau đến.
Arnoux còm đem theo Thanh Giang và Nguyễn Văn Quý
từ Hà Nội lên để nhận diện.
Viện cớ khám xét, Chính quyền thực dân bắt lột
hết áo quần cô Giang; khi khám xét xong không cho
phép mặc lại; rồi hạ lệnh cho Tri phủ Vĩnh Tường
cùng hương lý sở tại mai táng, chứ không cho phép
gia đình Nguyễn Thái Học được làm phận sự ấy.
Công sứ Vĩnh Yên lại ra lệnh bắt đào huyệt sâu
hơn 3 mét, trên đắp thành nấm tròn, bắt dân sở tại
phải làm điếm canh nơi gần mộ; cho mãi đến cuối
năm 1930 mới bãi lệnh.
Khách bộ hành qua đấy thường thấy phủ kín trên
nấm mồ nhà nữ cách mạng Nguyễn Thị Giang những bó
hoa tươi thắm, và những nén nhang khói tỏa nghi
ngút suốt 5 canh. Một chiến sĩ vô danh thời ấy đã
vịnh bài thơ:
"Sống nhục sao bằng sự thác vinh!
Nước non cho vẹn kiếp chung tình.
Lưỡi dao xử tử chàng không ngại!
Tiếng súng quyên sinh thiếp cũng đành!
Một tấm can tràng trời đất thảm,
Ngàn thu vẹn tiết quỷ thần kinh
Cuộc đời xá kể chi thành bại,
Trai đã trung thì gái phải trinh!
GIA ĐÌNH NGUYỄN THÁI HỌC
Làng Thổ Tang, quê hương Nguyễn Thái Học quy vuông
3 cây số, đông giáo làng Sơn Tang, tây giáp làng
Lũng Ngoại, nam giáp làng Phương Viên, Thượng Chưng,
bắc giáp quốc lộ số 2. Chỗ rẽ vào làng tục gọi Ngã
ba gốc đề tức nơi Nguyễn Thị Giang tự tử.
Nguyễn Thái Học có tất cả 4 anh em: Nguyễn Thị
Hiền, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Văn
Nỉ.
Nguyễn Văn Nho tính giống anh. Năm 1928 còn là
học sinh lớp nhất trường Tiểu Học Pháp Việt Việt
Trì. Bị thực dân ra lệnh đuổi khỏi trường, vì là
em của Nguyễn Thái Học. Nguyễn Văn Nho bắt đầu theo
Nguyễn Thái Học dấn thân vào con đường cách mạng.
Bị Hội đồng Đề hình kết án xử tử vì hai tội: giết
Phạm Huy Du và làm kinh tài cho Đảng rất táo bạo.
Nguyễn Văn Lâm, là người em thứ tư, đương theo
học lớp nhất trường Tiểu học Vĩnh Tường, cũng bị
thực dân ra lệnh đuổi. Lâm là người rất thông minh,
tình tình khảng khái, trở về nhà mua sách báo tự
học, thông thạo cả tiếng Pháp, Anh và Nhật; cũng
tự đọc sách nghiên cứu mà trở nên một nhiếp ảnh
viên lành nghề.
Hồi tháng 6 năm 1946, Trần Huy Liệu lên diễn thuyết
tại trụ sở U.B.K.C.H.C phủ Vĩnh Tường. Nhân dịp
Trần Huy Liệu ghé vào thăm vị từ mẫu Nguyễn Thái
Học, Nguyễn Văn Lâm chỉ vào mặt Trần Huy Liệu mà
nói:
Gia đình tao không thèm chơi với tên phản Đảng,
phản Quốc, cút đi ngay!
Rồi tìm gạch liệng, Trần Huy Liệu phải tự rút lui.
Đến cuối năm 1947, quân đội Liên hiệp Pháp hành
quân tấn công thượng du Bắc Việt. Một toán lính
nhẩy dù xuống địa phương Trình Diện cách làng Thổ
Tang 9 cây số; một toán khác nhẩy dù xuống Đồi Me
thuộc khu vực ga Chống (Bạch Hạc) cách làng Thổ
Tang 3 cây số, cùng tiến vây chặt trụ sở U.B.K.C.H.C
huyện Việt Minh đặt tại làng Thổ Tang.
Hay tin Pháp đổ bộ, dân làng Thổ Tang bỏ chạy hết,
chỉ còn một số ít không chạy kịp, trong số đó có
Nguyễn Văn Lâm, bị Pháp quân bắt tập trung ở đình
làng. Pháp quân dụ Lâm suốt cả tiếng đồng hồ, nhưng
Lâm nhất định không theo, còn mắng lại:
- Gia đình tao là gia đình cách mạng, hai anh tao
đã chết bởi bàn tay chúng mày; tao không bao giờ
lại đi theo quân cướp nước.
Lâm nhất định không theo, Pháp nhất định giết,
Lâm trả lời:
- Nếu chúng mày nhất định giết tao, thì đưa tao
về nhà hãy giết.
Theo ý muốn của Nguyễn Văn Lâm, Pháp quân đưa về
nhà; đứng dưới cây dâu già, Lâm vạch áo phan ngực
cho Pháp bắn.
Giết xong Nguyễn Văn Lâm, Pháp quân quay vào đốt
nhà cướp trâu bắt lợn, gà, rồi kéo nhau đi. Hôm
ấy là ngày 19 tháng 11 năm 1947.
Nguyễn Văn Nỉ, người em út của Nguyễn Thái Học
vì còn nhỏ tuổi, nên mãi đến năm 1945 mới tham gia
cách mạng. Được theo học nhiều lớp quân, chính của
Đảng. Đến đầu năm 1948, Nguyễn Văn Nỉ theo các đồng
chí rút sang Trung Hoa, 1949 Hồng quân lan tràn
khắp lục địa Trung Hoa; Nguyễn Văn Nỉ cùng một số
đồng chí bị mắc kẹt không kịp trở về Việt Nam.
Gia đình Nguyễn Thái Học lại còn hy sinh cả người
chú đồng chí là Nguyễn Quang Triểu, người ném bom
Hà Nội đêm mồng 10 tháng 2 năm 1930; cùng lên máy
chém với Nguyễn Văn Nho.
Gia đình Nguyễn Thái Học hiện nay còn lại một vị
từ mẫu đã ngoài 80 tuổi cùng một đứa cháu trai độc
nhất là Nguyễn Thái Tuấn năm nay vào khoảng 20,
là con của Nguyễn Văn Lâm, giòng máu cuối cùng của
một gia đình hy sinh cả cho Tổ quốc (1967).
Viết đến đây chúng tôi không thể không nói đến
chuyện đã xẩy ra vào hồi năm 1953, để chứng tỏ tính
tình cương trực của vị từ mẫu Nguyễn Thái Học. Nguyên
vào hồi tháng 7 năm 1953, khi ấy Nguyễn Hữu Trí
làm Thủ hiến Bắc Việt lên kinh lý tỉnh Vĩnh Yên,
qua Phủ lỵ Vĩnh Tường (làng Thổ Tang), phái Quận
trưởng vào mời vị từ mẫu Nguyễn Thái Học ra Quận
đường để tiếp kiến; nhưng vị từ mẫu ấy khước từ
không ra. Trước khi ra về, Nguyễn Hữu Trí trao số
tiền 2 ngàn đồng cho Quận trưởng nhờ đưa vào kính
biếu; nhưng vị từ mẫu ấy cũng nhất định không nhận
mặc dầu Quận trưởng Vĩnh Tường đã cầu khẩn hết lời.
Một lần khác, thấy vị từ mẫu Nguyễn Thái Học làm
ruộng nhưng không có trâu cầy, Quận trưởng Vĩnh
Tường thân giắt một con trâu đến kính biếu; nhưng
vị từ mẫu ấy cũng nhất định không chịu nhận.
(TRANG MẠNG LUỚI VIỆT NAM QUỐC DÂN
ÐẢNG)

|