LỊCH
SỬ VIỆT NAM

NƯỚC
VIỆT NAM- QUỐC HIỆU
VIỆT NAM-
THỜI DỰNG NƯỚC
NƯỚC VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU CÔNG NGUYÊN ĐẾN CUỐI THẾ
KỶ THỨ X
CÁC
TRIỀU ĐẠI TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THỜI PHÁP THUỘC
CUỘC
ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CUẢ CÁC VỊ VUA QUA CÁC TRIỀU ĐẠI

Giới
thiệu sách: Sử Việt đọc vài quyển
Viết
sử là một công việc khó khăn, và nhiều lúc
nguy hiểm.
Tính chân thực của các bộ sử lại không chỉ
phụ thuộc vào khả năng của sử quan, mà lệ
thuộc cả không khí chính trị đương thời, lệ
thuộc tâm tình của vị vua mà vị quan phục
vụ.
Năm 1342, vua Trần Minh Tông bãi chức quan chỉ
vì ông này không cho vua vào Ngự sử đài. Vua
Lê Thánh Tông cũng đòi xem sử quan ghi gì về
mình.Ngay cả khi người nay đọc lại người xưa
thì cũng không đảm bảo mình hiểu đúng. Như
ông Tạ Chí Đại Trường, trong tập sách mới
về sử Việt, nhận xét: “người ta chỉ đọc
những gì người ta muốn thấy, chứ không phải
những gì thực sự hiện ra qua các dòng chữ,
khoan nói tới những gì phía sau các dòng
chữ ấy.”
Ý nghĩa của ‘những gì phía sau các dòng
chữ’ trong sách cổ sử Việt Nam là một phần
nội dung trong tập sách “Sử Việt đọc vài
quyển” của Tạ Chí Đại Trường, do NXB Văn Mới
ấn hành năm 2004.Đa số các bài viết trong
sách đã được in trên tạp chí Văn học (California)
mấy năm qua.
Có thể thấy trong sách có hai nét chính:
một là những nhận xét, không phải một lần
mang tính phát hiện, về những nhân vật, sự
kiện trong cổ sử Việt Nam mà thời gian đã
làm cho trở nên mờ ảo; và hai là nhận xét
về trí thức và văn hóa Việt Nam đương đại
mà về bản chất dường như có sự tiếp nối
của truyền thống cũ - dù tốt hay xấu.
Nhiều ý kiến trong sách sẽ không tránh khỏi
gây tranh luận, như về gốc tộc Mường của Lê
Lợi, về tính huyền sử của Hùng Vương, An
Dương Vương.
Giữa một không khí học thuật mà một nhà
nghiên cứu (Lại Nguyên Ân) đã mô tả là 'Đại
Việt trung tâm luận...đáp ứng thật đúng lúc tâm
thế dân tộc chủ nghĩa đang trở nên chủ đạo cả trong
giới cầm quyền lẫn trong khá đông công chúng', thì
một số quan điểm trong sách có vẻ đi ngược
hướng này.
Tác giả phê phán xu hướng học thuật dân tộc
chủ nghĩa mà theo ông ‘đem ảo tưởng về một
đất nước văn minh tuyệt vời dạy cho học trò
nhỏ, chỉ tập cho chúng tính huênh hoang, mai
mốt lớn lên thật khó chen chân vào thế giới.’
Xin trích giới thiệu một số ý kiến
từ quyển sách. Các tiêu đề nhỏ là do chúng
tôi đặt:
Vì sao có nhiều hơn, chứ không phải chỉ 12
sứ quân trong thế kỷ 10 (trích từ bài Các
sử quan ẩn khuất thuở ban đầu)
“Trong đời Dương ‘Tam Kha’, đã có loạn ở hai
thôn Đường, Nguyễn (950). Loạn này kéo dài
đến 965, gây nên cái chết của Ngô Xương Văn,
bắt đầu mối loạn mà sử cũ gọi là Mười
hai sứ quân. ‘Thôn’ đời ấy không phải là thôn
đời sau, nhưng hẳn là một đơn vị dân cư không
lớn, vậy mà vẫn thách đố chính quyền họ
Ngô, cái chính quyền có gốc gác ở không phải
chính nơi, thì cũng gần nơi làm loạn ấy.
Gốc gác Đường Lâm của Ngô Quyền hẳn là căn
bản quyền lực để cho một người có vẻ cũng
thuộc dòng đích, trở về làm sứ quân nơi ấy
với tước vương tự xưng: An Vương Ngô Nhật Khánh.
Hai ‘chỉ huy sứ’ là Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh
Thạc đi theo Ngô Xương Văn dẹp loạn cũng không
phải trực tiếp thuộc quyền Dương ‘Tam Kha’
nằm ở Cổ Loa, mà hành xử như các quyền lực
riêng biệt trong liên minh. Bởi vì, Xương Văn
mới chết năm trước thì năm sau Đỗ Cảnh Thạc
đã là một sứ quân đủ quyền lực tranh giành
quyền bính để sử quan phải kể ra. Theo đà
suy luận hợp lý đó thì Dương Cát Lợi cũng
phải là một sứ quân mà sử quan đã bỏ qua.
Chỉ vì nếu kể ra thì quá con số Mười hai.
Số sứ quân hơn 12 đã có nhiều kẻ khác. Mà
không phải họ không có thực lực so sánh với
các nhóm được sử quan kể...Qua thiên tai thủy
họa, bụi đất hằn học của con người trải
dài hơn mười thế kỷ, ta còn đếm được 15,16
sứ quân. Vậy tại sao chỉ kể có 12?...Con số
12 là cố tình đếm vừa đủ cho hợp với một
phạm trù nào đó của ý thức hệ đương thời.
Con số 12 được gợi từ ý niệm ‘thập nhị nhân
duyên’, ‘thập nhị duyên khởi’ của Phật Giáo.
Chỉ vì người chép sử Đinh là một tăng lục,
Ni sư Trương Ma....”
Ta còn đếm được 15,16 sứ quân. Vậy tại sao
chỉ kể có 12?...Con số 12 là cố tình đếm
vừa đủ ... gợi từ ý niệm ‘thập nhị nhân
duyên’của Phật Giáo. Chỉ vì người chép sử
Đinh là một tăng lục, Ni sư Trương Ma.
“Quan niệm về Thập nhị nhân duyên ấy được
thấy khắp các phái trong thế giới Phật giáo
từ lục địa lan xuống hải đảo Đông Nam Á,
và nằm trên các tấm vàng lá cùng những phần
chú giải, tìm được ở Java. Tất nhiên, Đại
Việt từ lúc khởi thủy du nhập vẫn không xa
rời nó. Người Phật từ tâm niệm hàng ngày
với ‘nghiệp’, với ‘nhân duyên’..., và điều
đó đi vào tâm trí người tăng lục sử quan của
triều Đinh, trở thành sự kiện lịch sử muôn
đời cho dân Việt. Sứ quân, không cần đếm rõ
bao nhiêu cho đến hết, được coi như là mười
hai ‘nhân duyên’ gây ra khổ nạn cho dân chúng.
Và việc dẹp tan sứ quân, là một Giải thoát,
đã được thực hiện bởi người chủ tướng, vị
hoàng đế đã đem lại ân đức cho Trương Ma, cho
tôn giáo của Bà. Sự kiện lịch sử trần trụi
đã được lồng vào ý thức hệ để tuyên dương
cho ý thức hệ vậy.”
Về cách viết sử trong miền Nam từ
1955 – 1975 (từ bài Các sử gia nho thần)
“Từ 1955, vì miền Nam có một chế độ theo
Tây phương, theo một chừng mực nào đó, sử
học được xem là tách rời với chính trị,
với chính quyền đương chức nên từ trong các
trường đại học thấy xuất hiện một số sách
nghiên cứu chuyên đề theo cung cách giảng dạy
ở phương Tây. Tuy nhiên như đã nói, quá khứ
lại xuất hiện lẫn lộn với hiện tại theo
tinh thần dân tộc huênh hoang, có khi pha lẫn
một vài quan niệm xưa cũ về định mệnh, về
đạo đức trung trinh của các nhân vật vốn chỉ
là tán rộng từ Đại Việt sử ký toàn thư.”
“Nhà chính trị trong niềm u uất của người
dân mất nước, đem phóng đại quá khứ dân tộc
để vẽ ra một tương lai huy hoàng. Tương lai
đó có vẻ đã trở thành hiện thực trong thời
đại độc lập, nên nhà ‘nghiên cứu’ thấy quá
khứ kia đúng là hiện thực của thời đã qua,
liền tô vẽ thêm bằng ngôn từ khoa học, triết
lí mình thu nhận của thời nay. Do đó, Khổng
Nho biến thành Việt Nho, dân Việt không còn
là một nhóm người ở Giao Chỉ / Giao Châu như
của Ngô Thì Sĩ hay lấn lên hồ Động Đình như
của Ngô Sĩ Liên mà lại đúng là chủ nhân ông
của đất tộc Hán, nên cố giành lấy Hà đồ,
Lạc thư về mình! Chính trị, huyền sử đã
trở thành lịch sử - trong ước mơ. Tinh thần
dân tộc của thời mới đã làm đảo lộn nội
dung đồng văn xưa cũ. Không phải người Hán
dạy dân Việt mà dân Việt đã khai phá văn minh
cho dân Hán. Tiến trình vương hóa không đi theo
dòng địa lý bắc – nam mà là chuyển hóa từ
bên trong giữa hai dân tộc trên cùng địa vực,
trong đó dân Việt là chủ thể phát tán. Tuy
nhiên, khi cho rằng tương quan Thiên triều / phiên
thuộc của quyền lực cụ thể trong quá khứ
phải hiểu đảo lộn trong lãnh vực văn hóa,
nhà ‘nghiên cứu’ triết gia muốn thành sử gia
– và những đồ đệ nối tiếp trong và ngoài
nước cho đến bây giờ, đã để lộ ra một tinh
thần tự ti dân tộc ráng che mà không kín.”
Về cách viết sử ở miền Bắc sau 1945
(từ bài Các sử gia nho thần)
“Dưới nhãn hiệu mới, mối tương quan giữa
người viết sử và người cầm quyền đã trở
lại như xưa... Ý thức hệ được coi là chính
thống dẫn dắt cho những nghiên cứu về ‘thời
chiếm hữu nô lệ’, ‘thời phong kiến’, thời
tư bản, thực dân đế quốc. Và lại cũng như
xưa, người ta không bàn xem sự kiện đã xảy
ra như thế nào mà lại đem so đọ các sự kiện
đó theo tiêu chuẩn của ý thức hệ, không theo
ông Khổng Mạnh thì theo ông Marx, Engels. Hãy
đọc lại lời Ngô Sĩ Liên bênh vực Khổng Tử,
Chu Hi để đối đầu với Hồ Quý Li: “Từ khi
có sinh dân tới nay chưa có ai nổi tiếng hơn
Khổng Tử...Chu Tử đã theo...thì không thể
nghi ngờ gì cả...Người sau chỉ tô chuốt cho
bóng thêm...không được chê bai bàn cãi gì cả.”
Về một xu hướng đề cao quá khứ nổi lên gần
đây (từ bài Các trung tâm quyền lực trong lịch
sử Việt)
“Giả thuyết của S. Oppenheimer và các thành
quả về mtDNA mới đây không phải chỉ là sự
lừa dối, nhưng đem áp dụng cho ‘vua Hùng’ thì
có dáng như một hứng khởi vì tìm được bằng
cớ mới cho một thành kiến tự tôn, thiếu cơ
sở của niềm tự ti che giấu (thuyết Việt Nho...phát
triển thêm lối rao giảng cũ từ thời qua Mỹ
với Ngũ Kinh, Sứ điệp trống đồng...trong hoang
tưởng về một giải Nobel-mới tự đặt) của
LM Kim Định mà các ‘học giả’ trong nước cũng
đang bắt chước... Đem ảo tưởng về một đất
nước văn minh tuyệt vời dạy cho học trò nhỏ,
chỉ tập cho chúng tính huênh hoang, mai mốt
lớn lên thật khó chen chân vào thế giới.”
Về triều đại nhà Lí buổi đầu (từ
bài Các trung tâm quyền lực trong lịch sử
Việt)
“Lí Trần có điểm chung: đều là những tông
tộc trị nước. Đây là dấu vết từ nơi phát
tích, có thể bắt chước các tông tộc vùng
Hoàng Hà khi họ chạy loạn đổ xuống nam Trường
Giang lập các triều mới của thời Nam Bắc
triều. Nhưng tiến trình thực hiện lại có
khác vì các điều kiện thời đại, nơi chốn
khác nhau. Lí tiếp quản trung tâm Đô hộ cũ
tất phải giải quyết những vấn đề tồn đọng,
vốn không vì năm tháng cách biệt mà coi như
đã xong. Ở tận Hoa Lưu thì không có vấn đề
phải quan tâm nhiều đến các tập đoàn xa nơi
trung châu phía bắc, nhưng vấn đề không thể
bỏ lơ khi đã ngự trị ở Thăng Long. Và thế
là có cuộc chiến tranh giành giật với vương
triều Tống để giữ vững cương vực, phát triển
vùng ảnh hưởng.
Không có chứng dẫn nào cụ thể hơn cho sự
co dãn bành trướng của Thăng Long bằng trường
hợp nhân vật Tông Đản. Cũng một ông chúa Nùng
đó mà khi dẫn quân bản bộ tiếp tay quân Lí
đánh Tống thì được sử triều đình ghi chép
để cho sử gia ngày nay coi như một anh hùng
dân tộc. Còn khi trở cờ theo Tống thì sử
ta lặng thinh để danh vị Tông Đản không suy
suyển trên các bảng tên chỉ đường. Thật ra
Tông Đản không xấu cũng không tốt, tập họp
Nùng Tông Đản chao đảo chỉ vì nằm trên hướng
bành trướng của Lí trong lúc Nùng Trí Cao
lại có cao vọng hơn, là thoát ảnh hưởng của
Tống, Việt để thành lập nước riêng. Đọc sử
còn thấy các ông họ Hoàng thủ lãnh nhỏ bé
nơi vạt biên giới chạy qua chạy lại nhờ cậy
hay bì làm vật thí thân trao đổi. Trong các
thế kỉ 17, 18 về sau, vùng biên giới phía
bắc mất nhiều vào tay người Thanh chính là
vì sự yếu thế của Lê Trung hưng không đủ sức
vươn cánh tay quyền lực trên các tập đoàn
thiểu số nơi này. Cuộc chiến Lí Tống ngày
đó còn là chỉ dấu nhiều chất Trung Quốc
trong triều đình Lí (xem tờ chiếu của Tống
Thần Tông về việc chiêu dụ nhân vật gốc Mân
của Lí) đến nỗi Lí cho mình cho quyền can
thiệp vào nội tình Tống (xem Lộ bố văn của
Lí), và thấy đủ sức can thiệp vì có người
phe Tống giúp sức. Chỉ sau khi phải đương cự
sâu vào nội địa, Lí mới thấy khả năng hạn
chế của mình và tự để cho mình địa phương
hóa nhiều lên.”
Vì sao ‘sự phản kháng’ trong xã hội
VN thiếu bóng người trẻ (từ bài Tiến trình
vương hóa mới)
Điều đó hiện trong hoàn cảnh phản kháng
không có người trẻ tham dự - những người này
còn đủ xung lực để thích ứng với tình thế
mới, chưa kể sự cạnh tranh ‘làm giàu’ không
luật pháp rõ rệt càng làm họ thấy cơ hội
nảy sinh nhiều hơn. Nhưng nói điều đó rồi
thì cũng phải đau lòng mà nhận rằng nguyên
nhân còn bởi chiều sâu văn hóa của người Việt
không nhiều. Cái làng nhàng truyền thống học
theo kiểu cù cưa với Trung Quốc khiến cho người
thanh niên Việt dễ bằng lòng với những gì
mình có được, chịu đựng hay bằng lòng với
một chút ‘có hơn’, khác với các thanh niên
TQ trong các vụ nổi loạn ở thập niên 70, 80.
Cái làng nhàng truyền thống học theo kiểu
cù cưa với Trung Quốc khiến cho người thanh
niên Việt dễ bằng lòng với những gì mình
có được, chịu đựng hay bằng lòng với một
chút ‘có hơn’.
Sự hạn chế đó cũng thấy rõ ở lớp người
già phản kháng mà chúng ta có thể hiểu khi
nhắc lại tình trạng kiến thức, tâm tính của
các thế hệ ở Việt Nam. Họ đã lậm sâu vào
chế độ nên không dễ dàng từ bỏ nó. Chủ nghĩa
cộng sản đã tạo ra cả một hệ thống chặt
chẽ, chỉ có thể lấy hoặc bỏ mà thôi. Vì
thế Liên Xô và Đông Âu mới sụp đổ. Vì thế
lúc hưng thịnh, nó mới phát sinh những anh
hùng đầy ngõ, tạo hào quang mà những người
cùng một thời phục vụ khi rời bỏ vẫn hãnh
diện về nó...Điều còn lại khác của ông [Trần
Độ] chỉ là những chỉ trích chứ không phải
lí thuyết giải đáp vấn đề, trong đó có nỗi
luyến tiếc quá khứ đã không có cách nào
trở lại mà không thấy rằng nó còn có thể
là vật cản đến tương lai. Ông cũng như những
công thần lớn nhỏ khác cùng thời, sở dĩ
gây được chú ý chỉ vì mọi người đã sống
trong một chế độ từng một lúc coi sự phản
kháng công khai là không thể nghĩ tới, nay
thực sự đã xảy ra. Nhưng mặt khác, ông không
thể chối bỏ quá khứ của mình, nghĩa là
chối bỏ chế độ ông đã phục vụ...Do đó ta
thấy sự khó khăn vô vàn của những ‘lí thuyết
gia’ muốn vượt CNXH từ trong lòng chế độ đó.
Trong mỗi người Việt là một ông quan
(từ bài Giao tiếp Đông Tây ở Việt Nam)
“Thật ra thì cái học Trung Hoa của người
Việt chỉ góp một phần vào việc giữ nước
chứ chẳng mang chút sáng tạo nào cho tư tưởng
phương Đông - khác với Triều Tiên có hai tư
tưởng gia ở thế kỷ 17 đã góp phần vào việc
phong phú hóa Khổng giáo. Khi tranh luận về
vấn đề ‘Việt Nam có nền quốc học hay không?’
thì những kẻ bênh vực chỉ đáng khen ở tinh
thần yêu nước nồng nàn, chứ kẻ phản bác
không phải chỉ có ông Phan Khôi của xứ ‘hay
cãi’, mà người giật mình còn có ông Thượng
thư Phạm Quỳnh nữa.”
Thật ra thì cái học Trung Hoa của người
Việt chỉ góp một phần vào việc giữ nước
chứ chẳng mang chút sáng tạo nào cho tư tưởng
phương Đông.
“Người ta học để mong làm quan, chứ không
phải để mong hiểu biết, như Phan Huy Thực thú
nhận với Minh Mạng là nhân sĩ Bắc Hà chỉ
học sách Thánh hiền của thế kỉ 13 là muộn
nhất. Kết quả lâu dài là người Pháp đã mỉa
mai: “Mỗi người An Nam đều có một ông quan
trong bụng....Trong khi đó, từ đời Đường, người
Nhật đã gởi cả những phái đoàn vào lục
địa học cho kì hết tinh hoa của nước lớn,
lập cả một kinh đô Nara giống Tràng An, lưu
giữ những hiện vật đương thời cho đến ngày
nay, trước khi có các khai quật khảo cổ, các
học giả phải tìm đến để có vật chứng chính
xác của Trung Hoa ngày xưa. Có thể thấy rằng
người Nhật đã không sợ mất bản thân khi cố
tình học người tận nơi tận chốn...”
“Hình như Việt Nam không có một vị trí cách
biệt với Trung Hoa như vậy để khỏi e dè không
sợ đồng hóa.”
Lại nói về sự tiếp nhận văn hóa
(từ bài Giao tiếp Đông Tây ở Việt Nam)
“Cái mâu thuẫn nằm trong lòng xã hội Việt
như một sợi xích lằng nhằng. Xưa thì ‘Nam
nữ thọ thọ bất thân’ mà trai gái trong sinh
hoạt đồng áng vẫn nhiều bờ cỏ, đống rơm;
‘trung thần bất sự nhị quân’ mà giết vua như
ngóe. Gần thì làm cách mạng vô sản mà lãnh
tụ là con quan, con địa chủ, nhà tư sản đi
theo hướng lột bỏ bản thân, thoát li giai cấp
(của mình) để phục vụ giai cấp (vô sản).
Nay thì ‘Kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa’ mà mạnh ai nấy làm giàu,
vơ vét. Cứ toàn là khẩu hiệu, học thuộc
lòng vài câu kinh sử, rốt lại muốn vượt qua
thì trở thành tán rộng, nói khoác, với dân
chúng thường tình là những câu chuyện vặt
kiểu Trạng Quỳnh, với trí thức là những
danh từ đao to búa lớn, mượn màu khoa học,
triết lí Tây phương để suy ra Việt Nam.”
“Sức nặng Trung Quốc của thời mới, đúng
là không thể coi thường trong sự mạnh dạn
chuyển hướng theo thế giới mới. Nhưng với
thời đại ngày nay, trong một chừng mực nào
đó, không dễ muốn đánh ai thì đánh. Tương
quan thiên triều – phiên thuộc sẽ không có hình
thức như ngày xưa nếu mình không muốn và cường
thịnh lên. Đại Hàn không phải chỉ nhờ tấm
đệm Triều Tiên, nhưng đối phó ngang ngửa với
TQ còn bởi chính sự cường thịnh của mình.
Đó là kết quả của những người muốn làm
lịch sử, những người cầm chính quyền thật
sự. Người Việt trong nước hiện nay đã thấy
rõ điều đó. Tiếc rằng sự vồ vập phim truyền
hình Đại Hàn chẳng hạn lại chứng tỏ thêm
một cuộc bắt chước tủi hổ, về phía khác.”
Một cách đọc văn bản về trường hợp
Trần Nguyên Hãn (từ bài Tây Tiến)
“Chiến trận chống Minh như đã nói lan đến
rừng núi vùng tây bắc của Đại Việt vì đến
thời Minh, triều đình Hán tộc đã có mặt
vững vàng trên vùng tây nam của họ nên có
thể dùng đường tiến quân theo triền sông Hồng
và các phụ lưu, không phải chỉ lệ thuộc vào
lũng Lạng Sơn như xưa. Nên khi quân Lê tiến ra
vây Đông Đô, chém Liễu Thăng khiến quân Mộc
Thạnh từ Vân Nam xuống phải tan vỡ thì các
tù trưởng vùng đó thấy lẽ khôn ngoan là phải
liên kết với Lê. Nhân vật có liên quan ở đây
là Đèo Cát Hãn, được dụ về cuối năm 1427.
Nhưng Đèo Cát Hãn, như lời kể trong chiếu
ban sư, cũng không dễ dàng khuất phục. Cuối
năm 1430, Lê đem quân đánh Bế Khắc Thiệu, đầu
1432, thắng Đèo Cát Hãn. Lời chiếu kể tội
liên can: “Năm ngoái ở trấn Thái Nguyên, thằng
Bế Khắc Thiệu mưu phản, thật do thằng Hãn
gây họa. Nay thằng Đèo Cát Hãn làm loạn lại
bởi âm mưu thằng Xảo...”
Ta không thể biết gì hơn về âm mưu liên kết
trong ngoài đó. ‘Thằng Hãn’ là Trần Nguyên
Hãn, ‘thằng Xảo’ là Phạm Văn Xảo. Phan Huy
Chú với ảnh hưởng của tiềm thức nghiêng về
phe trung châu (đồng bằng) nên cho rằng Hãn
thấy việc xa lánh Lê Lợi là phải: “Ông Hãn
nói riêng với người thân: Nhà vua có tướng
như Câu Tiễn, không thể cùng sung sướng được.”
Nhưng ta cũng có thể nhìn vấn đề kĩ hơn.
Những ‘lực sĩ xá nhân’ đi bắt (Nguyên Hãn
khi ông bị cáo buộc mưu phản) hẳn là thuộc
đội Thiết đột nòng cốt tin cẩn của Lê Lợi.
Nói là oan nhưng Phan Huy Chú cũng cho thấy
Trần Nguyên Hãn ‘về làng làm nhiều nhà cửa
và đóng thuyền chở binh khí.’ Để làm gì,
mơ làm Phạm Lãi ngao du sông nước mà chất
binh khí theo, để làm gì? Biết vua nghi mà
vẫn làm nhiều nhà cửa thì nếu không ngu độn
tất cũng là có ý xây dựng đồn binh để lo
thân.
Hãn chắc phải hiểu như sẽ xảy ra về sau
với mấy ông phụ đạo hay con cháu họ nằm ở
Đông Đô, lúc vua vui thì tha, lúc buồn thì
giết. Hãn phải lo thân và chuẩn bị tìm người
liên kết. Bế Khắc Thiệu có mặt cùng phe trong
chuyến thề bồi của Lê với Vương Thông, ở địa
vực tương đối gần, là ứng viên ưu tiên nhất
của ông tướng từng xông pha trận mạc, không
chịu bó tay chờ người đến bắt. Có điều cơ
may của thời tao loạn đã qua, không dễ mỗi
lúc lại gây nổi cơ đồ cho nên Hãn phải chịu
chết. Chết vì lật thuyền hay vì người anh
hùng vùng lên lần chót?”
Một ngộ nhận khi nghĩ về làng Việt Nam (từ
bài Giao tiếp Đông Tây ở Việt Nam)
“Ông P. Mus, cũng như các học giả khác, đến
VN, ở ngay vùng sinh hoạt cổ truyền của dân
Việt thấy làng có lũy tre, có cổng vào canh
gác, biết chuyện ví dụ làng có lệ cheo cưới,
bắt vạ, nghe câu huênh hoang ‘Phép vua thua lệ
làng’, thấy nhóm quan viên quyền hành làng
xã nhóm trong cái đình với những tục lệ
quái dị có vẻ cổ sơ, hoang dã, liền dễ suy
ngay ra rằng cái đình và cơ sở làng xã có
tận thời lập quốc, tuy không đưa lên xa đến
4000, 5000 năm như những học giả Việt, trong
đó có những người chữ-nghĩa càng xa nước
càng thấy phải bày tỏ tình yêu tổ quốc nồng
nàn hơn...Các ông bà học giả này không biết
cái đình làng mới được chính thức thành
lập cuối thế kỷ 15 (1496) và theo tính chất
tiến triển chậm chạp của đất nước ngày xưa
thì cái đình có thành điểm tượng trưng quyền
lực của làng cũng phải đợi đến một thế
kỉ sau.
Các hương ước, những luật pháp của làng
mà người ta tưởng là thứ đã đóng góp vào
sự chận đứng quyền lực trung ương bên ngoài
lũy tre, thì được thể chế hóa sớm hơn (1664)
nhưng chứng tích còn lại cũng xuất hiện theo
với sự nở rộ của đình làng ở các thế kỷ
17, 18, những thế kỷ của hỗn loạn, của những
cuộc phân tranh...Do đó cái lũy tre làng bền
chặt hơn, có cổng gác, là của các thế kỷ
loạn lạc đó, của đám dân làng phải tự bảo
vệ lấy thân như vẫn còn thấy trong thời Pháp
thuộc, lúc quyền hành trung ương đã chặt chịa
hơn nhiều. Cái cổng gác không chỉ ở làng
quê mà còn nằm ngay ở phố phường ở Hà Nội,
khiến người Pháp khi kiến thiết thủ phủ Đông
Dương đã phải phá dỡ, san bằng đi. Bảo rằng
làng xã chứa đựng sức mạnh căn bản của xã
hội VN, sao không thấy rằng lũy tre, cổng gác
như thế cũng là dấu hiệu rõ rệt và là mầm
mống của ý thức phân li?” ( BBC )

|