| LỊCH
SỬ VIỆT NAM

Nhân
ngày mất của Sử gia Lê Văn Hưu ( 09-4-1322 )
Thái
độ phê phán nghiêm khắc trong Đại Việt sử ký toàn
thư
ĐẠI
VIỆT SỬKÝTOÀN THƯ
Lê Văn Hưu (1230
- 1322)
Lê Văn Hưu người làng Phủ
Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã
Triệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).Theo
lời các cố lão địa phương thì đất Triệu Trung vốn
là trang trại của vị tổ khai sáng dòng họ Lê - quan
Trấn quốc bộc xạ Lê Lương thời Đinh Tiên Hoàng,
đến nay đã được hơn hai mươi đời. Lê Văn Hưu là
ông tổ thứ bảy của dòng họ này. Cuốn Lê thị gia
phả hiện còn được bảo tồn, ghi ông sinh năm Canh
Dần (1230) là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông
minh.
Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang
làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái
để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé mới
tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một
vế đối để thử tài:
- Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi
phì phò đúc nên dùi vở.
Lê Văn Hưu liền đối:
- Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi
húi mà đậu khôi nguyên.
Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi mãi rồi tặng luôn
một cái dùi thật xinh, lại kèm theo ít tiền để mua
giấy bút.
Năm Đinh Mùi, Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng Nhãn.
Đây là khoa thi đầu tiên ở Việt Nam có đặt danh
hiệu tam khôi (ba người đỗ đầu: Trạng Nguyên, Bảng
Nhãn, Thám Hoa). Năm ấy, ông vừa tròn 18 tuổi.
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan
(chức quan trông coi việc hình luật), rồi Binh bộ
Thượng thư, rồi Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử
Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của thượng tướng
Trần Quang Khải, một trong những danh tướng của
cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm
1272, ông đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt
sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi lại
những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời
gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức
Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) (*) cho tới
Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển,
được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.
Đại Việt sử ký nay không còn, nhưng vẫn có thể
thấy được thấp thoáng bóng dáng bộ quốc sử đầu tiên
này trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên,
sử thần đời Lê, người khởi đầu việc biên soạn Đại
Việt sử ký toàn thư, đã căn cứ vào Đại Việt sử ký
của Lê Văn Hưu, tiếp đó là Đại Việt sử ký tục biên
của Phan Phu Tiên để biên soạn những phần liên quan.
Trong bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư,
Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử
giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh
triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước
nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp
thành sách để cho người xem đời sau không có gì
phải tiếc nữa, thế là được rồi". Tiếp đó, Ngô
Sĩ Liên nói rõ, ông đã đem "hai bộ sách của
tiên hiền" (tức là Đại Việt sử ký tục biên
của Phan Phu Tiên) ra "hiệu chỉnh, biên soạn
lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, thành một số quyển,
gọi là Đại Việt sử ký toàn thư". Như vậy, khó
có thể phân định được đích xác đâu là nguyên văn
Đại Việt sử ký trong bộ quốc sử lớn đời Lê này.
Tuy vậy, rất may là trong Đại Việt sử ký toàn thư
hiện đang lưu hành vẫn còn có 29 đoạn ghi rõ là
lời văn của Lê Văn Hưu với mấy chữ " Lê Văn
Hưu viết ". Qua nhưng trích đoạn đó, có thể
thấy được phần nào khuynh hướng cũng như sắc thái
ngọn bút chép sử của ông. Trân trọng công lao đánh
giặc giữ nước của Tổ tiên, ông đã nhận định về cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng với những lời lẽ rất
mực hào hùng: " Trưng Trắc Trưng Nhị... hô
một tiếng mà các quận Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố
cùng sáu mươi nhăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng
ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay...".
Đoạn ông ca tụng Ngô Quyền cũng thấm đượm lòng tự
hào sâu sắc trước thắng lợi huy hoàng của dân tộc:
" Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của
nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của
Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người
phương Bắc không dám sang nữa. Có thể nói là một
lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng
giỏi vậy... ". Quan tâm sâu sắc đến cuộc sống
của nhân dân, ông cũng đã nghiêm khắc phê phán những
hành vi bạo ngược, trái đạo lý của vua chúa, như
đoạn nhận xét về cấm lệnh " không cho con gái
nhà quan lấy chồng trước khi dự tuyển vào hậu cung"
của Lý Thần Tông (1128 - 1137), chẳng hạn: "Trời
sinh ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để
cung phụng riêng cho vua. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn
con cái có gia thất; thánh nhân thể lòng ấy còn
sợ kẻ sát phu sát phụ không được có nơi có chốn...
Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải
đợi xong việc tuyển người vào cung rồi mới được
lấy chồng, thế là để cung phụng riêng cho mình,
đâu phải là tấm lòng của người làm cha mẹ dân!".
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng Ba năm Nhâm Tuất (1322),
táng ở cánh đồng xứ Mả Giòm (thuộc địa phận xã Thiệu
Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Hiện nay
ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự Đức
thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài minh
ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông.
Giáo sư Đặng Đức Siêu
--------------------------------------------------------------------------------
* Khoảng trước năm 179 trước Công Nguyên, Triệu
Đà xâm lược nước Âu Lạc của dân tộc Việt rồi sáp
nhập vào nước Nam Việt. Lê Văn Hưu, sau đó là các
nhà sử học Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng
Triệu Đà là vua nước Việt, xếp "kỷ nhà Triệu"
như một triều đại chính thống trong lịch sử Đại
Việt. Đây là một sự nhầm lẫn. Đến thế kỷ 18, Ngô
Thì Sỹ (1726-1780) trong cuốn "Việt sử tiêu
án" mới bác bỏ sai lầm này, khẳng định Triệu
Đà "thực chưa từng làm vua nước ta" vì
"nước Việt ở miền Nam Hải, Quế Lâm" không
ở vị trí nước Việt Nam ngày nay

|