| LỊCH
SỬ VIỆT NAM

Phan
Châu Trinh: “Nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”
Nhân
ngày mất của Chí sĩ Phan Chu Trinh ( 24-3-1926)
Phan
Chu Trinh: Thân thế và Sự nghiệp
Kỷ
Niệm Phan Chu Trinh (1872-1926)

Phan
Chu Trinh
.
Phan
Chu Trinh (1872 - 1926)
Phan Chu Trinh sinh năm Nhâm Tuất (1872) niên hiệu
Tự Ðức 26, tự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu
là Hy Mã, quê ở xã Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam .Thân phụ ông là Phan Văn
Bì?h, theo nghề võ và đã tích cực chiến đấu trong
hàng ngũ Cần Vương . Thân mẫu là Lê Thị Chung, con
một nhà thế gia vọng tộc tại làng Phủ Lâm rất tinh
thông Hán học và có nhiều đức hạnh .Thuở thiếu thời
Phan Chu Trinh được hiền mẫu ân cần chăm sóc, trong
khi phụ thân mãi lo công việc võ biền . Chẳng may
mẹ mất sớm, vì cha phải bận với võ nghiệp, ít săn
sóc đến việc học hành hành nên mãi đến năm lên 10,
Phan Chu Trinh mới được vào trường học tập.Vì mối
tình yêu nước sớm nẩy nở trong trí của Phan Chu
Trinh nên trong lúc các bạn đồng học chăm chỉ ngốn
những lời giảng dạy của thầy để nhồi vào óc đạo
lý và chữ nghĩa của Thánh hiền, ông tỏ ra rất xao
lãng, thờ ơ . Do đó, trong suốt ba năm liền học
tập, Phan Chu Trinh chỉ học lấy lệ Năm 1885, kinh
thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải chạy trốn
ra Quảng Trị . Các đạo Cần Vương kháng Pháp nổi
lên khắp các nơi . Ðể cho Phan Chu Trinh có một
nghề hợp khả năng và cũng đồng thời được đắc dụng
trong buổi non sông nghiêng ngửa, thân phụ ông cho
ông theo học nghề võ . Lúc bấy giờ thân phụ ông
được cử làm Chuyển vận sứ đồn A Bá thuộc hạt Tam
Kỳ .
Năm 1887, vì nghi kỵ, thân phụ Phan Chu Trinh bị
hại, việc học tập võ nghệ của ông bị gián đoạn.
Nhờ người anh cả rước thầy về cho ông tiếp tục học
nghề văn . Vì nhận thấy muốn có uy tín để thực hiện
chí lớn tron việc cách mạng để giành lại chủ quyền
của đất nước, nên ông đổi sang học nghề nghiên bút,
chớ thực ra ông không bao giờ thích cái lối học
hư văn .Theo học bốn năm ở nhà . Phan Chu Trinh
tỏ ra thông minh tuyệt vời, ông thường có những
lý luận sâu sắc , những nhận xét tinh vi .
Năm 1889, theo thụ nghiệp với vị Ðốc học Trần Mã
Sơn, Phan Chu Trinh được bổ vào ngạch học sinh .
Năm 1900, trong kỳ thi Hương, Phan Chu Trinh thi
đỗ Cử Nhân, và qua năm sau 1901, ông đỗ Phó Bảng
(nhằm niên hiệu Thành Thái thứ 13).
Ông được bổ làm Thừa Biện ở Huế, ít lâu sau, người
anh cả của ông mất, ông xin về quê dạy học . Năm
1903, ông được bổ làm Thừa Biện ở Bộ Lễ . Trong
thời gian từ 1902 đế 1905, Phan Chu Trinh có dịp
học những tác phẩm có tư tưởng cách mạng của Jean-Jacques
Rousseau, Montesquieu, Voltaire ... Càng tiếp xúc
nhiều với các quan trường, Phan Chu Trinh càng thấy
rõ cảnh thối nát , hủ bại trên đường cử nghiệp .
Lúc bấy giờ lực lượng Cần Vương lần lần tan rã,
thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị trên đất
nước Việt Nam .Trước cảnh non sông nghiêng ngửa,
nhận thấy sự bất lực và thối nát của triều đình
Huế, Phan Chu Trinh xin từ quan và bắt đầu hoạt
động chính trị với các ông Phan Bội Châu, Lương
Ngọc Can, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp . Sau khi
từ quan về hoạt động chính trị, Phan Chu Trinh đã
cùng với hai bạn đồng khoa là Trần Quý Cáp và Huỳnh
Thúc Kháng rủ nhau vào Nam vận động đồng bào các
giới . Vào đến Bình Ðịnh gặp lúc quan tỉnh mở một
kỳ thi cho học trò, đầu bài là Chí thành thông thánh
và Lưỡng Ngọc danh sơn ba ông mạo tên là Ðào Mộng
Giác nộp quyển làm bài Phan Chu Trinh làm bài thơ
và hai ông Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng làm
bài phú . Những bài này không theo quy tắc thông
thường mà cốt để thức tỉnh nhóm sĩ phu . Quan tỉnh
không dám quả quyết phải dịch sang chữ Pháp để trình
viên Khâm sứ đồng thời truy tầm tác giả của hai
bài văn cách mạng kia, nhưng không có kết quả Việc
này đã có ảnh hưởng lớn đến đám sĩ phu thời bấy
giờ . Tới Phan Thiết, Phan Chu Trinh bị bệnh phải
quay trở về Huế . Sau mấy tháng dưỡng bệnh, ông
ra Bắc tìm cách lên Yên Thế để gặp Hoàng Hoa Thám,
nhưng chính sách bạo động của Hoàng Hoa Thám không
thích hợp với chủ trương của ông, nên ông lại xuống
Trung Châu Bắc Việt vận động với nhóm nho sĩ Bắc
Hà . Ðâu đâu ông cũng đề xướng chủ trương tân học,
cực lực đả kích các quan trường tham lam và những
nhà hủ nho . Trong thời gian này ông kết nạp được
một số đồng chí đáng kể . Phan Chu Trinh tán thành
phong traò xuất dương du học do Phan Bội Châu khởi
xướng . Lời kêu gọi của Phan Bội Châu, với sự hưởng
ứng của Phan Chu Trinh gây được một phong trào xuất
dương rất rầm rộ . Ðể được quan sát tại chỗ sự tiến
triển của các nước, Phan Chu Trinh liền trốn sang
Trung Hoa . Ông gặp Phan Bội Châu tại Hương Cảng
rồi hai ông cùng sang Nhật. Ở đó được 10 tháng,
ông lên đường về nước (năm 1906) . Phan Chu Trinh
quyết đứng ra tranh đấu công khai với chính quyền
bảo hộ Pháp . Ngày 15 tháng 8 năm Bính Ngọ (1906)
, ông gởi lên Toàn Quyền Pháp ở Ðông Dương một bức
thư dài 12 trang gồm mấy điểm sau đây :
- Do sự dung túng của chính quyền Bảo Hộ mà những
bọn tham quan ô lại lộng hành khiến cho người Việt
Nam bạc nhược suy yếu .
- Chính quyền Bảo Hộ đã dùng một chính sách bạo
ngược, tàn ác đối với dânViệt Nam, không tôn trọng
sinh mạng con người, muốn chém giết ai tùy ý .
- Do những cách đối xử tàn ác này, mà bọn quan
lại lợi dụng quyền thế bắt nạt dân chúng, tìm cách
vơ vét cho đầy túi tham, gây nên một tình trạng
bi đát trong dân chúng. Bức thơ của Phan Chu Trinh
đã có ảnh hưởng rộng lớn trong dân chúng . Ông bắt
đầu hoạt động mạnh, hô hào tổ chức nhiều buổi diễn
thuyết tại trường Ðông Kinh Nghĩa Thục . Thực dân
Pháp để ý căm thù và triều đình Huế cũng rất bực
tức quyết tìm cách hãm hại ông. Nhưng Phan Chu Trinh
vẫn không màng đến, ông đứng ra lãnh đạo phong trào
duy tân, khuyến khích đồng bào mở trường dạy học,
lập các hội buôn như Ðông Kinh Nghĩa Thục, Hồng
Hưng Tân, công ty Minh Tân, ông cảm hóa được rất
nhiều nhân sĩ . Phan Chu Trinh lại hô hào thanh
niên vận Âu phục , cắt tóc ngắn, ủng hộ các sản
phẩm và hàng nội hóa để giúp cho nền kinh tế trong
nước được dồi dào . Ða số thanh niên trong toàn
quốc đã nhiệt liệt hưởng ứng phong trào duy tân
này .
Năm 1908, tại tỉnh Quảng Nam phong trào kháng thuế
nổi lên mạnh mẽ lan rộng các tỉnh miền Trung Việt.
Ðầu mùa Xuân năm 1908, thực dân Pháp ra lệnh đóng
cửa Ðông Kinh Nghĩa Thục . Nhân việc kháng thuế
ở Quảng Nam, vốn đã không ưa Phan Chu Trinh vì ông
đã nhiều lần đả kích và nguyền rủa thậm tệ chúng,
nên bọn quan lại Nam triều và thực dân Pháp đổ cho
ông "xui dân làm loạn" và "phá rối"
liền bị hạ lệnh bắt ông ... Rất nhiều nhân sĩ bị
bắt, và trong dịp này, ông nghè Trần Quý Cáp bị
Nam Triều lên án xử chém tại Nha Trang . Riêng Phan
Chu Trinh bị bắt đem về giam tại tòa Khâm Sứ. Ðể
phản đối hành động khủng bố của thực dân, Phan Chu
Trinh tuyệt thực trong bảy ngày . Nhận thấy tình
thế khó xử, viên Khâm Sứ Pháp phải giao trả ông
về Cơ Mật Viện của tòa án Nam Triều, ông bị bọn
quan lại kết án tử hình . Nhờ có hội Nhân Quyền
can thiệp với chánh phủ Pháp. Chính quyền Bảo Hộ
phải điều đình với Nam Triều đổi bản án "tử
hình" ra "Côn lôn ngộ xá bất nguyên"
(bị đày ra Côn đảo mãn kiếp không được ân xá ".
Bỏ giam ở nhà lao Phủ Thừa được it' lâu, Phan Chu
Trinh bị đày đi Côn đảo . Lúc đi ngang qua cửa Thượng
Tứ (Huế), ông đã ngâm bốn câu thơ bằng chữ Hán mà
ông Phan Khôi đã dịch như sau Mang xiềng nhẹ bước
khỏi đô môn,
Hăng hái hò reo lưỡi vẫn còn
Ðất nước hãm chìm dân tộc héo
Làm trai đâu xá thứ Côn-lôn
Trong cảnh tù đày, nhưng Phan Chu Trinh rất được
chính phủ Pháp trọng đãi và kính nể. Chính viên
Thống Ðốc Nam Kỳ đã ra tận Côn đảo để tìm hiểu lập
trường tranh đấu của ông . Năm 1910, nhờ có hội
Nhân Quyền Pháp (do sự vận động của ông Ernest Babut
trong 3 năm trời) can thiệp ráo riết với chính phủ
Pháp, thủ tướng Pháp lúc bấy giờ là Klobulowsky
và Tổng trưởng Bộ Thuộc địa là Trouillet lập Hội
đồng để xét án Phan Chu Trinh . Chánh Tham Biện
tỉnh Mỹ Tho là Cousineau được cử làm chánh án .
Mặc dù đã được ân xá, nhưng ông cũng bị thực dân
Pháp tìm cách giữ mãi tại Mỹ Tho .Ông phản kháng
và cương quyết đòi trở về Côn Ðảo . Chính phủ Pháp
đành phải để ông tự do .Vì muốn tranh đấu có hiệu
quả trong việc cải cách nền chính trị nước nhà và
đồng thời để được học hỏi thêm, năm 1911, Phan Chu
Trinh đã sang Pháp với Toàn Quyền Klobulowsky, cùng
theo ông có người con trai tên là Phan Chu Dật .
Tại Ba Lê, ông gởi con vào trường học còn ông thì
lại làm nghề rửa ảnh để sinh sống .Dù cho phải sống
xa quê hương, ông vẫn không ngừng hoạt động tranh
đấu cho đất nước. Ông viết báo Pháp phản đối việc
đào lăng Tự Ðức, yêu cầu chính phủ Pháp nên cấp
tốc thay đổi chính sách thuộc địa, giáo dục tinh
thần tranh đấu của Việt kiều tại Pháp . Ông tìm
cách liên kết với các lãnh tụ thuộc đảng cấp tiến
ở Pháp . Ông không tiếc lời đả kích những nạn tham
nhũng thối nát của thực dân Pháp ở Ðông Dương và
chỉ trích chính sách cai trị của họ . Phái khuynh
tả ở Pháp rất tán thành việc làm của Phan Chu Trinh,
nhưng các quan lại ở các thuộc địa Pháp rất căm
thù và oán ghét . Tiền trợ cấp của ông và tiền học
bổng của con ông là Phan Chu Dật đều bị truất, đó
là kết quả sự trả thù của thực dân .Hai cha con
ông phải sống kham khổ và vất vả với số lương rửa
ảnh của ông hàng tháng là 50 quan . Dù phải sống
trong cảnh đói rét, khốn khổ đủ mọi bề, Phan Chu
Trinh vẫn cương quyết tranh đấu cho lý tưởng cao
cả .
Năm 1914, chiến tranh Pháp Ðức bộc phát, tại quê
nhà vua Duy Tân nhân cơ hội đó gây biến, nhưng cuộc
khởi nghĩa thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên
bị xử chém . Vua Thành Thái và Duy Tân bị thực dân
Pháp đày sang đảo Réunion .Vì không chịu đi lính
cho Pháp để đánh Ðức, Phan Chu Trinh bị vu cáo là
làm gián điệp cho Ðức, nên ông bị bắt giam vào ngục
SANTE . Nơi đây ông bị hăm dọa đủ điều, nhưng tấm
kiên trung vẫn không bao giờ thay đổi . Dùng võ
lực không được, người ta đã đem tiền bạc, quyền
tước để mua chuộc ông , nhưng cũng vô hiệu quả .
Nhờ sự can thiệp của Ðảng Xã Hội và Hội Nhân Quyền
Pháp, năm 1915 chính phủ Poinceré phải ký giấy phóng
thích ông. Vừa thoát khỏi cảnh giam cầm, Phan Chu
Trinh lại phải khóc con . Phan Chu Dật sau 6 năm
học tập đã thi đỗ bằng Tú Tài Vật Lý Học, được cha
ủy thác sứ mạng về nước để hoạt động . Vì bao năm
sống thiếu thốn đói lạnh, Chu Dật mang phải bệnh
lao phổi . Về đến quê nhà chưa đầy một năm, Chu
Dật mất .
Năm 1922, vua Khải Ðịnh sang dự cuộc đấu xảo quốc
tế ở Ba Lê, Phan Chu Trinh gởi cho nhà vua một bức
thư lời lẽ nghiêm khắc buộc Khải Ðịnh phải thoái
vị nhường quyền lại cho quốc dân và kể bảy tội nhà
vua đã làm và đáng tội chém đầu .Có đoạn ông đã
viết : "... Một là vì Trinh này đối cùng bệ
hạ đã đoạn tuyệt hẳn, không còn một chút quan hệ
gì, chỉ đứng vào cái địa vị đối đãi mà thôi, cho
nên bức thư này không phải dâng lên cho bệ hạ mà
chính là gửi cho bệ hạ, hai chữ bệ hạ mà tôi dùng
đây, chẳng qua là cái tiếng xưng hô đã quen trong
Hán văn đó mà thôi ... ngày nay Trinh này đề thư
cứ gửi ngay cho ông Bửu Ðảo là cái tên húy của bệ
hạ , để tỏ ý phản đối ." Bức thư của ông, sau
khi được công bố, khích động được tinh thần tranh
đấu của đồng bào trong và ngoài nước .
Năm 1925, chính phủ Pháp nhận thấy Phan Chu Trinh
là một người ái quốc chân chính có chính sách ôn
hòa, nên có ý muốn giúp đỡ ông . Phái tả đảng bên
Pháp từ lâu đã có cảm tình với ông được thắng phiếu
trong cuộc bầu cử Nghị Viện và lên nắm chính quyền
. Thấy cơ hội thuận tiện cho mình đem tài trí ra
giúp dân giúp nước, ông xin trở về quê nhà và được
chính phủ Pháp chấp nhận.
Về đến Saigon, Phan Chu Trinh có ý định ở lại trong
Nam ít lâu rồi sẽ ra Trung Bắc để hoạt động. Dù
tuổi già sức yếu, bệnh hoạn vì bao năm sống vất
vả thiếu thốn ở Pháp, Phan Chu Trinh vẫn hăng hái
tranh đấu . Ông vận động với nhà cầm quyền Pháp
để xin ân xá cho Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải
và sửa soạn hai bài diễn văn để đọc trước công chúng
:
1. Ðạo đức và luân lý Ðông Tâỵ
2. Quân trị chủ nghĩa, dân trị chủ nghĩạ
Hai bài diễn văn trên đây đã bày tỏ được chính
kiến của một nhà cách mạng chân chính, với lòng
yêu nước nhiệt thành . Ngày 24-12-1925, sau khi
hay tin việc vận động xin ân xá của quốc dân đã
có kết quả và Toà Quyền Varenne đã ký giấy ân xá
Phan Bội Châu . Phan Chu Trinh định ra Huế để được
gặp người bạn đồng chí để cùng nhau tâm sự, nhưng
ông bị đau không đi được . Các sinh viên trường
Ðại học Hà Nội đánh điện văn mời ông ra Bắc để diễn
thuyết . Chưa kịp đi thì ông được biết tin vua Khải
Ðịnh mất . Phan Chu Trinh đánh điện tín cho Pasquier
Khâm sứ Trung Kỳ hay ông sẽ ra để lo việc cải tổ
triều chính và lập dân đảng .
Tiếc thay đại cuộc chưa thành, bệnh tình của Phan
Chu Trinh mỗi ngày một thêm trầm trọng . Ngày 24
tháng 3 năm 1926 (nhằm ngày 12 tháng 2 năm Bính
Dần) nhà cách mạng ái quốc Phan Chu Trinh đã trút
hơi thở cuối cùng, hưởng thọ được 55 tuổi . Một
Hội đồng trị sự được thành lập ngay đêm đó để lo
việc an táng cho ông ngày 4-4-1926 khắp từ Nam chí
Bắc đều tự động làm lễ bãi khóa và làm lễ quốc táng
nhà chí sĩ Phan Chu Trinh rất trọng thể để chứng
tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và mến tiếc nhà cách mạng
đã suốt đời vì dân vì nước .(Vietsciences)
Phan
Bội Châu và Phan Chu Trinh

|