| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

LÊ QUÝ ĐÔN - Nhà bác học
tài năng
Đi khắp mọi miền cổ tích dân gian, chưa hẳn đã tìm
đâu ra được trang cổ tích đầy huyền thoại như tuổi
thơ của thần đồng Lê Danh Phương. Nơi miền chiêm
trũng Thái Bình vốn nghèo và dân dã như bao nhiêu
vùng quê khác ở xứ Bắc Hà, tuổi thơ của cậu được
đong đầy hương đồng gió nội. Và ở cậu bé Phương
ấy đã phác lộ khá sớm cốt cách độc đáo của một bậc
tài năng. Trí tuệ được ẩn hiện trong bộ cánh nghịch
ngợm của tuổi thơ, với hình ảnh một cậu bé lên tám
cởi truồng dạng chân trước mặt một ông khách lạ
của bố mình để mặc cả đấy là chữ "nhân"
hay chữ "thái". Ngỗ nghịch mà tài hoa,
cậu bé ấy đã chạy tội "biếng học" bằng
một bài thơ "Rắn đầu biếng học" như một
tuyệt tác mà những người sành sõi trong làng thơ
cũng chưa ai dám ứng khẩu một bài thơ "chạy
tội" tài năng kiểu ấy. Bài thơ thất ngôn bát
cú chỉ vỏn vẹn có 56 chữ mà kể tên được 8 loài rắn
khác nhau.
Với tuổi thơ đầy huyền thoại, cậu bé Danh Phương
được người đời mệnh danh là "kỳ nhân",
là "thần đồng Diên Hà", mười tuổi đã đọc
khắp kinh, sử, truyện và bách gia chư tử,.. đã biết
cùng thân phụ luận về anh hùng hào kiệt. Mầm mống
của bậc tài năng thiên bẩm ấy đã may mắn được gieo
nơi mảnh đất lành, thế nên càng ngày chân dung một
nhà bác học được phác lộ rõ dần. Lúc ở quê nhà Diên
Hà, lúc lên Bích Câu quê ngoại, tuổi niên thiếu
của ông đã sớm tiếp xúc với những bậc tài danh,
những tao nhân mặc khách, và điều ấy khiến nguyện
ước muốn làm rạng rỡ núi sông đã sớm hình thành.
Mười bảy tuổi đỗ giải nguyên trường Sơn Nam, và
chính thức lấy tên Lê Quý Đôn. Năm hai sáu tuổi,
đỗ đầu hai kỳ thi Hội, thi Đình, và giành chức tam
khôi (Đình nguyên Bảng nhãn). Nhờ gặp lúc chúa hiền
tôi giỏi, hành trình quan lộ của Lê Quý Đôn sớm
được hanh tiến, và chính những năm tháng ấy, bằng
tài năng to lớn của mình, ông đã làm nên biết bao
công trạng cho nhà Chúa và cũng là cho nền văn hoá
của nước nhà. Vì thế ông trở thành đại diện cho
tinh thần Việt Nam làm phó sứ sang Trung Quốc. Chuyến
đi đã mở rộng tầm nhìn vốn đã sâu rộng ở ông, đồng
thời giúp ông kiểm nghiệm lại kho tàng trí thức
bách khoa trong ông. Song điều quan trọng và đầy
ý nghĩa hơn cả là thể hiện tài năng phi thường của
con dân đất Việt vốn hay bị bọn triều thần Trung
Hoa khinh thường, phủ định tính duy nhất thượng
đẳng ảo tưởng truyền kiếp trong suy nghĩ của sắc
dân phương Bắc so với các dân tộc không phải Trung
Hoa. Tiếp sứ nhà Thanh được một phen kính nể tài
năng kiệt xuất, uyên thâm của sứ thần nước Việt
: Ngài thật là bậc tài cao học rộng hơn tôi nhiều
lắm. Bằng khả năng ngoại giao, tài năng, bản lĩnh
và sự khéo léo, Lê Quý Đôn đã buộc nhà Thanh không
còn gọi chúng ta là "di quan" theo nghĩa
"man di mọi rợ’ trong giao tiếp, và từ đấy
trong tất cả văn tự ngoại giao về sau, người phương
Bắc phải gọi là "cống sứ An Nam".Bao nhiêu
năm vào Nam ra Bắc đã giúp cho tầm tri thức vốn
nhìn xa trông rộng của nhà bác học Lê Quý Đôn thấy
được nền văn hoá đồ sộ, nguồn tài nguyên to lớn,
cũng như những nỗi niềm nghèo khổ của người dân
đất Việt trong những năm tháng Nam Bắc phân tranh,
nội chiến đẫm máu và vô nghĩa. Tình yêu non sông
đất nước và tài năng kiên nhẫn đã giúp ông hằng
đêm mê mải, miệt mài ghi chép hệ thống và sáng tạo
nên một sự nghiệp trước tác khổng lồ thuộc loại
hoàn chỉnh và thâm sâu bậc nhất trong thời phong
kiến. Năm 1776, Lê Quý Đôn được nhà chúa cử vào
Thuận Hoá. Trong thời gian ấy, hiệp trấn phủ Thuận
Hoá Lê Quý Đôn nhận được thư của phụ thân lúc này
đã 80 tuổi từ quê nhà gởi đến trong đó có mấy câu
thơ sau :
"Cha già năm nay răng tóc kém
Trung, thanh, cần, thận nhắc con ghi
Ô Châu của cải chớ có lấy
Cốt được bình yên hai chữ về"
Có một người cha như thế thật đáng hãnh diện và
may mắn cho nước nhà. Và Lê Quý Đôn nói với người
đưa thư : Ta sẽ đưa một thứ của Ô Châu về, đấy là
cuốn sách "Phủ Biên tạp lục" đang soạn
dở...Và quả thật đấy mới là món quà chữ hiếu vô
giá nhất, không phải chỉ có ý nghĩa đối với người
sinh thành dưỡng dục mà với cả dân tộc, nhân dân.
Điều độc đáo đáng ghi nhận trong con người Lê Quý
Đôn là sự kết hợp hài hoà giữa tính khoa học tư
tưởng và tính thực tiễn, giữa tính chính xác lý
tính và chất tình cảm nghệ sĩ, giữa tính hàn lâm
và tính sáng tạo năng động. Ông từng viết : "...nước
chảy thì không bẩn, then cửa thì không mọt, ấy là
nhờ có vận động thường xuyên...sao lại có người
tự trói buộc mình bằng những thứ kinh điển lỗi thời".
Bằng vốn kiến thức uyên thâm cùng với kho tàng thực
tế khổng lồ trong những tháng năm xuôi ngược trên
những nẻo đường nước Việt, nhà bác học đã biết kết
hợp vốn kiến thức xưa và nay mà không làm nô lệ
cho người xưa, và trước tác nên một sự nghiệp vĩ
đại.
Ở ông còn chứa đựng một tinh thần truyền thống
của người trí thức Việt, đó là yêu thương nhân dân
và mang tư tưởng thân dân. Vào những lúc hạn hán
đói kém, quan lại nhũng nhiễu hạch sách, còn nhà
chúa lại tìm nơi đặt lễ lập đàn cầu mưa, nhiều bậc
công thần căn cứ vào thuyết phong thuỷ để tìm đất
thiêng, riêng Lê Quý Đôn lại trả lời khi nhà chúa
hỏi : "Lòng dân được ổn định, đấy là nơi đặt
lễ đàn vững chắc nhất". Vốn là bậc đại thần
được trọng dụng trong triều đình, có lúc từng giữ
chức Phó Tể tướng, có lúc giao cả chức quyền Tể
tướng, Lê Quý Đôn cũng bị dèm pha, ganh ghét, trong
khi đó ông vẫn nhìn thấy được sự suy vi của nhà
Chúa, sự đồi bại của tham quan,... Lẽ thường cuộc
đời vốn đa đoan, vì thế sóng gió cuộc đời vẫn đuổi
theo nhà bác học, ông bị giáng chức, bị đàn hặc,
bị lưu chuyển,...Ngán cảnh quan trường bát nháo,
năm chưa đầy bốn mươi tuổi, Lê Quý Đôn treo ấn từ
quan. Song đấy cũng chính là lúc ông có đủ quỹ thời
gian quý giá để dạy học, đọc sách, sưu tầm, soạn
thảo, biên khảo nên những tác phẩm lớn để lại muôn
đời cho nền văn hóa nước nhà : Bắc sứ thông lục,
Âm chất văn chú, Thái ấp dị bản lục, Lê triều công
thần liệt truyện, Vân đài loại ngữ,.. Cho đến cuối
đời, Lê Quý Đôn đã để lại cho nền văn hoá dân tộc
hơn một trăm tác phẩm tầm cỡ. Chừng ấy tác phẩm,
chừng ấy công việc trong một đời người ngắn ngủi
giữa những năm nhiều biến cố tao loạn, tài năng,
sức làm việc phi thường và sự cống hiến của nhà
bác học tài năng Lê Quý Đôn thật đáng để hậu thế
muôn đời khâm phục.
Ngày 14 tháng 4 năm 1784, ông từ giã cõi đời (thọ
63 tuổi). Để tỏ lòng thương tiếc, triều đình Lê
- Trịnh cho nghỉ chầu mấy ngày, và ghi trong lời
điếu có câu : "Học vấn sâu rộng, văn chương
lỗi lạc, thông minh nhất đời, trước tác không mệt.
Nước Nam ta trong khoảng hai trăm năm nay mới có
một người như Thầy..."
NGUYỄN LỆ HẬU
(Học viện Chính trị Quốc gia - Phân viện Đà Nẵng)

|