| Hoàng
Lê nhất thống chí
Ngô gia văn phái
Hồi thứ tám
Dương Trọng Tế bị dâng tù trước nhà Thái học
Hoàng Phùng Cơ phải tự tử ở ngoài Tây thành.
Lại nói, sau khi vua đã lập mưu giết Chỉnh, một
hôm viên nội hàn là Vũ Trinh có việc riêng vào yết
kiến, vua bèn đem việc ấy bảo kín với Trinh, Trinh
giật mình, nói:
- Người nào bày cho bệ hạ cái mưu ấy, thần trộm
lấy làm nguy hiểm. Hiện nay ở ngoài có giặc mạnh,
tin tức ngoài biên ải đang báo về khẩn cấp, ở trong
triều đình thì mọi người còn nghi ngờ nhau. Bệ hạ
đã dựa vào Chỉnh làm nanh vuốt, thì nên đối đãi
bằng cách thành thực, để cho y được vui lòng thần
phục. Hễ mà biết cách giá ngự, thì kẻ loạn thần
có thể thành kẻ lương thần. Sao lại đón trước sự
dối trá của người ta để đoán chừng một việc chưa
chắc đã có? Hình tích chưa lộ mà nghi kỵ đã sinh.
Họ hàng bè đảng của Chỉnh đều cầm nhiều quân và
ở nơi trọng yếu, la liệt trong ngoài, một khi xảy
ra biến cố, bọn ở kinh thành sẽ làm việc có hại
cho xã tắc, bọn ở các ngoại trấn sẽ chạy theo quân
giặc. ấy là mình tự cắt vây cánh của mình để giúp
cho kẻ thù vậy.
Vua liền đổi sắc mặt mà rằng:
- Nếu nhà ngươi không nói, thì có lẽ trẫm bị lầm
rồi.
Tức thì vua đòi Vi Quý, Xuân Hợp vào quở trách
và bảo mau mau thôi ngay việc ấy đi.
Về sau Chỉnh biết chuyện ấy, rất oán vua bạc bẽo
và muốn hại ngầm những người bày ra mưu đó.
Chỉnh bảo với viên tướng bộ hạ là Nguyễn Như Thái
rằng:
- Ta đi khắp bốn biển, không kẻ nào dám ngó thẳng
vào mặt ta. Mấy thằng học trò chưa thông hiểu việc
đời ấy là cái thá gì mà dám cả gan như vậy? Chờ
khi nào ta xuất quân đánh giặc, sẽ đem chúng để
thử gươm xem có sắc không, rồi tống cổ chúng xuống
âm ty cho chúng gây chuyện với Diêm Vương.
Thái hỏi người nào, Chỉnh trả lời:
- Chính là Ngô Vi Quý và Lê Xuân Hợp, bọn bề tôi
thân cận của nhà vua đấy!
Từ đó, Chỉnh cứ ở luôn trong dinh thự riêng, không
vào triều yết. Mọi việc quân, việc nước, đều sai
người vào tâu. Vua có ý kiến nên chăng thì lại sai
các đại thần như bọn Phan Lê Phiên, Trần công Xán,
Vũ Trinh đến dinh của Chỉnh để biện bạch cho rõ.
Một hôm, trời rất rét, bọn Phiên ở trong triều,
cử Trinh tới nhà Chỉnh.
Trinh người làng Xuân Liên, huyện Lang Tài, nổi
tiếng là người có tài và nhanh nhẹn, Chỉnh cũng
có ý kính mến. Vua thường dặn Trinh nếu có dịp thuận
tiện thì nên biện bạch với Chỉnh về chuyện hiềm
nghi trước đó.
Hôm ấy, Trinh đến nhà Chỉnh là để phúc tư về việc
quân, ngồi chờ trên linh các mãi không được vào.
Một viên công sai nói với Trinh.
- Thượng công đang ở nhà trong uống rượu không
phải là giờ tiếp khách, quan lớn hãy về đã.
Trinh nói to lên rằng:
- Việc quân khẩn cấp, không thể báo chậm. Thượng
công ngồi chơi, chỉ cách hai tấm cánh cửa, mà tắc
tịt không thông; trên nhà dưới nhà mà xa nhau hơn
hai ngàn dặm, thế là cớ làm sao? Tôi có việc công
đến đây không phải là để gặp riêng, về cũng không
được!
Chỉnh nghe tiếng, vội sai người dẫn Trinh vào.
Sau khi nói xong. Trinh xin lui, Chỉnh nói:
- Việc ấy đã có bọn tỳ tướng của quận Thái trông
nom, sẽ phát binh phù ngay, không phải phiền đến
sứ thần nhà vua phục mệnh. Ông hãy ở đây cùng uống
chén rượu đã. Rồi Chỉnh rót một chén rượu lớn đưa
cho Trinh.
Trinh cố từ không nhận, Chỉnh nói:
- Quan nội hàn nghi tôi chăng?
Trinh đứng dậy tạ lỗi, xin uống, và nói:
Tôi là kẻ bất tài, được thu dùng đã là quá lắm.
Việc gây dựng cho tôi đều là nhờ ở nhà vua và quan
tể tướng, dám đâu có bụng nghi ngờ như chuyện "cung
treo rơi bóng" đời xưa (theo Tân thư: xưa Nhạc
Quảng mời bạn uống rượu, cái cung treo ở trên tường
soi bóng vào trong chén, người bạn tưởng là con
rắn, uống xong về nhà thành bệnh. Sau Quảng phải
mời bạn đến uống rượu một lần nữa ở chỗ ngồi trước
kia và chỉ cho bạn biết rõ là bóng cái cung, soi
vào trong chén rượu bấy giờ người bạn mới khỏi bệnh.
- Đây mượn ý để chỉ sự nghi ngờ).
Chỉnh im lặng không nói gì. Tan tiệc. Trinh ra
bảo với viên thị sư của Chỉnh là Nguyễn Khuê rằng:
- Gần đây lắm kẻ bịa đặt tin nhảm, trăm điều không
có một điều thật. Bọn gian đó thêu dệt ra những
việc không có căn cứ, để gây sự nghi hoặc cho cả
trong và ngoài. óc suy xét của người tầm thường
có khi không khám phá nổi. Nhưng người cao minh
như ông lớn nhà ta, chắc là không để những câu nói
ấy vào tai. Tuy vậy, về phần hình tích, có lẽ ngài
cũng chưa khỏi lầm lẫn; tôi sợ rằng vì thế mà họ
lại bịa ra nhiều chuyện. "Cọp ở chợ" (theo
Chiến quốc sách: Bàng Thống nói với vua nhà Nguỵ
rằng: một người nói ở chợ có cọp thì vua không tin,
nhưng hai ba người nói ở chợ có cọp thì vua sẽ phải
tin, - ý nói tuy lời gièm pha không thật, nhưng
nhiều người nói thì người nghe cũng phải tin) là
việc không thể có, nhưng đến ba người nói thì người
nghe cũng không rõ là có hay không. Huống chi những
kẻ bịa chuyện, lại không phải chỉ có ba người mà
thôi. Vì thế, tôi muốn nói rõ sự tình ấy, để dứt
mối hiềm nghi từ lúc còn nhỏ bé, khiến cho giữa
vua và tôi, tình ý thông suốt, trên dưới yên ổn
với nhau, há chẳng hơn hay sao?
Khuê trả lời:
- Vâng! Ông hãy cứ về.
Sáng mai, nhân lúc rảnh, Khuê đem lời Trinh thuật
lại với Chỉnh. Chỉnh nói:
- Lời người ta nói cố nhiên không thể tin cả, nhưng
cũng không thể hoàn toàn không tin. Ta đã xem kỹ,
nhà vua là người nhẫn tâm và đa nghi, việc ấy chắc
có. Tuy vậy, dù có dù không, cũng chẳng làm gì được
ta. Vả chăng, trong lúc bốn cõi còn nhiều giặc giã,
hãy gác chuyện đó lại, khoan nói đến.
Lại nói, Dương Trọng Tế từ khi ở làng Bình Vọng
rút quân chạy sang Kinh Bắc, liền cùng cháu là Dương
Vân, học trò là Nguyễn Mậu Nễ, đắp đồn luỹ ở huyện
Gia Lâm để chống giữ và lo tính việc khởi bính.
Vừa lúc ấy, chúa Trịnh chạy đến làng Quế ổ (nay
thuộc huyện Quế Võ, Hà Bắc), cho người đến gọi Tế,
Tế nói:
- Vừa rồi, việc đi Thanh Hoá, trong phủ có Bùi
Nhuận là võ tướng, Mai Thế Uông là thổ quan, chúa
không sai hai người ấy mà lại dùng ta trước để thử
quân giặc. Đó là chúa muốn đem ta mà cho giặc vậy.
Bởi chúa đãi người không thật cho nên mới đến thế
này. Bây giờ cùng chúa mưu tính việc lớn, đã có
một lũ võ biền ở làng Quế ổ, vời ta làm gì?
Rồi Tế chối là việc quân khẩn cấp, không thể đến
được. Tế tự mộ lấy vài ngàn người tráng đinh, đắp
luỹ từ làng Như Kinh đến làng Phú Thị (Như Kinh
nay thuộc Văn Giang, Hưng Yên. Phú Thị thuộc Gia
Lâm, Hà Nội), dựng lên ba đồn, chia quân đóng giữ.
Tế cho Vân làm chức bình địch tướng quân, Nễ làm
chức tham tán quân vụ. Lại đưa hịch đến các quận
bên cạnh, kể cái tội nhà vua dựa vào Chỉnh mà đuổi
chúa. Lời hịch đại lược như sau:
"Trong hồi nguỵ Mạc, nhà Lê đã không còn nước.
Nhờ có Thái vương họ Trịnh giúp cuộc trung hưng,
công nghiệp thấu đến trời đất, phúc khánh để cho
con cháu. Hai trăm năm nay, vua Lê chỉ việc khoanh
tay rủ áo, chúa Trịnh coi hết mọi việc chính sự;
thần dân trong ngoài cùng tôn phò và kính mến, không
ai có lòng nào khác. Tên Nguyễn Hữu Chỉnh vốn là
một kẻ vong mạng, thoát chết, mưu đồ làm việc càn
rỡ, đem giặc ngoài vào phá phách nước nhà, giết
chủ cũ mà làm hại nhân dân, xướng ra câu "diệt
Trịnh", mượn cái tiếng "phò Lê".
Vua Chiêu thống là người do quân Nam và Chỉnh lập
lên. Nể giặc lập mình, quên ân nghĩa tám đời chủ
suý; đốt phủ đuổi chúa, tựa vào sức một lũ loạn
thần. Đã không xứng đáng làm vua, lấy gì tiêu biểu
cho nước. Tôi là viên đài thần (chức ngự sử) của
tiên triều, nghĩa không thể nín. Nay sắp dấy quân
giết Chỉnh, tìm lấy người hiền trong họ vua cháu
chúa mà lập lên để nối cơ nghiệp vua, chúa thuở
trước. Hẹn đến ngày mồng một tháng nọ sẽ kéo quân
qua sông Nhĩ Hà. Các vị hào kiệt bốn phương người
nào đồng chí với tôi, đều nên đúng hẹn họp quân,
hợp sức tiến đánh, công khôi phục kíp sớm hoàn thành,
nghĩa đồng hưu cùng ghi vĩnh viễn... "
Các thổ hào ở vùng Từ Sơn, Thuận Thành thấy lời
hịch chỉ trích nhà vua, giọng nói ngược ngạo, họ
bèn nói với nhau rằng: "Danh đã không chính
thì lời nói cũng không thuận, mà việc sẽ không thành.
Chúng mình đều là bề tôi của nhà vua, không nên
theo y để chuốc lấy vạ". Bởi vậy, chẳng một
người nào hưởng ứng với Tế; mà những người đã nhóm
họp với Tế rồi cũng rút về dần dần, thành ra người
giúp Tế càng ngày càng ít đi. Vả chăng bọn Tế, Vân
sẵn có tính tàn bạo, hay cướp bóc của nhân dân,
Nễ lại là tên ty bỉ dung tục, không hiểu biết gì,
nên ai cũng chán ghét.
Lúc bấy giờ có người giám sinh ở huyện Văn Giang,
bắt được tờ hịch của Tế, chạy lên báo với vua. Vua
xem hịch giận lắm, vội vàng cho gọi Chỉnh mà bảo
rằng:
- Trọng Tế xuất thân ở hàng tiến sĩ, sao lại được
khinh vua. Trước đây y đã gọi trẫm là vua "lông
đỏ" (ý nói Chiêu Thống theo Tây Sơn) và xé
tờ chỉ dụ của trẫm trước mặt sứ giả. Nay y lại viết
ra tờ hịch, không kiêng sợ gì cả. Thằng giặc ấy
mà không giết thì lấy gì để răn kẻ khác. Vậy phải
cho quân đi đánh ngay.
Chỉnh lạy hai lạy, vâng mệnh lui ra, rồi sai Nguyễn
Như Thái và Hoàng Viết Tuyển đem quân đi đánh Tế.
Lúc sắp đi, Chỉnh dặn họ rằng:
- Trọng Tế chiếm giữ vụng trộm mấy thôn ấp ở quê
mình, chẳng khác con cáo nương nơi gò cũ. Thứ quân
nhà quê của y cũng như bầy dê chăn ở ngoài đồng,
cầm roi mà đuổi là chạy, có cần gì phải đánh! Các
ông cứ gióng trống mở cờ, đến thẳng dưới luỹ. Chắc
hắn chỉ có hai cách: không hàng thì chạy. Hắn hàng
thì điệu ngay về, không được cướp bóc làng xóm.
Hắn chạy thì không cần đuổi tới cùng, sợ sinh ra
việc rắc rối khác. Ta nghe nói người vùng Kinh Bắc
oán hắn đến tận xương, hắn chạy đến đâu chắc không
có ai chứa chấp, sớm muộn thế nào họ cũng bắt hắn
đến cửa quân cho hắn nộp đầu mà thôi.
Thái, Tuyển vâng mệnh dẫn quân qua sông.
Tế nghe tin báo, liền gọi bọn Vân và Nễ bàn việc
chống cự. Vân nói:
- Giả sử Chỉnh tự đến đây, cũng không phải là kẻ
đối thủ của cháu, huống chi mấy thằng thiên tỳ (những
quan võ giúp việc cho chủ tướng) kia thì làm được
trò trống gì? Cứ cho chúng nó đến để chịu chết.
Chém đầu hai đứa ấy trước, rồi kéo tràn qua sông,
bắt Chỉnh và dựng nước đều ở cả một chuyến này.
Quan chú không phải lo lắng làm gì!
Tế mừng lắm, cho là phải, rồi cười nói:
- Cửa chùa đã có thiên thần hộ pháp, khắp ba ngàn
thế giới, mười lăm loài quỷ, tự nhiên đều phải lui
bước nghe theo. Đức Phật Thế tôn chỉ việc chắp tay
ngồi trên toà sen nhận lễ dâng cúng mà thôi.
Mậu Nễ cũng nói:
- Tôi xin sắp sẵn trâu rượu, chờ khi tới kinh mở
tiệc uống cho thật say. Lần này quan thầy sẽ là
đức Phật sống của nước Nam Việt, trăm nghìn Phật
La-hán chắc đều phải hiện chân thân để nghe ta chỉ
vẽ.
Chú cháu, thầy trò tâng bốc, khoe khoang lẫn nhau,
không còn để ý gì đến việc binh nữa. Chợt có tin
báo quân của Thái, Tuyển đã đến. Tế bèn lấy thanh
gươm trao cho Vân và nói:
- Kinh thư nói rằng: "Nãi ngôn để khả tích"
(nghĩa là: Lời ngươi đưa đến thành công). Phải nhớ
lấy nhé!
Vân lạy hai lạy, nhận gươm lui ra, rồi dẫn quân
lên mặt luỹ, phấp phỏng dòm ngó. Thấy thế quân của
Thái, Tuyển rất mạnh, Vân bắt đầu tỏ vẻ lo sợ. Vả
chăng, quân của Vân mới mộ, đều là hạng người ô
hợp chưa qua trận mạc bao giờ, tai mắt chưa quen
thuộc với chiêng trống cờ xí, họ tưởng đó cũng như
những đám rước thần, cúng Phật ở thôn quê mà thôi.
Vân tựa vào luỹ mà dàn trận. Thái, Tuyển chia quân
làm hai đường cùng đánh ập lại. Súng và hoả hổ cùng
nổ ran một lúc, xa gần rung động, khói lửa ngút
trời. Quân của Vân kinh hãi, tan vỡ, không sao ngăn
được. Vân hoảng hốt, cuống quít, không biết làm
thế nào, bèn cởi bỏ áo trận, rồi chạy trốn.
Trọng Tế ở trong đồn Lạc Đạo (tên xã, thuộc Gia
Lâm, Hà Nội) cho người đến dò, thì Vân đã bỏ đi
đâu mất, chỉ thấy hai đạo quân của Thái, Tuyển đang
trèo lên luỹ, chém giết tứ tung.
Người do thám sợ hãi chạy về báo tin, Tế nghe nói,
vội vàng đứng dậy, ruột gan rối bời, chưa biết tính
liệu ra sao? Lại thấy quân lính tan tác, mỗi người
chạy mỗi ngả, Tế trông trước, nhìn sau, chẳng biết
làm thế nào, bèn ngửa mặt lên trời, mà kêu rằng:
"Trời ơi, chỉ tại trời không phù hộ nhà chúa
cho nên mới đến thế này đây!".
Rồi Tế dẫn vài tên tay chân vượt luỹ chạy trốn.
Chập tối, Tế chạy đến làng Ngọc Xá (sau đổi là Yên
Xá, thuộc huyện Cẩm Giàng, Hải Dương (Hải Hưng))
thì Vân theo kịp. Đêm ấy chú cháu bàn với nhau vào
ngủ nhờ ở nhà một người dân trong làng. Vân nói
với Tế:
- Xin chú trước hết hãy vào Quế ổ ra mắt chúa,
chúa vốn tin và trọng chú, thấy chú chắc là mừng.
Hơn nữa, ở đó đều là những người võ biền, được chú
là văn thần bày mưu lập kế, chỉ huy mọi việc cho,
thế nào chúa cũng nghe theo. Nhân cơ hội ấy, mình
sẽ thu thập tàn quân để tính việc về sau. Chẳng
qua chỉ trong mươi ngày, thanh thế nổi lên là lại
có thể làm nên việc.
Tế nói:
- Không được! Trước đây chúa cho gọi ta, ta chối
không đến. Bây giờ thua trận mà đến, thì lấy cớ
gì mà nói! Vả chăng như thế thì còn mặt mũi nào?
Mà rồi những người ở Quế ổ còn coi ta ra gì? Trước
đây ta đã cộng sự với quận Nhưỡng, rất là tương
đắc. Nay nghe ông ta chiếm giữ vùng Hàm Giang, và
hiệu triệu nhân dân vùng Hải An, thủ hạ có tới vài
vạn, thuyền bè đầy sông. Ông ta là tay tướng giỏi,
ta nên đến ngay Hàm Giang, mưu tính với ông ta,
rồi xin chúa dời xa giá về đó, bọn người ở Quế ổ
không thể không theo chúa tới họp. Nhân đó ta bảo
họ nổi lên ở xứ bắc, cháu đem một cánh quân đi cùng
họ; quận Nhưỡng thì nổi lên ở xứ đông; ta thì phò
chúa đốc chiến. Các đạo hẹn nhau cùng cất quân trong
một ngày, việc lớn chắc có thể thành. Không như
trước đây, chỉ một toán quân chơ vơ, đến nỗi bị
giặc uy hiếp.
Vân nói:
- Phải lắm! Nhưng từ Ngọc Xá đến Hàm Giang, đường
sá xa xôi, mà mình chỉ có năm sáu người lủi thủi
đi đường, bộ dạng tiều tuỵ, trông chẳng ra sao.
Vả lại, vạn nhất xảy ra biến cố gì, giữa đường tay
không, lấy chi mà chống đỡ. Vậy cháu xin mộ lấy
dăm sáu chục tên lính, khí giới sắc bén, mở cờ gióng
trống mà đi; sớm lên đường chiều tới nơi, quận Nhưỡng
thấy thế cũng không đến nỗi khinh mình.
Tế nói:
- ý kiến của cháu cũng đúng. Cháu nên gấp rút đi
mộ quân lính, hẹn chiều tối hôm nay phải đến đây
ngay.
Không ngờ chú cháu y bàn luận cả đêm như thế, đều
bị người trong nhà nghe thấy hết và biết rõ chuyện.
Nửa đêm, họ liền đi báo với viên ấp trưởng. Sáng
dậy, khi Vân đã đi rồi, viên ấp trưởng liền đem
vài chục bộ hạ cầm khí giới và khiêng một cái cũi
đến, bảo với Tế rằng:
- Mời quan lớn vào trong này! Đã có quân của quận
Tuyển chờ ở gần đây, xin sẵn sàng hộ tống ngài về
kinh yết kiến cụ Bằng trung công.
Tế vờ thất kinh mà rằng:
- Các ông lầm rồi! Tôi là học trò xứ Hải Dương,
tới Như Kinh kiếm nơi dạy học, thình lình gặp việc
binh đao, nên lại trở về xứ đông, có việc gì mà
phải yết kiến bậc quý nhân trong triều?
Người ấp trưởng cười mà nói:
- Quan lớn đừng có dùng miệng lưỡi nói dối người
ta! Trước kia ngài đã bay lượn ở vùng Thăng Long,
gầm hét ở hạt Kinh Bắc, tự cho là người tài giỏi
độc nhất trong nước Nam. Học trò Hải Dương đâu có
khí thế ấy? Bây giờ xin mau mau vào cũi để họ khiêng
đi cho sớm. Đừng nhiều lời làm gì, mệt sức vô ích!
Rồi họ đẩy Tế vào cũi, giải đến dinh quân của Tuyển.
Những nơi cũi Tế đi qua, nhân dân đều đổ xô ra hai
bên vệ đường để xem. Có người gọi Tế mà bảo:
Ông nghè sao lại đến thế; tức thay thằng kẻ cướp
vô loại kia sao lại lọt lưới? (chỉ Dương Vân)
Trước đó, khi bọn Tuyển cầm quân ra đi, Chỉnh đã
có lời răn bảo. Đến lúc bắt sống được Tế rồi, Tuyển
liền đem quân thắng trận trở về, hết thảy đúng như
lời Chỉnh đã dặn.
Các quan trong triều đến dinh Chỉnh. Mừng việc
thắng trận, ai cũng tấm tắc khen ngợi và khâm phục.
Riêng Trần Công Xán lại nói:
- Không phải ông có tài tính liệu tình hình địch
mà chỉ vì Tế vô mưu "Giống vật thương tình
đồng loại" (dịch câu: "Vật thương kỳ loại",
câu này do ở thành ngữ Thố từ hồ bi, vật thương
kỳ loại, nguyên nghĩa là: "Con thỏ chết con
cáo buồn, giống vật thương tình đồng loại".
ý nói người ta thấy kẻ đồng loại gặp nạn thì cũng
buồn thương. Đây chỉ vào ý Xán mượn câu này để ngầm
tỏ ý nói Tế cũng là kẻ đáng thương) thật là đáng
buồn!
Chữ "vô mưu" ở đây là Trần Công Xán ám
chỉ việc Trọng Tế viết tờ hịch chỉ trích vua Lê
trước kia.
Vua nghe tin đã bắt được Tế, liền sai thảo bản
kể tội của Tế, để làm cho nghiêm chỉnh pháp điển.
Chỉnh tâu:
- Xin kéo hắn ra cửa Bắc mà chém đi là xong, chẳng
cần phải làm bẩn bút mực!
Phan Lê Phiên nói:
- Với tên giặc khác, cố nhiên nên như vậy. Nhưng
Tế là người học hành thi đỗ, xuất thân trong hàng
tiến sĩ mà dám làm việc phản nghịch như thế, thật
là kẻ tội nhân trong danh giáo. Sao được chết một
cách im lặng như vậy? Bởi thế, cần vâng theo chỉ
ý của hoàng thượng, nêu rõ tội ác của y, để cho
người khác thấy y mà biết răn mình, thì bọn ngang
ngược kia mới dẹp đi được.
Rồi Phiên cầm bút thảo lời "Luận tội"
dâng lên rằng:
"Làm tôi phản vua, trời đất không còn chỗ
chứa; mang tên là giặc, người nước cùng được giết
đi. Vậy phải đục bỏ tên trong bia tiến sĩ, dâng
tù trước nhà Thái-học, để tỏ rõ rằng y đã bị đuổi
ra ngoài hàng kẻ sĩ, khiến cho không làm nhơ danh
của nhà nho".
Vua truyền "được", rồi lập tức sai bọn
Tuyển mặc quần áo trận, bắt Tế đưa đến nhà Thái-học
phủ phục chịu tội, rồi điệu đến Trường thi võ mà
chém.
Sau đó, vua lại thăng thưởng quân công cho bọn
Tuyển, Thái, và theo thứ bậc mà ban cấp tiền bạc
cho các tướng sĩ.
Nhân việc này, triều thần lại kiến nghị tâu với
vua thăng cho Chỉnh lên tước công một chữ (theo
quan chế đời xưa, tước "một chữ" (nhất
tự) là cao quý hơn tước có nhiều chữ. Ví dụ; Bằng
công to hơn Bằng trung công), cho phép mở ra phủ
quân Vũ thành, đúc con dấu Vũ thành và để Viện xu
mật thống thuộc vào đấy. Chỉnh nhân dịp, liền tâu
xin cho con trai là Hữu Du làm chức doanh tướng,
coi lĩnh toán quân ấy.
Vua ưng cho.
Từ đó, những việc thuộc về quân sự, Chỉnh đều để
cho Du điều khiển lấy. Chỉnh lại xây dựng một toà
phủ ở phía đông chỗ ở của mình, nhà cửa rất mực
lộng lẫy để cho Du ở, theo như lệ "thế tử ra
ở phủ riêng" của chúa Trịnh ngày xưa. Bộ hạ
của Chỉnh nhân đó cậy thế làm nhiều điều phi pháp.
Bất cứ là nha môn nào hay việc gì, hễ đã thấy những
giấy tờ đưa đến, có đóng dấu quân Vũ thành, là không
ai dám trái lệnh. Vì thế, triều đình không còn kỷ
cương gì cả, mà lòng người cũng sinh ra chia lìa.
Người hiểu biết đều cho là thế nào cũng có loạn.
Có người cáo bệnh bỏ quan, tìm chốn nhàn tĩnh ở
nơi xó rừng, góc biển để tránh tai vạ.
Chỉnh cũng biết dư luận không ưa gì mình, muốn
mượn con đường khoa mục, thu nhặt nhân tài, để mua
chuộc lòng người làm chước yên lành về sau. Chỉnh
bèn bàn với Lê Phiên tâu xin theo phép "kén
học trò theo mười khoa" của Tư Mã Quang nhà
Tống, đặc cách mở một chế khoa (Chế khoa là khoa
thi do nhà vua tự ra đầu bài và tự chấm lấy văn.
Nhưng đời sau, những khoa thi mở bất thường cũng
đều gọi là chế khoa. - Đời Tống Triết-tông, Tư Mã
Quang xin vua cho đặt mười khoa (10 điều) để làm
tiêu chuẩn kén nho sĩ. Mười khoa đó đại để như sau:
Có nết; có tiết tháo; có mưu trí và sức khoẻ; thông
minh; ngay thẳng; thông kinh sử; học rộng biết nhiều,
v.v...). Các quan văn từ tam phẩm trở lên đều phải
tiến cử những người mình biết, rồi cho phép họ vào
trong sân điện, đối đáp những câu văn sách của nhà
vua hỏi. Khi ấy, các danh sĩ trong nước ai cũng
trau dồi chữ nghĩa và đức hạnh để chờ đợi ơn trên.
Cả những người làm quan rồi cũng đều hăng hái ứng
cử. Bấy giờ là tháng giêng mùa xuân, năm đầu niên
hiệu Chiêu-thống (1787).
Lúc đó có viên hiến phó là Ngô Tưởng Đào được cử
vào khoa "hiền lương phương chính", dâng
biểu cố từ như sau:
"Hiện nay, nhân sau khi sụp đổ, những việc
đáng cảm đáng than trong nước, kể không thể xiết.
Không phải chỉ có "một đau, hai khóc, ba thở
dài" (nói theo lời của Giả Nghị trong bài nói
về tình hình trị an đời Hán Văn-đế) mà thôi. Nếu
không có tài hơn đời thì sao có thể xoay chuyển
được thời thế. Nhưng những bậc kỳ tài, kỳ ngộ, phải
đâu hết thảy đều do khoa cử mà ra. Đời nếu có người
tài, bệ hạ nên dùng lễ mà mời ra như vua Thang mời
Y Doãn ở đất Sằn, vua Văn vương thăm Lã Thượng ở
sông Vị (Y Doãn là công thần đời nhà Thương, từng
cày ruộng ở đất Sằn, vua Thang ba lần đến mời ông
mới chịu ra giúp. - Lã Thượng tức Lã Vọng, công
thần đời nhà Chu, từng câu cá ở bờ sông Vị, vua
Văn vương đi săn bắt gặp, hết sức kính trọng, đón
lên xe mời về triều làm quân sư), ngõ hầu mới mời
được họ đến. Còn như thần đây lạm giữ một chức còn
sợ chưa nổi, dám đâu làm nhơ đến việc long trọng
này, để thương tổn đến sự sáng suốt trong việc cất
nhắc nhân tài của thánh triều".
Lê Phiên nghe bài biểu ấy nói với Công Xán rằng:
- Ông ta bảo cần phải có người có tài lạ, là muốn
nói nước giặc đang nhòm ngó ở bên ngoài, chẳng bao
lâu sẽ có nạn binh đao. Mình bỏ việc ấy không lo,
mà lại đi mở khoa thi kén học trò, để vờ làm ra
vẻ thái bình. Sợ khi quân Nam trở lại, không biết
dùng chước gì mà chống đỡ? Đó thật là cái lo trước
mắt!
Năm ấy, những kẻ vào điện thi để đối đáp văn sách,
có đến hai trăm người. Chỉnh muốn kén chọn cả loạt
để thu nhặt danh sĩ trong nước. Nhưng đến khi xướng
tên, thì hạng đúng tư cách thì đỗ chỉ có hai người
là Trần Bá Lãm và Nguyễn Gia Cát mà thôi. Chỉnh
có ý không bằng lòng, cho nên mùa đông năm ấy, Chỉnh
lại xin thi hội ở lầu Ngũ phượng, lấy bọn Bùi Dương
Lịch vào hạng tiến sĩ, tất cả mười lăm người. Nguyễn
Khuê là người bà con của Chỉnh, đỗ vào thứ tư, dự
luận trong ngoài có ý chê là tư vị.
Nhắc lại, khi Chỉnh ở Nghệ An về triều, được vua
trọng dụng, các thân thần, cựu thần của nhà vua
chẳng ai được ở trên Chỉnh. Vì vậy, Chỉnh làm việc
gì cũng trôi chảy, không còn lúc nào nghĩ đến tình
hình nước địch và công việc ở ngoài biên cương nữa.
Lúc ấy, những người ở ngoài đối địch với Chỉnh,
thì phía tây có quận Thạc, phía đông có quận Nhưỡng,
Chỉnh đều xem khinh. Mỗi khi chuyện trò với ai,
Chỉnh vẫn thường nói:
- Nhưỡng tuy là dòng nhà tướng, nhưng là người
thô lỗ, không thạo mưu cơ làm tướng. Xưa kia ở dưới
cửa tiên công (chỉ quận Huy), y vẫn coi ta là bậc
anh. Về sau vì sự gặp gỡ khác nhau, thành ra mỗi
người một ngả. Chắc Nhưỡng không dám tranh giành
với ta, mà ta cũng không nỡ đánh nhau với Nhưỡng,
hãy để y ra ngoài đã. Đến như quận Thạc thì chỉ
là người dũng mãnh, mà lúc gặp việc cần ứng biến
thì lại không phải là giỏi. Vả nay y đã tuổi già
sức yếu, nên cũng không đáng sợ nữa.
Vừa lúc ấy, có người thân của Chỉnh là Lệ Vũ ở
Sơn Tây về, nói với Chỉnh rằng:
- Quận Thạc trước đi Hưng Hoá, chiêu dụ mấy viên
quan Mường, mở lò đúc khí giới. Hiện nay đồ đảng
ở bốn trấn có đến vài vạn, ông ta đang truyền hịch
cho các thổ hào trấn Sơn Tây, hẹn ngày đem thủ hạ
vào kinh. Nghe đâu ông ta có sai người đem tờ biểu
bí mật dâng lên nhà vua, ông có biết không?
Chỉnh nói:
- Ta biết rồi. Trong tờ biểu, quận Thạc trình bày
rằng: "Trước đã trái luật làm tan mất quân
đội, sau vào bảo vệ kinh thành lại không nên công
trạng gì, nhờ hoàng thượng có lòng bao dong, lại
cho làm chức trấn thủ để cho bù lại tội xưa. Ngày
nay có lòng luyến nhớ cửa khuyết, lại sợ ý ấy chưa
được rõ ràng, kẻ không ưa sẽ được thế chỉ trích,
đổ cho tiếng xấu, nên còn dùng dằng chưa dám tới
ngay...". Hoàng thượng có đưa tờ biểu cho ta
xem. Ta đã đoán ngầm được ý của Thạc, chắc y không
dám dùng quân sự chống cự lại ta, mà chỉ muốn giảng
hoà. Y ở ngoài lâu ngày, tình thế cách trở, đâm
ra nghi hoặc, sợ hoàng thượng không tin dùng. Mà
đột ngột về kinh, thì lại sợ có ta ở trong triều,
chưa biết hoạ phúc thế nào, nên mới dâng trước tờ
biểu ấy để dò xem ý tứ của triều đình đó thôi. Ta
cũng muốn tâu xin hoàng thượng giáng chỉ triệu y,
nhân tiện ta gửi cho y một lá thư, nhưng khó kiếm
được người xứng đáng để sai đi. Người đã biết rõ
tình hình thì nên theo sứ giả của nhà vua mang thư
cùng đi.
Lệ Vũ xin vâng lời. Chỉnh bèn viết thư gửi cho
quận Thạc, đại lược như sau:
"Trước đây tướng quân lên miền thượng du,
xếp đặt công việc ngoài bờ cõi, trèo đèo vượt suối,
thật là vất vả. Nếu tướng quân có ý chuyên giữ một
phương để che chở cho miền tây, thì tôi xin đề đạt
ý ấy lên nhà vua, cho phép tướng quân tuỳ ý mà làm.
Nếu tướng quân cho rằng ở trong quân ngũ đã lâu,
sức lực suy yếu, muốn nghỉ việc quân cơ, thì tôi
dám đâu không giúp đỡ tướng quân chọn một địa vị
tốt đẹp để cho tướng quân giữ trọn công danh, làm
bậc túc tướng (vị tướng cũ đời trước còn lại) của
tiên triều? Kẻ đại trượng phu ở đời chỉ có hai con
đường là "hành" và "chỉ", cần
phải sơm sớm chọn lấy một. Mong tướng quân tính
liệu lấy".
Lúc mới nghe có mệnh lệnh nhà vua đòi, quận Thạc
liền ra ngoài sân để bái nhận và hạ lệnh cho tướng
tá kiểm điểm binh mã chờ ngày lên đường. Đến khi
mở thư Chỉnh ra, quận Thạc bỗng nổi giận bảo Lệ
Vũ:
- Mày là người riêng của Chỉnh phải không?
Sứ giả đỡ lời:
- Thư này Bằng công đã trình lên hoàng thượng xem;
như vậy, người đưa thư tức là do hoàng thượng sai
đi, không phải là người riêng.
Thạc nói:
- Tục ngữ có câu: "Bò con mới đẻ không biết
sợ cọp". Chính là bảo hạng người như Nguyễn
Hữu Chỉnh đây! Ta là con nhà võ biền, không biết
văn hoa che đậy, việc gì cũng cứ thẳng băng mà làm.
Điều gì không bằng lòng, chỉ biết có lưỡi gươm mà
thôi. Này ta nói cho các ngươi nghe: Nguyễn Hữu
Chỉnh trước thì phản bội nước nhà mà giúp Tây Sơn,
sau lại ở hai lòng với Tây Sơn mà chiếm giữ đất
Nghệ An. Đến khi Tây Sơn không nhìn nhận, người
Nghệ An không dong, mới quay về với hoàng thượng.
Các vị văn quan lại bị hắn lừa dối, để cho hắn có
thể mượn mệnh lệnh của nhà vua, sai khiến người
trong nước. Riêng có Dương Trọng Tế chống cự với
hắn, nhưng vì không rõ nghĩa lớn, cho nên hắn có
cớ mà nói. Quận Nhưỡng lại là bạn quen của hắn,
thành ra chỉ bay lượn ở vùng Hàm Giang, không dám
vượt lên một bước, tiến về kinh đô mà hỏi tội hắn.
Hiện nay, riêng ta thề lấy việc đánh Chỉnh làm trách
nhiệm của mình. Các ông hãy về bảo với Chỉnh rằng:
hắn quen dùng thói gian trá, giảo quyệt để lừa dối
người trong nước, nhưng lừa dối thế nào được ta
đây. Ta nay vâng chỉ về triều hỏi tội hắn. Nếu hắn
có thể đánh với ta, thì nên ra ngoài thành vài dặm
để chọi nhau cho tiện, đừng để kinh động đến cung
khuyết. Bằng không thì hắn nên ra chịu tội ở ngoài
cửa Đại Hưng, đã có triều đình xử trí.
Rồi đó, quận Thạc tiễn sứ giả về kinh, lại viết
tờ biểu "xuất sư" dâng lên nhà vua, đại
lược nói:
"Trước đây, thần vâng mệnh ra trấn Sơn Tây,
vừa lúc ấy Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An vào chầu.
Bệ hạ cho là Chỉnh có công tôn phò, nên giao việc
chính trị trong nước cho hắn. Đứa tiểu nhân đắc
chí, dần dà mưu đồ làm việc không hay. Cứ như ý
ngu của thần, thì Chỉnh không phải là người bề tôi
thuần thục, mà là một đứa tự mưu lợi riêng. Xem
việc hắn làm, giống như ma quỷ; xét bụng hắn nghĩ,
độc hơn hùm beo. Cúi xin bệ hạ xét rõ, cho phép
thần được trị hắn ngay từ lúc đầu, để hắn không
thể rông rỡ làm ác về sau, thì thật là phúc cho
xã tắc...".
Tiếp đó, quận Thạc đưa tờ hịch đến các lộ Quốc
Oai, Quảng Oai, kể rõ tội ác của Chỉnh, gọi Chỉnh
là tên giặc ở cạnh nhà vua, nguyền thế nào cũng
giết Chỉnh để triều đình được trong sạch.
Chỉnh nghe tin quận Thạc đem quân đến nổi giận
nói:
- Tên giặc già này thật đáng giết! Không muốn làm
người công danh ở thế gian, lại muốn theo gót thằng
Trọng Tế làm con ma phản nghịch ư?
Rồi Chỉnh vào tâu với vua, xin sai bộ tướng là
Lê Duật đem quân đi đánh quận Thạc: còn tự mình
đốc suất đội quân lớn theo sau tiếp ứng.
Duật đến làng Đại Phùng (thuộc huyện Đan Phượng,
Hà Đông, nay thuộc Hà Nội) thì quân quận Thạc cũng
vừa tới đó. Hai bên mới giao chiến được một trận
thì quân Duật chống không nổi đã vứt bỏ khí giới
mà chạy.
Con trai quận Thạc là Gia Vũ xin thừa thắng đuổi
tràn, khiến hậu quân của Chỉnh kinh sợ, để có thể
giữ được toàn thắng.
Quận Thạc không nghe và nói:
- Quân lệnh sớm nay đã truyền là đúng trưa họp
ăn ở làng Đại Phùng. Các quân lính đang đói mệt,
chờ đợi nghỉ ngơi ăn uống, thì quân giặc thình lình
kéo đến; ta mới vẫy quân một cái mà đã đánh lui
được chúng, bây giờ nên nhân đấy mà truyền cho quân
lính ăn cơm là phải. Nếu lại khua cho họ tiến lên,
chiều tối đến kinh thành, giặc tất nhiên dốc hết
quân ra liều chết mà đánh, lúc đó quân ta vừa mệt
vừa đói, lấy sức đâu mà chống? Binh pháp có nói:
"Quân đi hàng trăm dặm để kiếm lợi, sẽ què
thượng tướng"; đó là con đường nguy hiểm. Hãy
cứ nghỉ quân mà ăn uống, ăn rồi thúc trống tiến
lên, gặp giặc là đánh. Ăn no khí mạnh, lo gì không
thắng địch? Vả lại, ta bắt Chỉnh như bắt trẻ con,
có cần gì mà phải gấp vội để cho thất tín với quân
lệnh.
Quận Thạc bèn truyền lệnh khua chiêng cho quân
tạm nghỉ. Duật chạy đến nửa đường, ngoảnh lại trông
biết là quận Thạc không đuổi; lại sợ Chỉnh đến sẽ
bị quở phạt, liền thu quân, dàn thành trận, quay
trở lại đánh quận Thạc. Quân của quận Thạc đang
ngồi lên khí giới mà ăn, hàng ngũ lộn xộn chẳng
đâu vào đâu. Thấy quân Duật ào đến, quân quận Thạc
không kịp đánh lại, sợ hãi, tan vỡ, chạy tứ tung.
Lúc ấy quận Thạc đang ngồi trên đình Đại Phùng,
vội vàng trèo lên mình voi, thủ hạ chỉ còn vài chục
người, xúm quanh thân voi, ra sức mà đánh. Quận
Thạc ngồi trên bành voi, ném lao giết chết quân
Duật chừng vài trăm người. Duật không dám lại gần.
Chốc lát thấy Chỉnh đem đại quân kéo đến tiếp ứng,
Duật liền vẫy quân vây quanh voi của quận Thạc,
lấy giáo dài mà đâm. Quận Thạc co voi vào bãi cát,
rồi xuống voi nhảy phốc lên ngựa, múa đao chém vung
tàn tán, người ngựa qua lại như bay. Gia Vũ ở phía
sau trận phi ngựa hô tới, xông lên phía trước, lăn
xả vào đánh giết, làm bị thương quân địch rất nhiều.
Một viên tỳ tướng của quận Thạc là Hoàng Đăng, tập
hợp được vài trăm tên lính tản mát, cũng quay trở
lại hợp sức mà đánh, Chỉnh trông thấy thế, sợ quận
Thạc thoát thân được thì sẽ phi ngựa trốn mất, bèn
vẫy quân Thiết đột vây kín bốn mặt, nhắm vào ngựa
quận Thạc mà bắn. Ngựa què, quận Thạc bị Duật bắt
sống. Gia Vũ, Hoàng Đăng liệu chừng không thể chống
nổi, đều theo lối Thượng Hiệp (tên xã, thuộc Sơn
Tây. (Cũng ở gần vùng Đan Phượng)) mà tháo lui.
Trận này, quận Thạc tự mình đốc suất các phiên
thần Hưng Hoá, thổ mục Sơn Tây, lại hợp với quân
của cả hai trấn, khí giới rất là sắc bén. Sau khi
thua một trận, hết thảy đều bị thu bắt, không còn
sót một tý gì. Do đó, oai danh của Chỉnh rung động
khắp thiên hạ.
Tin thắng trận về đến kinh thành, các quan vào
mừng. Vua Lê miễn cưỡng ra ngự triều, rồi nói riêng
với Ngô Vi Quý rằng:
- Quận Thạc không phải là bề tôi bạo nghịch của
trẫm. Quận Thạc còn sống thì tên gian hùng kia (chỉ
Nguyễn Hữu Chỉnh) còn e sợ, nay chẳng may mà chết,
trẫm rất thương xót, còn mừng nỗi gì?
Tiếp đó, Chỉnh rút quân về và giải quận Thạc vào
kinh thành tâu xin đem chém.
Vua khuyên Chỉnh rằng:
- Quận Thạc trọng về phần nghĩa nhiều, mà ít hiểu
về phần lý, cho nên danh với thực không xứng với
nhau, hình tích khó mà rõ rệt. Nay thua trận bị
bắt, phép vẫn nên chém. Nhưng nghĩ lại lúc Trọng
Tế thả quân vây bức kinh thành, trẫm đứng chơ vơ
một mình trong điện suýt nữa mắc phải tai biến bất
trắc; nếu không có quận Thạc, làm gì có ngày nay?
Theo như phép "Bát nghị" (theo sách Chu
lễ, hình phạt có "Bát nghị" (tám phép
bàn), chia ra tám loại người thân của vua, người
có công, người có tài, người quý hiển v.v... để
xét xử phân biệt khác nhau mà định cách giảm tội)
Lòng trẫm thật không nỡ, nên bài lại để cho tỏ rõ
cái ơn nghĩ đến công trạng hồi xưa.
Chỉnh đối với quận Thạc từ trước vốn không có hiềm
thù gì, nay đánh một trận mà thắng, khí tức cũng
đã hả, lại nghe lời vua khuyên dụ, bèn xin giao
cho triều đình bàn lại.
Ngự sử là Ngô Trọng Khuê thảo lời nghị tội khác,
trong có câu:
"Làm quan chống lại mệnh lệnh của triều đình,
tội vẫn đáng chém; nhưng đem công mà bù với tội,
thì sự chết cũng nên có lễ...".
Vua bèn sai đưa quận Thạc ra ngoài cửa Tây, cho
uống thuốc độc.
Quận Thạc lạy hai lạy, rồi uống thuốc độc mà chết.
Lúc quận Thạc mới bị giải vào thành, nhân dân kinh
đô xúm lại xem. Quận Thạc nói:
- Ta là tên tướng già Hoàng Phùng Cơ đây. Cha con
một nhà đã có sáu người chết vì việc nước. Phải,
trái đã có công luận. Thành, bại là bởi lòng trời.
Ta không giết được Nguyễn Hữu Chỉnh, thế nào Tây
Sơn cũng sẽ giết hắn. Đạo trời báo ứng không bao
giờ sai; chỉ tiếc rằng ta không kịp trông thấy mà
thôi.
Sau khi quận Thạc chết, thi hài được đem về chôn
ở Sơn Tây, quân và dân ai cũng chảy nước mắt.
Lại nói, Nguyễn Hữu Chỉnh nắm hết quyền bính trong
nước, việc gì cũng tự tay của y mà ra. Càng ngày
y càng lộng hành, lòng người lìa tan, quan văn quan
võ, ai cũng chán nản. Người nào theo lẽ công, giữ
phép nước, đều bị bọn tướng sĩ cơ Vũ thành của Chỉnh
quấy nhiễu. Người nào khảng khái dám nói thì nhiều
khi bị chúng làm hại, tai hoạ xảy ra bất ngờ không
sao mà lường được. Bởi thế, thường thường ai cũng
kiêng nói. Cũng có người đã cáo bệnh, trả lại ấn
tín, bỏ về nơi làng xóm.
Bọn hào mục gian ác ở đâu thì tụ họp ở đấy, rồi
đi cướp bóc lẫn nhau. Ngoài thành vài dặm, đều là
hang ổ của bọn trộm cướp.
Vua Lê lấy thế làm lo, bèn vời viên tham tụng cũ
là Bùi Huy Bích vào triều để hỏi về việc thiên hạ.
Bích sợ Chỉnh không dám nói gì, chỉ từ tạ mà rằng:
- Thần may được thi đỗ, nhưng không có tài giúp
đời trị nước. Chúa Trịnh xưa cất nhắc thần làm việc
trong chính phủ; lính kiêu dân oán, quân giặc lấn
cướp, thần không có một chước gì để cứu vãn. Kinh
thành bị hãm, chúa soái mắc nạn, cái tội làm lầm
lỡ việc nước ấy, thần thật khó lòng mà trốn tránh.
Nay nước nhà đã nhất thống, chính sự ban đầu đang
sáng suốt, bệ hạ hãy nên tìm lấy những người tài
giỏi khác. Còn như thần đây, thì dám đâu lại làm
nhơ đến triều đình, để lỡ việc thiên hạ? Cúi xin
bệ hạ cho thần được lui về nơi ruộng đồng, làng
xóm.
Lúc lui ra, Bích bảo riêng với người thân tín rằng:
- Thiên hạ sắp loạn mất rồi! Từ đây ta cũng bỏ
mà đi thôi.
Rồi đó, ông ta đem cả gia quyến dời sang xứ đông.
Viên đốc đồng trấn Nghệ An là Phạm Huy Khiêm cũng
bỏ quan đi lên vùng thượng du huyện Thanh Chương
mưu đồ việc khởi quân cần vương. Khiêm có đưa tờ
hịch kể tội của Chỉnh, nhưng việc chưa thành thì
đã chết (Huy Khiêm (có người đọc là Vĩ Khiêm, tức
Phạm Nguyễn Du)).
Bấy giờ, trong bọn sĩ phu tại chức, lại có hạng
người khác, nặng lòng công danh, lấy việc dẹp loạn,
phò nguy làm trách nhiệm của mình. Họ tụ tập các
người đồng chí, chiêu mộ quân lính nghĩa dũng. Hào
kiệt bốn phương, khi nhận được chỉ thư, cũng theo
lời hiệu triệu mà đến với họ. Những đám như vậy,
khắp nơi đều có.
Viên đốc trấn Cao Bằng là Lưu Tiệp (có bản chép
là Lưu Côn, Lưu Tiệp quê ở làng Nguyệt áng, huyện
Thanh Trì, Hà Nội) nhận tờ mật chỉ của chúa Trịnh.
Còn viên đốc đồng là Nguyễn Hàn (Nguyễn Hàn quê
ở xã Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, Tiệp và Hàn đều đỗ
tiến sĩ) lại nhận tờ mật chỉ của vua Lê. Cả hai
đều khuyên dỗ bọn phiên mục ở trấn ấy giúp sức,
rồi lại cấp phát phù tín, sắm sửa khí giới cho họ,
và dặn họ sẵn sàng chờ lệnh đòi gọi. Lúc bấy giờ
một trấn Cao Bằng, chia làm hai đảng. Kẻ theo tiết
chế của viên đốc trấn, thì không biết có viên đốc
đồng. Người theo ước thúc của viên đốc đồng, thì
lại không biết có viên đốc trấn. Hai người ai ở
dinh nấy, không chịu họp chung với nhau. Tiếng là
đồng liêu với nhau, thật ra chỉ là thù địch.
Tiệp ngầm sai viên phiên thuộc của mình đem thủ
hạ về trá hàng Nguyễn Hàn, rồi lại cho người tới
cầu hoà để đòi lại viên phiên thuộc cùng bọn đầu
hàng ấy. Hàn không biết là mẹo lừa, cứ nhận bọn
đầu hàng mà cự lời xin của Tiệp. Tiệp liền đem quân
vây đánh Hàn. Bọn trá hàng bấy giờ mới nổi lên làm
nội ứng cho Tiệp, quân của Hàn tức thì rối loạn
tan vỡ. Hàn hoảng sợ vội vàng bỏ chạy, bị giết chết
liền. Vợ con của Hàn ở trong dinh cũng đều bị giết
tất cả. Do đó, trấn Cao Bằng rối loạn lung tung.
Bọn hào mục kẻ nào giữ ấp trại của kẻ nấy, rồi đem
quân đánh giết lẫn nhau. Tiệp cũng không thể ngăn
nổi.
Cùng lúc đó, Hà Quốc Ký ở Lạng Sơn, Triệu Văn Khương
ở Thái Nguyên, Hoàng Văn Đồng ở Tuyên Quang, Đinh
Văn Hồ ở Hưng Hoá và các tù trưởng ở vùng Phù Sương,
Tây Lĩnh cũng đua theo, đâu đó đều chống lại mệnh
lệnh của triều đình, quan lại ở trấn có người cũng
bị chúng đuổi. Khắp trong bốn cõi không còn có chỗ
nào yên tĩnh.
Thật là:
Quạ cáo tranh nhau, không đáng ngại.
Cọp, rồng đánh lộn, mới ghê thay!
Chưa biết đại thể ra sao? Hãy chờ hồi sau phân
giải.
Hồi
thứ nhất | Hồi thứ hai
| Hồi thứ ba |
Hồi thứ tư |
Hồi thứ năm |
Hồi thứ sáu | Hồi thứ
bảy | Hồi thứ tám |
Hồi thứ chín | Hồi
thứ 10 | Hồi thứ 11
| Hồi thứ 12 |
Hồi thứ 13 | Hồi thứ
14 | Hồi thứ 15 |
Hồi thứ 16 | Hồi thứ
17

XEM
TIẾP
|