| Hoàng Lê
nhất thống chí
Ngô gia văn phái
Hồi thứ nhất
Đặng Tuyên Phi được yêu dấu, đứng đầu hậu cung
Vương Thế Tử bị truất ngôi, ra ở nhà kín.
Triều Lê Trang tông Dụ hoàng đế (Tức Lê Trang Tông,
tên là Duy Ninh (1533-1548). Các chú thích từ đây
trở đi đều của người dịch) trung hưng cơ nghiệp
ở sông Tất Mã (Tức sông Mã ở Thanh Hoá). Bấy giờ
Thế tổ Minh khang thái vương Trịnh Kiểm làm phụ
chính, giúp vua dẹp yên được đảng họ Mạc và trở
lại kinh đô cũ. Rồi từ đó, họ Trịnh đời đời kế tiếp
tước vương, nắm giữ hết quyền bính trong tay, hoàng
gia mỗi ngày một suy yếu dần.
Truyền đến đời Hiển tông Vĩnh hoàng đế, niên hiệu
Cảnh hưng (1740-1786), thì Thánh tổ Thịnh vương
(Tức Trịnh Sâm, mới lên ngôi chúa) chuyên quyền
cậy thế, làm oai làm phúc; vua Lê chỉ còn biết chắp
tay rủ áo mà thôi.
Thịnh vương là người cứng rắn, thông minh, quyết
đoán sáng suốt, trí tuệ hơn người, có đủ tài về
văn lẫn võ, đã xem khắp kinh sử, biết làm văn làm
thơ. Sau khi Thịnh vương lên nối ngôi chúa, từ kỷ
cương trong triều đến chính trị trong nước, hết
thảy đều được sửa đổi; bao nhiêu tướng giặc, đảng
nghịch, đều lần lượt bị dẹp tan, Chúa có cái chí
muốn làm bá chủ, nào diệt giặc Trấn Ninh, nào phá
bọn Công Chất [đây là hai cuộc khởi nghĩa nông dân
lớn ở thế kỷ 18. Cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật
ở vùng Thanh-Nghệ, lấy Trấn Ninh làm căn cứ, kéo
dài 32 năm (1738-1770). Cuộc khởi nghĩa của Hoàng
Công Chất ở vùng Sơn Nam và Tây Bắc, kéo dài 30
năm (1739-1769)], quân nhà chúa đã đến, không chỗ
nào là không thắng. Lúc đó bốn phương yên ổn, kho
đụn đầy đủ, chúa dần dần sinh bụng kiêu căng, xa
xỉ, phi tần thị nữ kén vào rất nhiều, mặc ý vui
chơi thoả thích.
Một hôm, tiệp dư (Một cấp bực của vợ vua, dưới
bậc phi) Trần Thị Vịnh sai nữ tỳ Đặng Thị Huệ bưng
một khay hoa đến trước nơi chúa ngồi. ả họ Đặng
này, quê ở làng Phù Đổng, mắt phượng mày ngài, vẻ
người mười phần xinh đẹp. Chúa nom thấy rất bằng
lòng, bèn tư thông với ả.
Từ đó, Thị Huệ càng ngày càng được nhà chúa yêu
quí, ả nói gì chúa cũng nghe và hễ có việc gì là
chúa cũng bàn với ả. Rồi ả được ở chung một nơi
với chúa, y như một cặp vợ chồng nhà thường dân.
Xe kiệu, quần áo của ả cũng đều được sắm sửa hệt
như đồ dùng của chúa.
Thị Huệ từ lúc được nhà chúa chiều chuộng, hơi
có vẻ lộng hành. Hễ có chuyện gì không vừa ý, là
ả xây xẩm mặt mày, rồi kêu khóc thảm thiết để làm
rối lòng chúa.
Chúa có một viên ngọc dạ quang, lấy được trong
khi đánh dẹp phương Nam, vẫn xâu ở trên đầu khăn
làm đồ trang sức. Một hôm Thị Huệ lấy tay mân mê
viên ngọc. Chúa nói:
- Nhè nhẹ tay chứ, đừng làm ngọc sây sát!
Thị Huệ bèn ném viên ngọc xuống đất mà khóc rằng:
- Làm gì cái hạt ngọc này! Chẳng qua vào Quảng
Nam kiếm giả chúa hạt khác là cùng. Sao chúa nỡ
trọng của khinh người như vậy?
Rồi ả tự ý bỏ ra ở cung khác, từ chối không gặp
chúa nữa. Chúa phải dùng nhiều cách dỗ dành cho
ả vui lòng, lúc ấy ả mới chịu làm lành với chúa.
Kịp đến khi Thị Huệ có mang, chúa liền sai người
đi lễ khắp trăm thần để cầu sinh con thánh. Đến
kỳ, ả sinh được một trai, vào năm Đinh Dậu, niên
hiệu Cảnh hưng 38 (1777). Chúa hết sức yêu mến đứa
bé, lúc đầy trăm ngày, chúa lấy tên của mình lúc
nhỏ là Cán mà đặt cho nó, để tỏ ra nó cũng giống
mình.
Khoa thi hương năm ấy, chúa lấy hai câu: "Sơn
xuyên anh dục, hà hải tú chung" (Nghĩa là:
"Khí thiêng của sông núi tụ lại, sự tốt đẹp
của hồ biển đúc nên", ý muốn chỉ về Trịnh Cán),
để làm đề thi. Các quan văn võ đưa đón ý chúa, cũng
có nhiều kẻ lấy chữ: "Tính huy hải nhuận"
(nghĩa là: "Sao sáng, biển hoà" tức là
điềm sinh ra bậc thánh) làm câu chúc mừng.
Lúc vương tử Cán đầy tuổi tôi, cốt cách tướng mạo
khôi ngô, đẫy đà, khác hẳn người thường. Đến khi
biết nói, vương tử Cán đối đáp gãy gọn, cử chỉ không
khác gì người lớn. Mỗi khi các quan văn võ vào thăm,
vương tử tiếp đón với dáng bộ nghiêm chỉnh. Có người
cách hàng năm mới gặp, vương tử cũng vẫn nhớ rõ
họ, tên, kể lại chuyện cũ vanh vách. Chúa sai quan
từ hàn làm bài tụng 16 chữ, để viên a bảo (viên
quan trông nom việc nuôi nấng, dạy dỗ con cái của
vua chúa) dạy truyền miệng cho vương tử. Vương tử
chỉ nghe qua một lượt là đọc thuộc liền. Thấy vậy
chúa càng quí vương tử Cán bội phần.
Cũng do đó, Thị Huệ mới ngầm có ý muốn cướp ngôi
thế tử.
Lại nói, lúc ấy chúa đã có thế tử là Trịnh Tông
(sau đổi là Trịnh Khải), do thái phi họ Dương đẻ
ra. Thái phi tên là Ngọc Hoan, người ở làng Long
Phúc, huyện Thạch Hà. Chị nàng là cung tần của Ân
vương (cha Thịnh vương, tức là Trịnh Doanh), sinh
ra Thuỵ quận công, được Ân vương hết sức yêu quí.
Nhờ chị, thái phi được kén vào làm cung tần của
Thịnh vương. Nhưng từ sau khi vào cung, nàng vẫn
ngày đêm sống cô quạnh. Bỗng một đêm, nàng nằm mơ
thấy vị thần đem cho tấm đoạn có vẽ đầu rồng. Nàng
không hiểu đó là điềm gì, đem hỏi viên quan hầu
là Khê trung hầu. Khê trung hầu biết chắc là điềm
sinh thánh.
Hôm sau, chúa cho vời cung tần Ngọc Khoan vào hầu.
Khê trung hầu cố ý giả làm nghe lầm, đưa ngay thái
phi Ngọc Hoan đến. Thấy nàng, chúa có vẻ không thích,
nhưng đã chót gọi đến, không nỡ đuổi ra. Sau đó
chúa đòi Khê trung hầu vào trách mắng. Khê trung
hầu cúi đầu tạ tội, đoạn thuật rõ đầu đuôi chuyện
thái phi nằm mơ cho chúa nghe. Chúa cũng nín lặng
không nói sao cả.
Thái phi trải qua một trận mưa móc, liền có thai
ngay. Đến kỳ, nàng sinh ra một trai. Năm Quí-mùi,
Cảnh hưng 24 (1763).
Chúa tự nghĩ đầu rồng tuy có khí tượng làm vua,
nhưng là rồng vẽ không phải rồng thật, mà lại chỉ
có đầu không có đuôi, như vậy chưa hẳn đã là điềm
tốt cả. Vả lại ở triều trước, Trịnh Cối, Trịnh Lệ
(Trịnh Cối là con Trịnh Kiểm, Trịnh Lệ là con Trịnh
Doanh. Hai người này đều mưu đồ giành ngôi chúa,
nhưng đều thất bại) cũng do người Long Phúc đẻ ra
và đều mưu sự phản nghịch mà không thành.
Do đó, chúa có ý không vui. Các quan văn võ vào
chúc mừng, chúa lấy cớ rằng đứa con ấy không phải
là vợ cả đẻ ra, từ chối không nhận lời mừng.
Khi thế tử Tông đã lớn, dung mạo rất khôi ngô mà
chúa cũng chẳng yêu chiều gì mấy.
Tính thế tử ham võ nghệ, không thích học hành.
Năm lên bảy tuổi, chúa sai Nguyễn Khản (Nguyễn Khản
là con Nguyễn Nghiễm, người huyện Nghi Xuân Nghệ
Tĩnh có sách chép là Nguyễn Lệ) tiến sĩ khoa Canh-thìn
(1760), làm tả tư giảng, và Trần Thản, tiến sĩ khoa
Kỷ-sửu (1769), làm hữu tư giảng để rèn tập cho thế
tử. Nhưng chẳng bao lâu, Thản chết. Còn Khản thì
đang được chúa tin dùng, phải quán xuyến mọi công
việc trong ngoài, nên cũng không mấy khi đến được
chốn "màn giảng", chỉ có năm sáu viên
tuỳ giảng bảo ban việc học cho thế tử theo như nếp
cũ mà thôi. Chuyện đó chúa cũng có biết phần nào,
nên lại càng không bằng lòng.
Theo lệ cũ, người con trai nối ngôi chúa hễ đến
mười hai tuổi thì phải ra ở Đông cung. Bấy giờ các
quan cũng có tâu trình việc ấy; song chúa không
cho, bắt thế tử phải đến ở tại nhà riêng của quan
a bảo là Hân quận công (Nguyễn Đĩnh). Như vậy, ngôi
đông cung vẫn bỏ trống, như có ý chờ đợi người khác.
Đến năm thế tử mười lăm tuổi, thì con nhỏ là vương
tử Cán ra đời, chúa hết sức yêu dấu đứa con nhỏ
đó. Ba năm sau, thế tử đúng mười tám tuổi. Theo
lệ cũ, thế tử đáng được mở phủ riêng; nhưng bấy
giờ các quan chẳng ai dám tâu bày, mà chúa cũng
không hề nhắc tới việc ấy.
Như thế là người nối ngôi vẫn chưa định, nên lòng
người rất phân vân. Hễ ai thuộc về thế tử Tông thì
hùa theo thế tử Tông, ai thuộc đảng Thị Huệ thì
vào phe vương tử Cán. Trong phủ chúa dần dần sinh
ra bè nọ cánh kia.
Thị Huệ cho rằng thế tử Tông đã khôn lớn, lông
cánh đã đủ; mà con mình hãy còn trứng nước, nên
càng mưu mô để gây thêm thế lực.
Khi ấy Huy quận công Hoàng Tố Lý (nguyên trước
là Hoàng Đăng Bảo) đang có danh vọng lớn, thường
dựa vào sự giúp đỡ của Thị Huệ; mà Thị Huệ thường
cũng lấy quận Huy làm chỗ nhờ cậy bên ngoài. Quận
Huy người làng Phụng Công, là cháu Bình Nam thượng
tướng quân Việp quận công là Hoàng Ngũ Phúc, vẻ
người thanh dật, là tay văn võ toàn tài. Khoa thi
hương năm ất-dậu (1765), Huy đi thi được trúng cách;
đến khoa thi võ năm Bính-tuất (1766) Huy lại đỗ
luôn tạo sĩ. Hồi ấy Ân vương còn đang trọng dụng
quận Việp, mới gả con gái thứ cho quận Huy.
Uy quyền quận Việp mỗi ngày một lớn. Có người ngờ
sẽ xảy ra điều gì bất trắc, hoặc cũng có kẻ bảo
quận Việp sắp lấy thiên hạ để truyền cho quận Huy.
Căn cứ vào lời sấm hồi ấy có câu: "Nhất thỉ
trục quần dương". (Một con lợn đuổi đàn dê);
có kẻ tán rằng: Thỉ tức là quận Huy, bởi vì quận
Huy tuổi hợi (thuộc lợn), mà dương đây chỉ vào chúa
và thế tử, vì cả hai đều tuổi mùi (thuộc dê). Rồi
những kẻ hiếu sự lại còn đặt ra câu sấm: "Thảo
nhất điền bát" (Cỏ một, ruộng tám) để chỉ vào
chữ Hoàng (thảo nhất điền bát chắp lại thành chữ
Hoàng chỉ Hoàng Ngũ Phúc). Có kẻ lại nói: "Thổ
sất vân gian nguyệt, hoàng hoa ánh nhật hương".
(Mảnh đất sánh trăng trong mây; hoa cúc ánh hương
mặt trời). Thổ, sất, nguyệt là chữ tế (chữ tế nghĩa
là con rể, chỉ quận Huy). Hoàng, hoa, nhật là chữ
Việp (Chữ Việp gồm chữ hoa và chữ nhất, còn chữ
Hoàng là họ Hoàng), chỉ quận Việp. Thêm nữa, tên
cũ của quận Huy là Đăng Bảo (Có nghĩa là: lên ngôi
báu) người ta cũng lấy đó để dị nghị. Vì vậy quận
Việp muốn tránh sự hiềm nghi ấy mới bảo quận Huy
đổi tên Đăng Bảo ra Tố Lý.
Sau quận Việp lấy cớ mắc bệnh đau mắt để xin từ
chức, chuyện ấy chẳng nhắc làm gì nữa.
Lại nói năm Giáp-ngọ (1774), quận Việp phụng mệnh
kéo quân vào đánh trong Nam, có đem quận Huy đi
theo. Quận Huy vốn đã học được phép dùng binh gia
truyền của quận Việp, nên được các tướng tá rất
sợ phục. Huy lại khéo cắt đặt nhân tài, nên các
tay hào kiệt đều vui lòng chịu sai khiến. Huy có
công luôn luôn phá được quân địch, tiếng tăm mỗi
ngày một lẫy lừng. Khi dẹp yên được xứ Thuận Hoá
thì quận Việp qua đời. Chúa bèn giao luôn cho quận
Huy quản lĩnh số quân của quận Việp, và cho làm
trấn thủ Nghệ An.
Đóng ở trấn Nghệ An. Huy ra sức tiêu diệt trộm
cướp, cấm đổi tiền (đổi tiền đẹp để tích trữ, làm
cho tiền khan hiếm), trấn áp cường hào, ngăn chặn
việc kiện cáo, làm cho trong hạt rất thịnh vượng,
Huy lại thu dụng những kẻ anh tài, đặt ra nhiều
chức liêu thuộc. Dưới trướng ông ta có những tên
như tả, hữu tham quân chẳng hạn. Thế là thiên hạ
lại ồn ào lên, đồn rằng quận Huy sắp sửa làm phản.
Chúa nghe tiếng, ngày ngày cùng viên triều thần
tin cẩn là Nguyễn Khản và quan thế tử a bảo Hân
quận công Nguyễn Đĩnh bàn cách giết Huy. Trong lúc
bàn bạc, ba người vẫn dùng tiếng lóng "chữ
thập" để chỉ quận Huy. Vì chữ thập cũng na
ná chữ nghệ (chữ thập xoay chéo thành chữ nghệ viết
tắt) là trấn Nghệ An, nơi quận Huy đóng quân.
Họ thường đuổi mọi người đi để bí mật bàn bạc,
chỉ có Thị Huệ là biết được.
Công chúa vợ quận Huy, ngày đêm ra vào trong phủ
luồn lọt Thị Huệ; Thị Huệ mới đem việc kín nói cho
công chúa nghe. Quận Huy trong dạ không yên, dâng
thư xin về triều. Chúa cho phép ngay.
Huy nghĩ rằng Thị Huệ tuy được chúa yêu, nhưng
con trai của Thị Huệ còn nhỏ, trong khi đó thế tử
đã lớn rồi, hùa theo Thị Huệ e không phải là kế
lâu bền. Vì vậy, sau khi đã vào hầu chúa, Huy liền
lấy châu báu đút lót cho những kẻ chân tay của thế
tử, để xin nương tựa vào thế tử. Rồi Huy lại đem
một trăm lạng vàng và mười tấm đoạn Nam Kinh làm
lễ yết kiến, để xin vào ra mắt thế tử. Nhưng thế
tử không nhận đồ lễ, cũng không cho vào gặp, nói
riêng với bọn hầu cận rằng:
Thằng giặc ấy sao không ở trấn làm phản, mà lại
vội về triều? Rồi đây ta sẽ tịch thu hết cả gia
sản nhà nó, cần gì đồ lễ của nó bây giờ!
Quận Huy biết thế tử không dung mình, bèn quyết
ý hùa theo Thị Huệ và âm thầm có chí phế lập.
Huy đem dâng ngôi nhà cũ của quận Việp cho vương
tử Cán làm dinh thự. Từ đó, Huy thành ra người riêng
của Thị Huệ. Mà trước mặt chúa, Thị Huệ cũng hết
sức bao che cho Huy. Do đó, quận Huy được vào chính
phủ (phủ của chúa Trịnh để phân biệt với triều đình
của vua Lê) mở dinh quân Trung nhuệ, coi việc trong
phủ, đồng thời kiêm lĩnh chức trấn thủ trấn Sơn
Nam (địa bàn của Sơn Nam thời Lê gồm: Hà Đông, Hà
Nam, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình), Quận Huy và
Thị Huệ, trong ngoài liên kết với nhau, thế lực
nghiêng cả thiên hạ. Các viên quan võ như chức cai
cơ, trấn thủ, đều do cửa của họ mà ra. Lúc ấy, duy
chỉ có Hồng lĩnh hầu Nguyễn Khản, trấn thủ Sơn Tây
hiện đang làm tả tư giảng cho thế tử, và Tuân sinh
hầu Nguyễn Khắc Tuân, trấn thủ Kinh Bắc tức con
nuôi của Hân quận công, hiện đang làm a bảo cho
thế tử, là còn dám có ý kia khác với quận Huy mà
thôi. Như vậy là cái thế bè đảng đã thành rồi.
Lại nói, từ khi vương tử Cán sinh ra, thế tử Tông
có ý rất tức bực, chỉ sợ mình không được lập làm
chúa. Thế tử cùng với bọn gia thần là mấy tên hầu
Thế Thọ, Thẩm Thọ... nho sinh Đàm Xuân Thụ và tên
xuất thân tạp lưu (là hạng thư lại không đỗ đạt
gì, không do chính ngạch mà ra) Vĩnh Vũ, ngày đêm
bàn mưu, lo lắng không biết nên làm thế nào.
Vừa lúc đó, chứng bệnh cũ của chúa lại phát, bệnh
tình rất nguy kịch. Một đêm thế tử bỗng mơ thấy
mình mặc áo chầu chàm, đội mũ chữ đinh, đứng ở phủ
đường. Sáng mai thế tử kể lại với bọn gia thần và
nói:
- Ta mơ như vậy là điềm có tang, trong cung nay
mai chắc sẽ có biến; ta phải sớm lo liệu trước mới
được.
Bọn tôi tớ ấy liền khuyên thế tử nên ngấm ngầm
sắm sửa binh khí, chiêu mộ dũng sĩ; một mai trong
cung xảy ra chuyện chẳng lành, thì cứ việc đóng
chặt cổng thành, giết quận Huy, và bắt giữ cả hai
mẹ con Thị Huệ, khiến vương tử Cán không thể lên
ngôi chúa. Mặt khác báo cho hai trấn Tây, Bắc (Sơn
Tây, Kinh Bắc) đem quân vào kinh, bắt ép các đại
thần để dựng thế tử lên ngôi chúa.
Thế tử nghe theo và phao lên rằng mình sắp được
lệnh đem quân vào đánh miền Nam. Rồi thế tử lại
sai người báo ngầm cho Khê trung hầu, giao một ngàn
lạng bạc cho nho sinh Đàm Xuân Thụ để Thụ phân phát
cho bọn tay chân đi mua sắm vũ khí. Tiếp đó, thế
tử mật báo cho các viên trấn thủ ở hai trấn Tây,
Bắc, chiêu tập dũng sĩ.
Thế tử cắt đặt xong thì bệnh của chúa cũng vừa
khỏi, việc ấy bị tiết lộ. Hồi đó, có Nguyễn Huy
Bá người ở Gia Lâm (làng Phú Thị, huyện Gia Lâm)
tính tình nham hiểm, giảo hoạt, thường vẫn quen
thói tố giác kẻ khác để kiếm quan chức. Năm trước,
chính vì Bá đã tố cáo âm mưu nổi loạn của Nguyễn
Huy Cơ và Thuỵ quận công (Thuỵ quận công tức Trịnh
Lệ con Trịnh Doanh, định giành ngôi chúa với Trịnh
Sâm) mà y được làm chức tham nghị ở trấn Sơn Nam,
dần dà, y ngoi lên chức tiến triều (những người
không đỗ tiến sĩ mà được làm quan ở sáu bộ thì gọi
là tiến triều), rồi lại thăng tới chức đốc đồng
ở trấn Thái Nguyên. Lúc này vì có lỗi bị cách chức,
y đang nóng lòng mong lại được ra làm quan. Y bèn
sai con dâu cả vào làm đày tớ cho Thị Huệ; rồi thường
nhặt nhạnh những chuyện chơi bời đùa nghịch của
Tông, xui con dâu kể lại cho Thị Huệ để nịnh nọt,
lấy lòng. Mặt khác, y lại ngầm sai người nhà tin
cậy tới làm bộ hạ của hai viên trấn quan Tây, Bắc
để dò xét tình hình. Đến lúc ấy, y đã nắm được phần
nào sự việc của bọn này, liền vào báo với Thị Huệ.
Thị Huệ đem việc đó bàn với quận Huy. Huy bảo Huy
Bá viết bức thư kín, rồi Huy tự bỏ vào trong tay
áo, đi đến phủ chúa, đuổi hết những người chung
quanh, đem thư ra trình chúa.
Chúa xem xong, cả giận, định sai người giao xuống
trị tội tức khắc. Quận Huy can rằng:
- Thế tử quả là có lỗi, nhưng sở dĩ thế tử dám
làm chuyện to lớn như thế chính là do hai viên trấn
thủ Tây, Bắc chủ mưu. Nay hai viên ấy hãy còn cầm
quyền ở ngoài, nếu vội vã trừng trị thế tử, e sẽ
có biến khác. Chẳng thà trước hết hãy gọi hai viên
ấy về triều, giam cả ở trong phủ, rồi bấy giờ hãy
tuyên bố tội trạng và trừng trị một thể.
Chúa cho là phải. Hôm sau chúa đòi thế tử vào cung,
vờ quở mắng về việc xao nhãng học hành, rồi bắt
thế tử phải đến ở trong một ngôi nhà ba gian trong
Trạch các. Lại sai tiến sĩ khoa Bính-tuất (1766)
là Nguyễn Quýnh làm tả tư giảng, và tiến sĩ khoa
Mậu-tuất (1778) là Nguyễn Đích làm hữu tư giảng.
Rồi sau đó chúa cho đòi hai viên trấn thủ Tây, Bắc
về triều; bữa ấy nhằm ngày 15 tháng 8 năm Canh tý
niên hiệu Cảnh hưng (1780).
Lại nói, lúc ấy ở trấn Kinh Bắc (địa bàn Kinh Bắc
gồm: Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên) có viên đốc
đồng là Ngô Thì Nhậm (người làng Tả Thanh Oai, huyện
Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, con Ngô Thì Sỹ, sau làm
quan với Tây Sơn), tiến sĩ khoa ất-mùi (1775) vốn
là gia thần và tuỳ-giảng của thế tử, thường vẫn
rất ăn ý với trấn thủ Tuân sinh hầu (Nguyễn Khắc
Tuân). Về phía Tuân, không việc gì là không bàn
với Nhậm, duy chỉ có việc âm mưu của thế tử là Tuân
không hề nói đến. Trước đó mấy ngày, Sơn Thọ (có
sách chép Hà Như Sơn) là gia thần của thế tử, lại
từng là học trò của Nhậm, được thế tử sai đến kể
rõ mưu mô của thế tử cho Nhậm biết; rồi lại ngầm
ra lệnh cho Nhậm phái người cất lẻn lên vùng Lạng
Sơn mua ngựa tốt để dùng vào việc binh. Thì Nhậm
hoảng sợ nói:
- Thế tử là người sẽ nối ngôi chúa, mà nước là
nước của thế tử, lo gì mất ngôi mà phải lập mưu
ấy? Đây ắt lại do bọn tôi tớ xúi giục. Thế tử trẻ
người hăng máu, suy nghĩ chưa chín chắn, nên mới
nghe theo họ. Chúa thượng là người xét đoán sáng
suốt, há lại che giấu được ngài ư? E rằng tai hoạ
sẽ xảy ra lúc nào không biết, bọn gia thần của thế
tử rồi không còn đất gửi thân đâu.
Đoạn Thì Nhậm vội vã sang kể hết tình đầu cho Khắc
Tuân nghe, và khuyên Tuân phải hoả tốc về kinh,
can ngăn thế tử đừng làm việc đó, để tránh tai vạ
sau này.
Khắc Tuân không nghe, nói rằng:
- Tiểu chức này với quan lớn, chỉ biết việc tuần
phòng khám xét; ngoài ra những việc không dính líu
đến ta, thì không nên hé răng.
Thì Nhậm thở dài mà về.
Mấy ngày sau, quả nhiên có lệnh đòi Khắc Tuân và
Thì Nhậm. Hai người vội vàng cùng đi. Tới kinh,
họ thấy trấn thủ Sơn Tây (Hồng lĩnh hầu Nguyễn Khản)
và a bảo Hân quận công (Nguyễn Đĩnh) đều đã bị triệu
về, còn đang ngồi đợi tội ở nhà Tả-xuyên. Khắc Tuân
xin vào điếm Quyển-bồng gặp chúa, nhưng chúa không
cho vào, sai viên quan hầu là Quyến trung hầu ra
trách Khắc Tuân rằng:
- Cậu và thằng Tông đã muốn làm giặc thì cậu cứ
việc ra mà sắp sẵn binh mã, đây ta đã có các tướng
mạnh để đối địch với cậu!
Khắc Tuân quay ra, gặp Thì Nhậm ở điếm Tiểu-bút,
Tuân cầm tay Nhậm than:
- Tôi thờ chúa từ khi lọt lòng đến giờ, nay chúa
gọi tôi là giặc. Hôm nọ quan lớn nói chuyện tôi
cứ cho làm thường, nay việc đã như thế, tính sao
bây giờ?
Thì Nhậm cũng hoảng hốt chẳng biết trả lời thế
nào.
Khắc Tuân liền làm tờ khải, cung khai hết những
việc trước rồi nhờ Quyến trung hầu đưa vào dâng
chúa. Nhưng chúa đang giận, không xem, lại sai Quyến
trung hầu đem tờ khải ra xé trước mặt Khắc Tuân.
Khắc Tuân lượm lấy tờ khải bị xé ấy mà ra, nhưng
sợ hãi luống cuống chẳng biết đi đường nào.
Viên trấn thủ Sơn Tây lúc ấy cũng rất lo sợ, có
điều muốn nói mà không dám tự bày tỏ. Ông ta bèn
cùng Khắc Tuân nói với Thì Nhậm:
Bọn tôi ở ngôi trọng yếu mà bị lời gièm pha nặng
nề, bây giờ dù có nói gì, chúa cũng chẳng tin. Ngài
nên đem những điều nghe thấy viết một tờ khải, đổ
tội cho lũ tôi tớ, như vậy may ra bọn tôi mới khỏi
bị oan, mà thế tử cũng sẽ được an toàn không việc
gì.
Thì Nhậm bất đắc dĩ phải làm theo ý hai người.
Chẳng ngờ chúa nhận được tờ khải, lại càng giận
dữ nói:
- Quả như lời nói của người ta không sai!
Rồi chúa sai Thì Nhậm và bọn quan hầu là Ngạn triêu
hầu, Đường trung hầu, án trung hầu cùng tra xét
vụ án đó.
Thì Nhậm cùng bọn quan hầu định tìm cách gỡ tội
cho Khắc Tuân và viên trấn thủ Sơn Tây, nhưng vì
nhà có tang Nhậm phải bỏ việc quan mà về [Nhậm về
chịu tang cha là Ngô Thì Sĩ. Theo Việt sử thông
giám cương mục (sau đây gọi tắt là Cương mục) thì
chính Nhậm hợp mưu cùng Huy Bá để tố cáo việc của
Tông và Khắc Tuân. Ngô Thì Sĩ đã cố sức can mà nhậm
vẫn không nghe. Sau khi nghe tin Nhậm đã phát giác
việc ấy, Sĩ buồn bực, bèn uống thuốc độc tự tử.
Nhậm vì có công tố giác, được thăng hữu thị lang
bộ Công. Do đó, người đương thời có câu rằng: "Sát
tứ phụ nhi thị lang" giết 4người cha để làm
thị lang). Bốn cha là: Sĩ, thân phụ; Tông, quân
phụ; Khắc Tuân, và Xuân Hán, phụ chấp (bạn của bố).
Có thuyết lại nói tứ phụ là Sỹ và Nguyễn Khản, Phương
Định, Khắc Tuân ba người bạn của bố].
Chúa bèn giao cho viên đồng tham tụng là Nghĩa
phái hầu Lê Quí Đôn, bảng nhãn khoa Nhâm-thân (1752)
làm thay việc tra xét. Cuối cùng, nắm được hết tình
hình tội trạng, chúa liền gọi các chính thần vào
cung vừa khóc vừa nói:
- Quả nhân không may gặp phải thằng con bất hiếu,
lũ bầy tôi bất trung, chúng ngầm mưu việc phản nghịch;
hình tích cũng giống như vụ Thừa Kiền, nhưng tâm
địa thì tệ hơn nhiều. Việc bỏ con cả lập con thứ
là bất đắc dĩ. Các ngươi cũng nên hiểu rõ bụng ta,
cứ theo phép nước mà định tội chúng nó đi!
Các quan trong triều bàn rằng: mấy tên phạm tội
đều nên xử tử, còn riêng về thế tử thì không dám
bàn.
Lời bàn đó dâng lên, chúa cầm bút phê rằng:
"Cứ xét theo nghĩa của kinh Xuân-thu thì phải
trị tội tên Tông thật nặng. Nhưng nghĩ tình cha
con ruột thịt không nỡ như thế, vậy nên truất nó
xuống làm con út, trọn đời giữ đạo làm tôi. Còn
bọn các quan, thì viên trấn thủ Sơn Tây và Khê trung
hầu, vốn đã theo hầu ta từ lúc chưa lên ngôi, cũng
có công lao, đặc ân cho được tự liệu lấy. Riêng
a bảo Hân quận công là người thật thà không tham
dự và mưu đó cũng được tha tội chết, nhưng phải
cách chức xuống làm dân thường".
Mệnh lệnh ban xuống, Khê trung hầu và Tuân sinh
hầu đều uống thuốc độc tự tử.
Dưới trướng Tuân sinh hầu có viên văn thư là Nguyễn
Quốc Trấn cũng bị tội lây với chủ, phải ghép án
tử hình. Lúc sắp bị chém, Quốc Trấn quát lớn:
- Trời không có mắt, triều đình không có quan,
nỡ để Quốc Trấn mắc oan.
Rồi Trấn dặn người thân thuộc để giấy bút vào tay
áo mình và nói thêm:
- Sống đã không bày tỏ nỗi oan được, chết phải
kiện ở âm phủ.
Mọi người nghe câu nói đó, ai cũng thương xót cảm
động.
Thế tử Tông bị truất rồi, chúa bắt cứ phải ở trong
ngôi nhà ba gian, cho người giám sát chặt chẽ; phàm
những việc ăn uống Tông đều không được tự do. Bọn
gia thần của Tông cũng không được phép ra vào thăm
hỏi. Do đó, phe đảng của thế tử, mỗi người lẩn trốn
đi mỗi nơi.
Còn phe cánh của Thị Huệ thì mỗi ngày một mạnh.
Các quan lớn nhỏ không ai là không nịnh nọt, hùa
theo, mà nhà chúa cũng càng trọng ả hơn trước.
Thừa dịp ấy, Thị Huệ bèn hỏi con gái chúa là công
chúa Ngọc Lan cho em trai mình là Đặng Mậu Lân.
Công chúa này tên chữ là Ngọc Thuyên, là cô con
gái yêu quý nhất của chúa. Nguyên chính phi họ Hoàng
sinh được hai nàng công chúa. Cô lớn là công chúa
Ngọc Anh, tên chữ là Ngọc Loan, đã gả cho Đương
trung hầu Bùi Thế Toại, con trai cả của Đoan quận
công Bùi Danh Đạt làm trấn thủ Nghệ An trước kia.
Còn Ngọc Lan là cô thứ hai, chưa có chồng, được
chúa rất yêu chiều.
Ngọc Lan vóc người yếu đuối, từ nhỏ vẫn ở trong
cung thuỷ tinh, kiêng nắng, kiêng gió. Nơi Ngọc
Lan ở, chúa bắt thị tỳ phải nói năng sẽ sàng để
cho nàng khỏi giật mình. Khi Ngọc Lan đã lớn, mỗi
lần vào thăm chúa, chúa đều cho phép cùng ngồi với
mình như lúc nàng còn bé. Phàm những điều Ngọc Lan
cầu xin chúa, không có lời nào là không đắt. Các
quan vào hàng công thần, quí tộc, nhiều người đã
tới cầu hôn, nhưng chúa chưa hứa gả cho ai. Đã có
lần chúa hạ chiếu chỉ cho các quan văn võ, cùng
con cháu các dòng họ công thần vào phủ để cho công
chúa tự kén chọn. Chúa bảo công chúa hễ chọn được
ai vừa ý thì chúa sẽ gả cho người đó. Nhưng Ngọc
Lan vẫn chưa kén được ai vừa lòng.
Đến nay, Thị Huệ cầu hôn cho em trai, chúa sợ mất
lòng ả ta, bất đắc dĩ mà phải gượng nhận lời.
Lại nói, Đặng Mậu Lân này vốn là một tên hung bạo;
từ khi Thị Huệ được chúa yêu dấu Lân lại càng ỷ
vào thế chị để làm những việc càn rỡ. Hết thảy áo
quần, xe kiệu của y, nhất nhất đều rập kiểu theo
đúng như của vua chúa. Thường ngày, Lân vẫn đem
theo vài chục tên tay sai, cầm gươm vác giáo đi
nghênh ngang khắp kinh ấp. Hễ gặp xe kiệu, bất kỳ
là của đám quan quân nào, Lân cũng đều cà khịa đánh
nhau làm cho họ nhục nhã, rồi lấy thế làm thích
thú. Gặp đàn bà con gái giữa đường, hễ người nào
trông vừa mắt, tức thì Lân sai tay chân quây màn
trướng ngay tại chỗ, rồi lôi người ấy vào hiếp liền.
Ai không chịu, Lân xẻo luôn đầu vú. Chồng hoặc cha
kẻ bị nạn, nếu dám hé răng kêu ca, lập tức Lân sai
quân vặn gãy răng, hoặc cũng có người bị đánh đến
chết. Người thiên hạ sợ Lân hơn sợ beo sói.
Chúa cũng biết thế, nên tuy đã trót nhận lời gả
công chúa cho Lân mà trong bụng vẫn còn có ý thương
tiếc. Vả lại chúa nghĩ, công chúa người yếu ớt,
mảnh khảnh, không thể chịu nổi một tên đàn ông cường
bạo như thế. Nến đến ngày về nhà Lân, chúa lấy cớ
rằng công chúa chưa từng lên đậu lên sởi, để không
cho phép Lân hợp cẩn (Theo lễ xưa, đêm tân hôn vợ
chồng uống chung một chén rượu, gọi là hợp cẩn).
Rồi chúa sai quan a bảo cùng nhiều thị nữ đi theo
để hộ vệ công chúa. Tiếp đó, chúa lại phái thêm
cả viên nội sai là Sử trung hầu đến làm giám chế,
không cho Lân xâm phạm tới công chúa.
Thật là:
ái ân, cô gái không e sợ
Hoan hỉ, chàng trai lại dở dang.
Chưa biết việc tới thế nào? Hãy xem hồi sau phân
giải
Hồi
thứ nhất | Hồi thứ hai
| Hồi thứ ba |
Hồi thứ tư |
Hồi thứ năm |
Hồi thứ sáu | Hồi thứ
bảy | Hồi thứ tám |
Hồi thứ chín | Hồi
thứ 10 | Hồi thứ 11
| Hồi thứ 12 |
Hồi thứ 13 | Hồi thứ
14 | Hồi thứ 15 |
Hồi thứ 16 | Hồi thứ
17

XEM
TIẾP
|