THIỀN
ĐẠI THỪA
Tâm Thái
Theo Thiền sư Tôn
Mật, đời Ðường, thì có thể phân chia Thiền làm 5
loại, trong đó có 3 loại thực sự theo đúng đường
lối tu hành của đạo Phật là : Thiền Nguyên thủy
(Tiểu thừa ), Thiền Ðại thừa, và Thiền Như Lai tối
thượng. Thiền không những là một pháp môn chánh
của Phật giáo, mà còn là cơ sở của tư tưởng Phật
giáo. "Phật giáo ly khai Thiền quán thì Phật
giáo sẽ mất hết sinh khí" (trích: Ðại thừa
Phật giáo Tư tưởng luận". Dù tu theo Nguyên
thủy hay Ðại thừa thì cũng đều áp dụng pháp Thiền,
nhưng tới Ðại thừa lại phân làm Thiền Ðại thừa và
Thiền Như Lai tối thượng (cũng còn được gọi là Thiền
Tổ sư, Thiền Như Lai thanh tịnh ... nhưng tên thường
dùng nhất là Thiền tông, vì là một trong mười tông
của Ðại thừa). Cuốn "Ðại thừa Phật giáo Tư
tưởng luận" đã phân tách một cách gọn gàng
sự khác biệt của Thiền tông đối với các môn Thiền
khác của Ðại thừa: "Thiền tông lấy phương diện
hoạt động hiện thực làm chủ nghĩa để phát khởi.
Ðó là đặc sắc rất lớn của Ðạt Ma Thiền, đã từ các
Thiền phái làm nổi bật một sắc thái riêng để rồi
không bao lâu đã trở thành một phái độc lập".
Bài này trình bày về Thiền Ðại thừa, còn Thiền tông
sẽ được trình bày trong bài khác. Thiền Ðại thừa
gồm những pháp Thiền trích từ các kinh Ðại thừa,
vì vậy cuốn "Phật học Phổ thông, khóa V"
có kể ra những pháp Thiền như "Pháp hoa tam
muội, Niệm Phật tam muội, Giác ý tam muội, Thủ lăng
nghiêm tam muội ... ". Nói chung về bất cứ
pháp Thiền nào cũng có hai phần là: Chỉ và Quán.
"Chỉ" (samatha) được coi như phần hình
thức của Thiền, có tính cách tiêu cực, cốt để giữ
cho thân và tinh thần không tán loạn, dao động.
"Quán" (vipassana) là phần nội dung của
Thiền, có tính cách tích cực, cốt để "thống
nhất tinh thần, triệt để tập trung chú ý, chuyên
tư duy về một vấn đề nào đó, để cuối cùng đi đến
sự dung hòa với toàn ý thức." Có thể nói là
tu Chỉ để được Ðịnh, tu Quán để được Huệ. Trong
đạo Phật thì Giới, Ðịnh và Huệ là ba điều căn bản,
vì vậy nên Thiền, bao gồm Ðịnh và Huệ, được coi
là căn bản trong việc tu theo đạo Phật vậy. Về Thiền
Ðại thừa thì cần tìm hiểu pháp hành Thiền trong
các kinh điển. Tu theo Ðại thừa tức tu theo hạnh
Bồ tát, căn cứ theo Lục độ Ba la mật. Lục độ Ba
la mật gồm có sáu điều là: Bố thí, Trì giới, Nhẫn
nhục, Tinh tiến, Thiền định và Trí huệ. Cuốn "Phật
học Phổ thông, khóa thứ IV" có giảng nghĩa
Thiền định như sau : "Tập trung tâm ý vào một
đối tượng duy nhất không cho tán loạn, để tâm thể
được vắng lặng và cho tâm dụng được mạnh mẽ hầu
quan sát và suy nghiệm chân lý" (trang 110).
Sau đây là phần trích dẫn pháp tu Thiền được chỉ
dẫn trong một số kinh điển chính của Ðại thừa:
Kinh Thủ lăng nghiêm:
Trong kinh Thủ lăng
nghiêm (Surangama sutra), đức Phật nói với ngài
A Nan: "ba nghĩa quyết định của sự tu hành,
đó là thu nhiếp cái tâm gọi là Giới, nhân Giới mà
sanh Ðịnh, nhân Ðịnh mà phát Tuệ, thế gọi là ba
pháp Vô lậu học" (trang 677).
Nếu không có Thiền
định thì không có Trí huệ được, cho nên Thiền định
là căn bản của Lục độ. Trong Thiền Ðại thừa thì
pháp Chỉ không được chú trọng nhiều vì cũng áp dụng
gần như pháp Chỉ của Thiền Nguyên Thủy. Ðại thừa
đặt trọng tâm về vấn đề Quán, cho nên cũng gọi là
Thiền Quán, và không có một pháp Quán cố định nên
khó có thể kể hết các pháp Thiền của Ðại thừa. Trong
kinh Thủ lăng nghiêm khi ngài A Nan hỏi về pháp
tu nào để mau được giải thoát, ra khỏi vòng sanh
tử luân hồi, thì đức Phật chỉ cho pháp tu "Như
huyễn Tam ma đề", (Tam ma đề là phiên âm của
Samadhi, có nghĩa là định, chánh định) :
" Ấy gọi là
Như huyễn Tam ma đề,
Bảo giác chắc như Kim cương vương,
Không nhiễm, tịnh như diệu liên hoa,
Gẩy ngón tay, vượt hàng vô học;
Pháp ấy không gì so sánh được,
Là một đường thẳng vào Niết bàn,
Của các đức Thế tôn mười phương."
Pháp quán "Như
huyễn" được cư sĩ Tâm Minh giảng trong cuốn
kinh đó là "quán tất cả các pháp thế gian và
xuất thế gian đều như huyễn, hình như có, chứ không
thật có, nghĩa là, đem tính như huyễn mà lan khắp,
mà in vào các pháp; ngoài tính như huyễn ra, không
còn một pháp nào nữa" (trang 480). Có điểm
nên được đặc biệt lưu ý trong mấy câu kệ trên là
nếu tu được pháp này thì chỉ trong thời gian gẩy
ngón tay là vượt hàng vô học. Khi đức Phật giảng
kinh Lăng Nghiêm thì ngài A Nan chỉ mới chứng quả
Tu đà hoàn (trang 419), tức là mới bước đầu trong
bốn quả của hàng Thanh Văn. Mục đích cứu cánh trong
hàng Thanh Văn là đắc A la hán, được coi là bậc
"Vô học", tức là không còn có gì phải
học nữa, còn ba bậc dưới gọi là "hữu học".
Như vậy thì đức Phật nói rõ là tu được pháp đó thì
chỉ trong thời gian gẩy ngón tay là ngài A Nan có
thể từ bực thấp nhất vượt ngay tới bậc cao nhất
trong hàng Thanh văn. Ðiều đó chứng tỏ sự quan trọng
của pháp tu này và cũng chỉ rõ một điểm nữa là việc
tu hành không nhất thiết phải theo từng thứ bực.
Những thứ bực được nói trong các kinh chỉ là phương
tiện để mô tả mức độ nhận thức của người tu. Ðường
tu không phải là một trường học với những lớp học
có thứ tự để tốt nghiệp. Có những người phải học
đến a tăng kỳ kiếp (số kiếp vô kể) mới tốt nghiệp.
Nhưng nói theo thế gian, cũng có những người "nhẩy
lớp" trong thời gian gẩy ngón tay vậy. Phương
pháp "nhẩy lớp", theo danh từ đạo Phật
là "đốn ngộ", đã được đức Phật chỉ cho
ngài A Nan trong kinh này là pháp Quán Như huyễn.
Tuy vậy nhưng cũng
nên lưu ý là mặc dầu có nhiều đệ tử của đức Phật
thời đó đã chứng đắc mau chóng, (như trường hợp
năm đệ tử đầu tiên của đức Phật là nhóm đạo sĩ Kiều
Trần Như, chỉ sau khi được nghe hai bài thuyết pháp
đã chứng quả A la hán liền), nhưng cũng có những
người như ngài A Nan, mặc dầu là người thông minh,
hiểu biết rất nhiều về giáo lý vì luôn theo sát
đức Phật tới mấy chục năm, mà rồi đến khi đức Phật
nhập Niết bàn mà ngài cũng chưa đạt được quả A la
hán. Cho nên nói "có thứ lớp" hay "không
có thứ lớp" cũng tùy căn cơ mỗi người, không
nên cố chấp vào một ý kiến mà sanh ra bàn cãi.
Trong kinh Kim cang,
đức Phật cũng nói về pháp quán Như huyễn trong bài
kệ chót của kinh như sau :
"Tất cả pháp
hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt bóng,
Như sương cũng như điển,
Nên khởi quán như thế."
(Kinh Kim cang giảng giải)
Kinh Lăng Nghiêm
không chỉ nói riêng về pháp Quán Như huyễn mà còn
kể đến rất nhiều pháp Quán khác. Cả thảy 25 vị Ðại
bồ tát (kể cả các Bồ tát Di Lặc, Quán Thế Âm, Phổ
Hiền, Ðại Thế Chí ... ) và A la hán mỗi người đều
lần lượt trình bày pháp tu riêng của mình, và được
đức Phật công nhận là "không có hơn kém, trước
sau gì khác nhau" (trang 599). Thí dụ ngài
Nguyệt quang đồng tử tu theo pháp quán thủy để vào
Tam ma đề. Ngài quán cho đến khi thấy thân mình
và các chất lỏng trong mình cùng nước ở khắp thế
giới đồng một tính chân không, không hai, không
khác và "được pháp vô sinh nhẫn, viên mãn đạo
Bồ đề". Như vậy cho thấy không phải có một
pháp quán cố định để tu hành chứng đắc, nhưng tùy
căn cơ mà áp dụng pháp quán thích hợp.
Kinh Viên giác :
Trong phần mở đầu
kinh Viên giác, đức Phật đã nói tới pháp "Như
huyễn Tam muội" giống như kinh Thủ lăng nghiêm.
Sau đó trong chương VII (Oai Ðức Tự Tại), đức Phật
đã chỉ rõ ràng phương pháp tu tập để chứng nhập
được tánh Viên giác "Vì trình độ của chúng
sanh không đồng, nên các phương tiện trở về tánh
Viên giác có sai khác, nhưng không ngoài ba phương
tiện sau này " . Ba pháp tu đó là : pháp Xa
ma tha (tức tu Chỉ), pháp Tam ma bát đề (tức tu
Quán) và pháp Thiền na (tức Chỉ, Quán đồng tu).
Pháp tu Chỉ nói trong kinh này là "giữ cái
hạnh yên lặng và lóng các vọng niệm", khi "các
giác quan vọng thức phiền động đã lặng rồi thì trí
huệ thanh tịnh phát sanh". Pháp tu Quán : "quán
sát tâm tánh, thân căn và trần cảnh này đều là vật
huyễn hóa", "Ban đầu quán cảnh là huyễn,
nhưng người quán chưa phải huyễn; sau người quán
cũng là huyễn và cuối cùng hoàn toàn xa lìa các
tướng huyễn". Pháp tu Thiền na là : "không
chấp thủ pháp Quán Như huyễn, cũng không chấp pháp
Chỉ tịch tịnh. Bồ tát biết rõ thân tâm này đều là
vật ngăn ngại, còn tánh Viên giác thì không bị các
vật làm chướng ngại, nó vẫn thọ dụng thế giới và
thân tâm ở trong cõi trần này, mà không bị cảnh
trần ràng buộc, dù phiền não hay Niết bàn cũng không
làm lưu ngại được nó". Khi thực hành thì không
nhất thiết chọn một trong ba pháp tu đó, mà theo
trong kinh, có 25 cách tu gồm việc chọn riêng một
trong ba pháp đó, hoặc chọn hai hay ba pháp cùng
lúc, và thứ tự pháp nào tu trước, pháp nào sau.
Thí dụ cách thứ 14 là tu Quán trước, sau tu Thiền
na, sau hết tu Chỉ. Cách thứ 22: trước tu Thiền
na, sau đồng tu Chỉ và Quán. Nhân đây cũng nên nhắc
qua về tính cách quan trọng của kinh Viên giác.
Ðiểm cần chú ý là kinh này nói về việc đức Phật
giảng dạy cho các vị đại Bồ tát (100.000 vị cả thảy),
chứ không có hàng Thanh Văn. Mục đích của kinh được
thể hiện trong câu thỉnh mở đầu của Bồ tát Văn Thù
Sư Lợi : xin đức Phật dạy cho các Bồ tát trong hội
"phải dựa theo pháp nào, tu theo hạnh gì mà
được thành Phật". Như vậy mục đích của kinh
"Viên Giác" là để chỉ cho các Bồ tát và
chúng sinh rõ việc tu hành để đạt mục đích tối hậu
của đạo Phật là "thành Phật", tức thành
người giác ngộ và giải thoát. Sau đó đức Phật chỉ
dạy cho Bồ tát Phổ Hiền về phương pháp để đạt tới
mục đích thành Phật là quán các pháp "như huyễn".
Một khi "biết được các pháp hư huyễn tức là
lìa được các huyễn, chớ không phải có phương tiện
gì khác. Lìa được các huyễn tức là Giác, cũng không
có lớp lang tuần tự gì." Có thể nói pháp tu
này là cứu cánh, không còn là phương tiện như nhiều
kinh khác, pháp tu này đi thẳng tới mục đích mà
không còn nói tới tuần tự, thứ lớp như các pháp
tu hành khác. Trọng tâm của pháp tu theo kinh Viên
Giác chính là pháp quán Như huyễn, không khác với
kinh Thủ lăng nghiêm, nhưng với chi tiết rõ ràng
trong việc thực hành.
Kinh Quán Vô Lượng
Thọ:
Tịnh Ðộ Tông có bốn
pháp tu là : Quán tưởng, Quán tượng, Trì danh và
Thật tướng. Pháp tu thịnh hành nhất là Trì danh.
Bốn pháp tu gồm có: (1) Pháp Quán tưởng là quán
các tướng tốt hoặc quán toàn thân Phật, kinh Quán
Vô Lượng Thọ chỉ rõ pháp quán này. (2) Pháp Quán
tượng là quán hình tượng Phật được họa hoặc đúc.
(3) Pháp Trì danh gồm chuyên niệm danh hiệu một
đức Phật, thường là đức Phật A Di Ðà. (4) Pháp Thật
tướng là quán tự thân của mình cũng là tự tánh chân
thật của các pháp. Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói về
việc đức Phật chỉ dạy cho bà hoàng hậu Vi Ðề Hy
pháp tu để thấy được thế giới Cực Lạc ở phương Tây
"như người cầm gương sáng tự trông thấy mặt
mình." Ðức Phật chỉ cho bà 16 phép quán: (1)
quán mặt trời sắp lặn, (2) quán nước đóng thành
băng, (3) quán cảnh tướng trên dưới đất lưu ly,
... (16) quán sanh về hạ phẩm. Nhờ pháp tu này mà
bà Vi Ðề Hy đại ngộ và chứng vô sanh pháp nhẫn,
được đức Phật thọ ký vãng sanh. Nói tóm lại pháp
Thiền Ðại thừa đặt nặng về vấn đề Thiền Quán, nhưng
không có một pháp quán nào nhất định vì tùy căn
cơ mỗi người mà tu theo pháp quán thích hợp. Nhưng
pháp quán được nhắc tới nhiều lần là pháp Quán Như
Huyễn, theo các kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kim Cang và
Viên Giác.
Bất cứ pháp môn nào
trong đạo Phật, dù thuộc Nguyên thủy hay Ðại thừa,
thì cũng đều áp dụng Thiền, chỉ có khác nhau về
phương pháp. Tu Chỉ thì được Ðịnh và tu Quán thì
được Huệ. Ngay trong đạo Phật nhiều người cũng hiểu
lầm và cho rằng khi tu được Ðịnh là đương nhiên
có Huệ. Ngoại đạo cũng đạt tới mức Ðịnh rất cao,
nhưng thiếu Huệ nên họ không thể chứng đắc đạo quả.
Trong kinh nói Huệ tức nói Trí Huệ, là độ thứ sáu
của Lục độ Ba la mật. Trí Huệ là khả năng thấy rõ
, hiểu biết sự vật một cách thấu đáo, tinh tường,
đúng như thật. Khi nói về Trí Huệ cũng nên thận
trọng về định nghĩa, tùy theo đứng về quan điểm
Nguyên thủy hay Ðại thừa. Con đường từ Ðịnh đến
Huệ không hẳn giản dị, dễ dàng, mà cần nhiều tinh
tấn và nhất là phải biết rõ đường nào là đúng. Vì
vậy Thiền Ðại thừa đặt trọng tâm vào Thiền Quán,
nếu không quán đúng pháp thì chẳng những không đạt
đạo mà có khi còn lạc theo tà đạo, ngoại đạo.
Tài liệu trích dẫn:
- Ðại thừa Phật giáo Tư tưởng luận, Kimura Taiken,
do H.T. Thích Quảng Ðộ dịch.
- Kinh Thủ Lăng Nghiêm, do Cư sĩ Tâm Minh dịch.
- Phật Giáo Khái Luận, H.T Thích Mật Thể.
- Phật Học Phổ Thông, khóa IV và V.
- Phật Học Phổ Thông, khóa VIII (kinh Viên Giác).
- Kinh A Di Ðà và kinh Quán Vô Lượng Thọ, H.T. Thích
Thiền Tâm.
- Kinh Kim Cang Giảng Giải, H.T. Thích Thanh Từ.
TVHS

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|