THIỀN
NGUYÊN THUỶ
Tâm Thái
Thiền Phật giáo thường
được chia làm ba môn phái chính là Thiền Tiểu thừa,
Thiền Ðại thừa và Thiền Tông, tức Thiền của các
Tổ. Bài này trình bày về những điểm chính trong
Thiền Tiểu Thừa. Thiền Tiểu Thừa cũng còn được gọi
là Thiền Nguyên thủy, Thiền Nam tông, Thiền Nhị
thừa, tức pháp Thiền áp dụng của Thanh văn thừa
và Duyên giác thừa, cũng có khi gọi là Thiền Như
Lai vì căn cứ trực tiếp vào các lời dạy của Phật
trong các kinh điển Tiểu thừa. Trong bài này gọi
là Thiền Nguyên thủy để tránh mọi sự hiểu lầm. Trước
hết cũng nên nói về danh từ Tiểu thừa, vì có một
số người có thành kiến cho rằng tu Tiểu thừa là
thấp, đó là những người không hiểu đạo mới nói vậy,
thực ra pháp môn nào của đạo Phật cũng do đức Phật
chỉ dậy, nếu tu hành đứng đắn, tinh tiến thì đều
có kết quả tốt, không nên chấp vào danh từ để có
những thành kiến sai lầm, tranh luận vô ích. Ðiều
cần thiết là nên học hỏi đạo pháp cho rõ để tránh
những tà sư, lợi dụng đạo Phật để đưa những người
dễ tin vào con đường sai lầm chỉ có mục đích là
phục vụ cá nhân. Ðạo Phật có nhiều pháp môn để thích
ứng với căn cơ từng người, mỗi pháp môn có mục đích
và phương pháp khác biệt, vì vậy cần có sự phân
biệt rõ ràng để giúp sự lựa chọn, để biết rõ nơi
mình muốn đến và con đường thích hợp để đi đến đó.
Trước khi đi sâu vào chi tiết từng môn Thiền Phật
giáo chúng ta nên biết đến những điểm chung về phương
pháp tu tập của các môn Thiền là: Chỉ (samatha)
và Quán (vipassana). Phương pháp Chỉ dùng để giữ
cho thân an tịnh, giữ cho tâm không giong ruổi tán
loạn, không buông lung, cũng ví như xích con khỉ
cho nó khỏi chạy nhẩy hỗn độn. Phương pháp này có
hình thức giống như tập trung tư tưởng của ngoại
đạo, nhưng mục đích khác hẳn. Nhiều người vẫn hiểu
lầm và cho rằng khi mình để tâm chuyên chú làm một
việc và không nghĩ ngợi lăng xăng tức là tu Thiền
rồi, thực ra như vậy đó mới là một là một bước đầu
của Thiền tức là tu Chỉ. Một họa sĩ để hết tâm trí
vào bức vẽ, một kế toán viên chăm chú vào những
con số, một người ngồi ngắm mây, gió ngâm vài câu
thơ ... những người đó chưa phải là tu Thiền. Cũng
có những người tập trung tư tưởng để tạo ra những
năng lực khác thường, huyền bí mà có khi được coi
như thần thông, những người đó chưa phải là tu Thiền.
Pháp "Chỉ" chỉ mới là một phần của Thiền
Phật giáo. Phần quan trọng chính là pháp Quán. Phương
pháp Quán là dùng ý suy nghĩ, quán xét về sự vật,
về những vấn đề. Sự khác biệt giữa Phật giáo và
ngoại đạo, và ngay cả giữa các pháp môn của Phật
giáo chính là ở những phương pháp Quán khác nhau.
Thiền Nguyên thủy
Thiền Nguyên thủy
căn cứ theo những lời Phật dậy trong các kinh điển
nên có rất nhiều phương pháp tu khác nhau. Theo
cuốn Phật học phổ thông, khóa thứ V thì có những
phương pháp như: Ngũ đình tâm quán, Thập nhứt thế
xứ quán, Bát bối xả, Bát thắng xứ quán, Lục diệu
pháp môn, Tứ vô lượng tâm, Thập tướng, Thông minh
thiền, Siêu việt tam muội v..v.. Tuy vậy có thể
nói hiện nay có hai pháp được áp dụng nhiều nhất
là Thiền Anapanasati (niệm hơi thở), và thiền Vipassana
(quán).
Thiền Anapanasati
Pháp Thiền này đặt trọng tâm vào việc hằng chú niệm
hơi thở, đã được Phật giảng dậy trong nhiều kinh
nhưng riêng kinh Anapanasati chỉ dẫn đầy đủ nhất
nên thường được học tập kỹ. Tài liệu sau đây về
pháp Thiền này căn cứ theo cuốn "Hành Thiền"
của hòa thượng Thích Minh Châu. Hòa thượng đã trình
bầy pháp môn này rất đầy đủ, chỉ rõ cách tu đúng
thuần túy theo lời Phật dậy. Hòa thượng dịch tên
Thiền này là "Thiền niệm hơi thở vô hơi thở
ra". Trong khi dịch bộ Samyutta Nikàya (Tương
Ưng Bộ kinh) hòa thượng thấy pháp môn Anapanasati
được diễn tả trong kinh "Một Pháp" (Tương
Ưng, trang 239). Nhận thấy pháp môn này tương đối
dễ áp dụng và có nhiều ích lợi nên hòa thượng viết
cuốn sách đó để chỉ dẫn. Kinh chỉ rõ trong khi chú
niệm theo dõi hơi thở thì khởi quán như sau:
1. Thở vô dài, tôi
biết rõ tôi thở vô dài.
Thở ra dài, tôi biết rõ tôi thở ra dài.
2. Thở vô ngắn, tôi
biết rõ tôi thở vô ngắn.
Thở ra ngắn, tôi biết rõ tôi thở ra ngắn.
3. Cảm giác toàn
thân, tôi sẽ thở vô.
Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra.
4. An định thân hành,
tôi sẽ thở vô.
An định thân hành, tôi sẽ thở ra.
5. Cảm giác hỷ thọ,
tôi sẽ thở vô.
Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.
6. Cảm giác lạc thọ,
tôi sẽ thở vô.
Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.
7. Cảm giác tâm hành,
tôi sẽ thở vô.
Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.
8. An tịnh tâm hành,
tôi sẽ thở vô.
An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.
9. Cảm giác về tâm,
tôi sẽ thở vô.
Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra.
10. Với tâm hân hoan,
tôi sẽ thở vô.
Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.
11. Với tâm định
tĩnh, tôi sẽ thở vô.
Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra.
12. Với tâm giải
thoát, tôi sẽ thở vô.
Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.
13. Quán vô thường,
tôi sẽ thở vô.
Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.
14. Quán ly tham,
tôi sẽ thở vô.
Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.
15. Quán đoạn diệt,
tôi sẽ thở vô.
Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.
16. Quán từ bỏ, tôi
sẽ thở vô.
Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.
Phương pháp thực
hành :
Hòa thượng cũng chỉ rất rõ ràng phương pháp thực
hành Thiền Anapanasati.
Ðiều kiện cần thiết trước hết là phải giữ giới,
sống một cuộc đời trong sạch và lành mạnh. Khi sửa
soạn hành Thiền cần chọn chỗ thanh vắng, yên tĩnh,
xếp đặt nệm ngồi cho thoải mái. Trước khi bắt đầu
Thiền, cần quán tưởng việc đoạn trừ năm chướng ngại
(ngũ triền cái) (nivaranani), theo trong kinh :
"Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát
ly dục tham, gội rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân
hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫu
thương xót tất cả chúng hữu tình, gội rửa tâm hết
sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, với tâm hướng
về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gội rửa tâm hết
hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy
sống không trạo cử hối tiếc, tâm trầm lặng, gội
rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị
ấy sống thoát ly khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng
lự, gội rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp"
(Trung Bộ I) (trích : Hành thiền).
Ðối với người tu Thiền thì năm chướng ngại nói trên:
tham dục, sân hận, hôn trầm, hối tiếc và nghi ngờ,
là gánh nặng, sự trói buộc, cho nên giải được những
chướng ngại đó mới làm vơi nhẹ gánh nặng để đi trên
đường Thiền và tâm được định tĩnh. Ðạo Phật thường
ví chúng ta như người đang đi mà cứ cõng đá trên
lưng, cho nên không thể tiến xa được, muốn đi tới
nơi tới chốn thì phải lo bỏ những khối đá trên lưng
đi, vì vậy có dẹp trừ được năm chướng ngại đó thì
cũng là đã bỏ được một số lượng đá quan trọng rồi.
Sau phần quán tưởng đó thì bắt đầu hành Thiền. Ngồi
nghiêm chỉnh và chú ý tới hơi thở là tu theo pháp
Chỉ. Cũng nên chú ý là chỉ theo dõi hơi thở để thấy
rõ hơi thở ra vào, chứ không phải chú ý để điều
khiển hơi thở như khi tập thể dục.
Sau đó suy nghĩ về những đề tài khác nhau là theo
pháp Quán. Việc quán về 16 đề tài ghi trên, được
coi như quán về bốn phần chính là: quán về thân,
về thọ, về tâm và về pháp.
- Quán về thân gồm việc theo dõi hơi thở thấy rõ
hơi thở khi ra, khi vào, khi dài, khi ngắn, thấy
rõ cảm giác của toàn thân trong khi ngồi, trong
khi thở.
- Quán về thọ để thấy rõ khi Thiền có những cảm
giác vui, thích, an tịnh.
- Quán về tâm để thấy rõ những biến chuyển về tâm
như hân hoan, định tĩnh, thoát khỏi mọi phiền não.
- Quán về pháp để hiểu những lý lẽ về sự vô thường
của thân cũng như tâm, về hậu quả của lòng tham
nên thấy cần phải trừ diệt và từ bỏ cái tâm mê mờ
không thấy rõ con đường chân thật.
Khi mới thực hành thì có thể gặp khó khăn để quán
cùng lúc tất cả 16 điều trên, vì vậy nên chọn đề
tài nào mà thấy mình thiếu sót nhiều thì chuyên
về một đề tài đó trong một thời gian rồi sau đó
tiếp tục quán về các đề tài khác. Ích lợi của pháp
tu này là trong khi chú tâm vào hơi thở và gạn lọc
các tâm tư không thích hợp tức là tu về định, trong
khi đó suy tư và quán tưởng về các đề tài là tu
về huệ. Theo hòa thượng Thích Minh Châu thì phương
pháp này rất hữu ích, vì tương đối dễ tập, ít cần
sự chỉ dẫn mà kết quả nhiều.
Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana
Sutta)
Muốn hiểu rõ hơn
về công hiệu của pháp Thiền nói trên thì cần hiểu
rõ Satipatthana Sutta, thường được gọi là kinh Niệm
Xứ hoặc Tứ Niệm Xứ. Kinh này được coi là căn bản
của Thiền Nguyên thủy, dù là Anapanasati hoặc Vipassana.
Kinh khá dài nên không thể trình bầy nơi đây. Sati
có nghĩa là tâm niệm, chú niệm (mindfulness), còn
patthana là căn bản, như vậy kinh này chỉ dẫn về
căn bản của sự chú niệm. Chú niệm về bốn đề tài
nên cũng được gọi là Tứ Niệm Xứ. Cũng nên chú ý
là có năm kinh nói về đề tài Tứ Niệm Xứ : Maha Satipatthana
Sutta, Satipatthana Sutta, Satipatthana Samyutta,
Augutta Nikaya và Sutta Vibhanga (theo Trevor Ling
trong cuốn The Buddha's Philosophy of Man). Vì vậy
khi đọc các bài trích dẫn có khi chúng ta thấy cách
trình bày hơi khác nhau. Câu mở đầu mà đức Phật
nói trong kinh là: "Có một con đường duy nhất
để thanh lọc bản thân, diệt trừ phiền não, diệt
trừ ưu khổ, đạt tới trí huệ và chứng ngộ Niết Bàn:
đó là con đường Tứ Niệm Xứ". Bốn pháp quán
niệm được chỉ dẫn ở trong kinh này là:
- Quán niệm thân
trong thân bằng cách quán niệm: hơi thở, vị thế
của thân như đang đi, đứng, nằm, ngồi, hoạt động
của thân như nhìn, co tay, duỗi chân, mặc áo, ăn,
uống, nhai ..., suy nghĩ về tính cách ô trược của
thân như nước mắt, nước mũi, đờm, mồ hôi, nước tiểu,
phân, mủ ..., suy nghĩ về những thành phần vật chất
cấu tạo thân này như đất, nước, gió và lửa, suy
tưởng đến chín loại tử thi tan rã.
- Quán niệm thọ cảm
trong thọ cảm: Người tu thấy rõ những thọ: lạc (vui
thích), khổ, vô ký (không vui, không khổ) đang diễn
tiến trong mình, từ lúc khởi sinh đến lúc hoại diệt.
- Quán niệm tâm trong
tâm: Người tu thấy rõ từng hoạt động của tâm mình,
như đang : tham, giận, si, hôn trầm, loạn động,
cao thượng, không cao thượng, định, giải thoát...
Người tu thấy rõ tiến trình của mỗi hoạt động của
tâm, từ lúc khởi sinh đến lúc hoại diệt.
-Quán niệm pháp
trong pháp, gồm quán các pháp (đối tượng của tâm)
như :
1. Quán về năm chướng ngại tinh thần (ngũ triền
cái hoặc ngũ cái): tham dục, sân hận, hôn trầm,
lo âu (trạo cử) và hoài nghi.
2. Quán ngũ uẩn
: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Người tu thấy rõ
sự khởi sinh và hoại diệt của từng uẩn.
3. Quán sáu căn (mắt,
tai, mũi lưỡi, thân và ý) cùng đối tượng của sáu
căn là sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp).
Người tu thấy rõ khi căn tiếp xúc với trần đã tạo
ra những ràng buộc, cũng thấy rõ sự ràng buộc đã
phát sinh và sau đó diệt như thế nào.
4. Quán về bẩy yếu
tố ngộ đạo (thất giác chi) như: chánh niệm, trạch
pháp (phân biệt đúng, sai), tinh tấn, hỷ, an, định
và xả.
5. Quán về tứ diệu
đế (bốn chân lý thâm diệu) là khổ, tập (nguyên nhân
tạo khổ), diệt (sự chấm dứt khổ) và đạo (con đường
đưa đến chấm dứt sự khổ).
Kinh nói rõ là người
nào tu theo pháp Tứ Niệm Xứ sẽ đạt đạo quả A La
Hán (Chánh trí) ngay trong kiếp này, hoặc ít ra
cũng đạt được đạo quả A Na Hàm (Bất lai). Cũng nên
chú ý là pháp Anapanassati cũng là một phần trong
kinh này, thuộc về phần quán thân. Theo pháp tu
này thì việc chú niệm (mindfulness) rất quan trọng,
có đạt được chú niệm thì việc quán mới có thể đi
đến kết quả tốt đẹp.
Chú niệm là giữ cho
tâm không buông lung, chăm chú hướng sự thấy biết
của mình vào thân và tâm của mình để đạt được sự
hiểu biết chân chính và minh mẫn. Ðiều cần là lúc
nào cũng phải chú ý thấy rõ mọi hoạt động của thân,
của tâm, thấy rõ thân đang làm gì: nhìn, nói, ăn,
nhai, ngồi, đi, đứng ... thấy rõ mỗi trạng thái
của tâm: vui, buồn, giận dữ, chán nản, buông lung,
tĩnh lặng, thanh thản, hôn trầm ... Chú ý để thấy,
như đang nghiên cứu một hiện tượng khoa học mà không
có ý niệm phân biệt, phán xét phải trái. Thí dụ
như khi đang nóng giận, thường thì chúng ta không
bao giờ thấy mình đang nóng giận, vì lúc đó tâm
trí đang bị cơn giận xâm chiếm, đầu nóng bừng, mặt
đỏ, trợn mắt, nghiến răng ... Nhưng nếu biết chú
niệm thì thấy rõ có "sự nóng giận" mà
không thấy cái nóng giận đó là mình, sẽ bình tĩnh
nhận xét cơn giận nổi lên, tồn tại và tan biến như
thế nào, mà không có phân tách tại sao lại giận,
giận như vậy là phải hay trái. Một câu thường được
nhắc nhiều lần trong kinh này là : (thí dụ phần
quán cảm thọ) "Với sự thấy biết. chú niệm thấy
'Có một cảm thọ' một cách vừa đủ để biết và ghi
nhớ thôi. Và như vậy người tu trở thành tự chủ,
không còn bị ràng buộc vào cái gì trên thế gian
này nữa ". Ðiểm chánh yếu là người tu chỉ dùng
sự thấy biết một cách đơn thuần, thấy rõ mọi sự
một cách rõ ràng nhưng không có phán xét, suy luận.
Người tu biết vì do một duyên cớ bên ngoài nên một
cảm thọ đã hình thành, cảm thọ đó tồn tại trong
một thời gian và sẽ tự biến mất, nó không có một
thực thể mà chỉ do hoàn cảnh tạo ra, và người tu
không còn muốn chạy theo nó, hoặc bị nó chi phối
nữa. Cứ như vậy chúng ta phải thường xuyên chú niệm
không ngừng những gì đang diễn tiến tại thân và
tại tâm ta. Chính sự "thấy biết một cách đơn
thuần" (bare awareness) là trọng tâm của pháp
tu này, nó giúp cho ta hiểu và thấy rõ cái tính
chất của thân và tâm mình thực sự là gì, hoạt động
thế nào, để thấy được lý vô thường của chúng và
không còn bị chúng ràng buộc, chi phối nữa, và cũng
thấy không có một cái "ngã" mà thường
được gọi là cái "ta".
Thiền Vipassana
Vipassana có nghĩa
là quán, nên Thiền Vipassana (Insight Meditation)
còn được gọi là Thiền Quán hoặc Thiền Minh Sát hoặc
phiên âm là Tỳ bà xá na. Pháp Thiền này không được
ghi rõ trong riêng kinh nào mà đặt nền tảng trọn
vẹn trên kinh Tứ Niệm Xứ. Như trên đã trình bầy,
kinh này rất cao sâu, bao gồm những đề tài rộng
lớn, tổng quát nên việc thực hành có phần khó khăn,
cho nên sau này có những pháp thực dụng dễ thực
hành được đề ra như Thiền Vipassana.
Không có tài liệu
ghi rõ Thiền này khởi đầu từ bao giờ, chỉ biết là
Thiền Vipassana xuất hiện từ đầu thế kỷ này tại
Miến Ðiện, và hiện nay phát triển rất mạnh tại các
nước tu theo Tiểu thừa như Miến Ðiện, Thái Lan,
Sri Lanka ... Ngay tại Mỹ đã có rất nhiều trung
tâm dạy tu theo pháp này. Về phương pháp hành Thiền
Vipassana có nhiều sách của các vị tăng Miến Ðiện,
Thái Lan viết để chỉ dẫn phương pháp tu. Theo phương
pháp của vị tăng Miến Ðiện nổi tiếng là Mahasi Sayadaw,
lúc mới khởi tu nên quán về thân, và quán về hơi
thở ở bụng, chú niệm vào bụng khi hơi thở vào, thấy
bụng phồng lên, hành giả niệm "Phồng",
khi hơi thở ra, bụng xẹp xuống thì niệm "Xẹp".
Ðó là để chú ý tới cảm giác nơi thân do cử động
của bụng, chứ không phải là chú ý tới hình dáng
của bụng. Phương pháp đó giúp cho người mới tu dễ
tập trung sự chú ý. Trong khi đang theo dõi hơi
thở mà bỗng dưng cô ý nghĩ nào hiện tới thì niệm
"Suy nghĩ", cho tới khi nào ý nghĩ đó
tan mất thì trở lại niệm " Phồng", "Xẹp".
Nếu khát nước niệm "Khát", muốn đứng dậy
đi uống nước, niệm "Muốn", khi bước đi
niệm "Bước", bước chân trái niệm "Trái",
chân mặt niệm "Mặt". Nếu ngồi hoặc nằm
lâu mà thấy mỏi, đau, ngứa chỗ nào đó thì hướng
về chỗ đó và niệm "Mỏi", Ðau" hoặc
"Ngứa".
Phương pháp mới nghe lần đầu thì có vẻ kỳ lạ, nhưng
nếu đã hiểu về kinh Niệm Xứ thì thấy đó là một phương
pháp áp dụng rất đúng việc chú niệm để quán về thân,
thọ, tâm và pháp. Trong khi Anapanasati chỉ cột
tâm bằng cách theo dõi hơi thở thì Vipassana theo
dõi chẳng những hơi thở mà tất cả hoạt động của
toàn thân, của mọi cảm thọ, cùng những hoạt động
của tâm và những đối tượng của tâm, như vậy tức
thấy rõ toàn diện con người về hai phương diện thân
và tâm. Vipassana được áp dụng không phải chỉ khi
ngồi Thiền mà bất cứ lúc nào như đi, đứng, nằm,
ngồi, ngay khi đang hoạt động bình thường như ăn,
uống, nghe, nói ...
Nhưng như trên đã
trình bày, phương pháp của Thiền Vipassana không
được chỉ rõ trong kinh, nên tuy mục đích chánh là
áp dụng kinh Tứ Niệm Xứ nhưng về phương pháp áp
dụng có những điểm khác nhau, không có một pháp
Thiền Vipassana thống nhất. Từ kinh Tứ Niệm Xứ các
vị tăng Miến Ðiện đã sáng suốt tìm ra phương pháp
thực hành theo đúng những lời dậy trong kinh. Sau
đó các vị tăng khác cũng nương theo đó mà tu hành
và hiện nay pháp Thiền này đã được rất nhiều nơi
áp dụng. Cuộc đời và những bài giảng của các vị
tăng Miến Ðiện và Thái Lan nổi tiếng như Mahasi
Sayadaw, Sunlun Sayadaw, Taungpulu Sayadaw, U Ba
Khin, Ajahn Chah, Ajahn Buddhadasa ... được ghi
rõ trong cuốn "Living Buddhist Masters"
của Jack Kornfield. Thiền này vượt hơn Thiền Anapanasatti
vì lẽ dễ hiểu là pháp niệm hơi thở chi là một phần
nhỏ trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Nếu chúng ta muốn
tu theo Thiền Vipassana thì trước hết nên tìm hiểu
kỹ kinh Tứ Niệm Xứ thì khi tu sẽ tiến mau hơn và
sau nữa là để tránh xa những người tự cho mình là
có tài siêu việt và ưa sửa đổi đường lối mà đức
Phật đã dạy trong kinh. (Ngoài ra cũng xin trình
bày là phải dùng các danh từ bằng tiếng Sanskrit
hoặc Pali trên đây vì nhiều tác giả tùy theo ý riêng
đã dịch ra tiếng Việt bằng những danh từ khác nhau
nên khó biết dùng danh từ nào cho đúng. Hiện nay
nhiều sách Anh ngữ về Thiền cũng thường dùng tiếng
Phạn nên xin ghi thêm để giúp quý độc giả khi muốn
đọc những sách đó.)
Tài liệu trích dẫn
:
- Hành Thiền của
hòa thượng Thích Minh Châu.
- Pháp hành Thiền Minh Sát, đại đức Mahasi Sayadaw,
do ô. Huỳnh Thanh Long dịch.
- Kinh Niệm Xứ, đại đức Narada Maha Thera, do ô.
Phạm Kim Khánh dịch.
- Phật học Phổ thông, Khóa thứ V, do Phật học viện
quốc tế xuất bản.
- Buddhist Meditation, Thera Piyadassi.
- Seeking the Heart of Wisdom, The Path of Insight
Meditation, Joseph Goldstein & Jack Kornfield.
- Living Budđhist Masters, Jack Kornfield.
- The Buddha's Philosophy of Man, Trevor Ling.
TVHS

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|