SỰ
THINH LẶNG TRONG THIỀN QUÁN
Huyễn Ký
Lần đầu tới một tu viện tập thiền,
chị Sáu cảm thấy rất lúng túng khi phải bỏ thói
quen hay nói của mình một cách đột ngột. Chị vốn
là người mau mồm mau miệng, thường có phản ứng lẹ
làng bằng lời nói mỗi khi thấy sự việc gì khác với
những quan niệm sẵn có trong chị. Tuy có cái tâm
khá lành, chị cũng đã nhiều phen lao đao vì những
“lỡ lời” gây ra phiền não, hiểu lầm cho người nghe.
Biết vậy nên khi nghe nói tới chuyện tập thiền có
thể vơi bớt khổ đau và đỡ làm người khác đau khổ,
một ngày kia, chị hăng hái theo bạn tới tu viện
Lộc Uyển.
Mới về tới vùng núi đồi bao la, chị Sáu đã cảm nhận
được ngay bầu không khí trong lành và êm ả của tu
viện. Các tu sĩ đi đứng khoan thai, nói năng nhẹ
nhàng khiến cho tâm chị được thanh thản hơn, quên
đi bao áp lực của cuộc đời chộn rộn chị đang sống.
Mỗi khi nghe tiếng chuông, chị Sáu bắt chước mọi
người, đứng lại một chỗ để theo dõi hơi thở, cho
tới lúc tiếng ngân chấm dứt. Mỗi khi xếp hàng lấy
thức ăn, ngồi ăn chung với đại chúng, chị Sáu thực
tập im lặng, chỉ chú tâm vào hơi thở, để có thể
ý thức được mọi hành động của mình... Chị cảm thấy
những sức đẩy vô hình trong người chị hầu như được
dừng lại. Tâm trí thoải mái như được nghỉ ngơi,
chị Sáu hiểu và chứng thực được lợi ích của sự im
lặng. Nhưng phải bỏ ngay cái thói quen cố hữu từ
bao năm, không được nói ngay những ý nghĩ thoáng
qua trong đầu, chị Sáu đôi khi cũng cũng thấy mình
phải “khá vất vả”. Không ngờ chỉ sau một ngày sinh
hoạt chung với các bạn và các tu sĩ trong thời khóa
của tu viện, chị Sáu cảm nhận được năng lượng hùng
mạnh của tăng đoàn đông đảo đang thực tập thiền
quán nghiêm chỉnh trong khóa An cư. Chị Sáu càng
ngày càng thoải mái hơn trong sự thinh lặng của
bầu không khí chung, và bỗng nhận ra mình cũng có
được chút thanh tịnh, và khi nhớ tới những vấn đề
riêng tư, chị thấy hình như chúng đã rủ nhau “đi
chơi” chỗ khác rồi. Chị nhớ đã dọc ông triết gia
Jiddu Krisnamurti:
“Trong ánh sáng của sự thinh lặng,
mọi vấn đề đều được giải quyết. Ánh sáng này không
được sanh ra từ những hoạt động theo thói cũ của
tư duy, nó cũng không phải từ ngoài tới, do các
kiến thức của bạn. Nó cũng không được thắp sáng
nhờ một thời điểm hay một vận hành nào của ý chí,
mà nó tới từ Thiền quán... Sự Thinh lặng chính là
Tự Do...”
(In the light of silence, all problems
are dissolved. This light is not born of the ancient
mouvement of thought. It is not born either, out
of self -revealing knowledge. It is not lit by time
nor by any action of will. It comes about in Meditation...
SILENCE IS FREEDOM) (from book The Only Revolution)
Krisnamurti cũng đã viết trong cuốn
“Bàn về đời sống” (Commentaries on Living):
“Nếu bạn thấy được rằng sự quán
sát trong im lặng, ý thức thụ động (Chánh Niệm)
là điều căn bản của Hiểu Biết, thì bạn có thể tới
được gần Chân lý, giải thoát được từ căn nguyên...
Khi bạn chấp nhận được rằng chỉ cần quan sát trong
thinh lặng, bạn sẽ có Trí Tuệ, thì bạn sẽ vượt thoát
được mọi phán xét hay buộc tội...”
Trong một lần thuyết giảng tại Saanen,
vào năm 1961. Krisnamurti cũng đã nói:
“Tâm trí sáng suốt trong sự im lặng
tuyệt đối là chuyện không cần phải cố gắng. Ða số
chúng ta, cố gắng hầu như là một phần quan trọng
trong suốt cuộc đời mình. Nhưng chính những cố gắng
đó tạo ra mâu thuẫn... Khi bạn quan sát sự vật như
chúng là. nhìn các sự kiện như chúng đang diễn tiến...
thì tâm chúng ta sẽ hiểu được các cố gắng kia, và
tâm ta sẽ tĩnh lặng lại như mặt hồ... Một tâm trí
rất tỉnh thức nhưng thinh lặng...”
Trong cuốn sách “The art of happiness”,
đức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã giảng về cách thực
tập để tới được trạng thái thinh lặng nói trên:
“Hôm nay, chúng ta hãy thiền quán
về Vô niệm (Không có khái niệm). Ðó không phải là
trạng thái tâm tẻ nhạt hay vô tri vô giác. Ðiều
mà bạn nên làm trước nhất là có quyết tâm “tôi sẽ
duy trì trạng thái Vô niệm hay Phi niệm (tâm không
có khái niệm nào hết)...”
“Nói chung, Tâm chúng ta thường
hướng vào những đối tượng bên ngoài. Sự chú ý của
ta đi theo những kinh nghiệm của các giác quan.
Nó luôn ở lại với các cảm giác và nhận thức. Nói
khác đi, thường thường chánh niệm của ta hướng vào
những kinh nghiệm của giác quan và các nhận thức
tạo thành từ đó.
“Nhưng trong phần thực tập này,
bạn nên thu tâm vào bên trong. Ðồng thời, không
cho nó rút hẳn vào trạng thái vô tri tẻ nhạt hay
thiếu tỉnh thức. Bạn cần giữ được sự tỉnh thức cao
độ, có chánh niệm đầy đủ, để nhận diện bản chất
tự nhiên của tâm thức mình - đó là trạng thái của
cái tâm không bị vướng bận vào các ý tưởng nhớ nghĩ
về quá khứ, hoặc tơ tưởng tới những kế hoạch, sợ
hãi hay hy vọng ở tương lai. Tốt hơn, bạn nên duy
trì trạng thái tự nhiên và bình thản (neutral).
“Ðiều này hơi giống với một dòng
sông chảy xiết, trong đó bạn không nhìn rõ hai bên
bờ. Nếu bằng cách nào đó bạn có thể chặn được cả
hai phía, nơi dòng sông bắt đầu và nơi dòng sông
chảy tới, thì bạn có thể làm cho nước tĩnh lặng
được. Khi đó, bạn có thể nhìn rõ đáy sông. Tương
tự như vậy, khi bạn có thể làm cho tâm không chạy
theo những đối tượng của giác quan và không nghĩ
về quá khứ hay tương lai nữa, đồng thời bạn có thể
làm cho tâm không trở thành trống rỗng hoàn toàn,
thì bạn sẽ có thể thấy được phía dưới các hỗn loạn
của tư tưởng. Có một sự tĩnh lặng và trong sáng
lót phía dưới tâm.
“Chuyện này khởi đầu rất khó khăn,
chúng ta thử tập ngay trong buổi giảng này.
Trong giai đoạn đầu, khi bạn chứng
nghiệm trạng thái sâu xa, tự nhiên của thức, bạn
thấy như nó đang vắng mặt. Chuyện này là do chúng
ta đã quá quen thuộc với cái hiểu tâm mình qua các
đối tượng bên ngoài. Chúng ta đã quá quen nhìn thế
giới qua các nhận thức, hình ảnh v.v.. Vậy nên khi
rút tâm ra khỏi những đối tượng ấy, chúng ta hầu
như không còn nhận ra nó nữa. Có sự vắng bặt, có
sự trống rỗng. Nhưng khi bạn tiến bộ từ từ, và quan
sát với trạng thái đó, bạn sẽ bắt đầu nhận ra cái
nền tảng trong sáng. Ðó là lúc bạn thưởng thức và
thực chứng được bản chất của tâm. Nhiều kinh nghiệm
thiền định thâm sâu thực sự xảy ra trong trạng thái
tịch tĩnh đó của tâm.”
Chị Sáu lơ mơ hiểu được sự lợi ích
của Thinh Lặng, nên chị cố gắng ngày này qua tháng
nọ để bớt nói, bớt những phản ứng bén nhạy trong
tâm trí... Nhưng quả là khó khăn. Chị nhớ lời Phật
dạy “Chiến thắng chính mình mới là chiến thắng lớn
nhất” để tự an ủi mỗi khi thấy mình vẫn chứng nào
tật đó, lỡ lời, vụt chạc trong ngôn ngữ cũng như
hành động. Chị cho là mình chưa đủ nội lực để “thắng
trận lớn”, nhưng nếu cứ kiên trì thì sẽ có lúc thành
công thôi. Vậy nên chị ráng thu xếp việc nhà để
không bỏ lỡ các cơ hội thực tập với một tập thể
tu sĩ mà chị thấy thực sự họ có được năng lượng
chuyển hóa. Mỗi khi nào có thể là chị Sáu rủ bạn
bè về tu viện để được thực tập sự Thinh Lặng, thật
cần thiết cho chị, trên con đường “chiến thắng chính
mình”.
TVHS

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|