| ĐỊA
LÝ

Bắc
Kinh - thành phố của di tích
Quảng
trường Thiên An Môn trong đêm.
Là thủ đô của Trung Quốc, thành Bắc Kinh nằm ở phía
tây bắc của đồng bằng rộng lớn Hoa Bắc. Phía tây
và phía bắc có núi non bao bọc. Phía nam là vùng
đất bằng phẳng nhìn ra Bột Hải. Sau lưng là núi,
trước mặt là biển, địa thế nơi này thật lý tưởng.
Vào thời hồng hoang, khoảng 600.000 - 700.000 năm
trước đây, tổ tiên người Trung Hoa - "Người
Bắc Kinh" - đã sống ở vùng đất này. Họ sáng
tạo ra nền văn hoá viễn cổ, biến nơi đây thành một
trong những nơi sản sinh ra nền văn minh của dân
tộc Trung Hoa. Theo tài liệu lịch sử, thành Bắc
Kinh có từ thời Tây Chu (khoảng thế kỷ XI TCN),
tên gọi ban đầu là Kế. Đến thời Xuân Thu, Chiến
Quốc đổi thành Yên Đô. Thời Hán gọi là U Châu. Đời
Liêu đổi thành Bồi Đô (Kinh đô phụ) và gọi là Yên
Kinh. Đời Kim xây dựng kinh đô ở đây, gọi là Trung
Đô. Đến đời Nguyên gọi là Đại Đô. Đời Minh, đời
Thanh gọi là Bắc Kinh. Từ ngày 1/10/1949 đến nay,
Bắc Kinh là thủ đô của nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa.
Hơn
3.000 năm lịch sử phát triển đô thị cùng gần 1.000
năm làm kinh đô vương triều đã để lại cho Bắc Kinh
ngày nay vô vàn danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử. Bắc Kinh đã trở thành một thành phố nổi tiếng
thế giới về văn hoá và lịch sử.
Thành
cổ Bắc Kinh phân thành 4 lớp: cung thành, hoàng
thành, thành nội và thành ngoại. Đường phố chia
ngang cắt dọc như bàn cờ. Trục nam - bắc dài 8 km.
Phía bắc khởi từ Gác Tống (Cổ Lâu) đến phía nam
tại cửa Vĩnh Định (Vĩnh Định môn). Trục đông - tây
dài 4 km. Hai trục giao nhau tại Thiên An Môn.
Thiên
An Môn (cửa Thiên An) là cửa chính của hoàng thành
cũ. Cửa thành có 5 vọng lâu, gác cao có 9 cột, là
nơi phát chiếu lệnh của vua chúa nhà Minh và Thanh.
Ngày 1/10/1949, tại gác lầu Thiên An Môn, Chủ tịch
Mao Trạch Đông long trọng tuyên bố với toàn thế
giới "Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã thành
lập". Từ đó, Thiên An Môn trở thành biểu tượng
của nước Trung Hoa mới. Quảng trường trước Thiên
An Môn là quảng trường lớn nhất thế giới, diện tích
400.000 m2, là nơi nhân dân Trung Quốc tổ chức các
ngày hội lớn, duyệt binh, mit tinh, diễu hành. Giữa
quảng trường trước Thiên An Môn là đài tưởng niệm
các anh hùng dân tộc và nhà lưu niệm Chủ tịch Mao
Trạch Đông. Mặt phía tây là Đại lễ đường nhân dân
Trung Hoa. Mặt phía đông là bảo tàng cách mạng và
bảo tàng lịch sử.
Qua
khỏi cầu Kim Thuỷ hai bên chạm trổ bằng đá cẩm thạch,
ở đầu quảng trường Thiên An Môn là bước ngay vào
cổng Thiên Anh, đi vào cố cung.
Di
Hoà viên ở ngoại ô phía tây thành phố Bắc Kinh là
môt kiệt tác về nghệ thuật xây hoa viên của Trung
Quốc. Nơi đây vốn là hoa viên đời nhà Thanh, nơi
vua đến nghỉ ngơi, du ngoạn và bị liên quân Anh
- Pháp phá huỷ. Từ Hy Thái hậu đã chuyển 100.000
lạng bạc từ ngân sách chi phí hải quân sang xây
lại hoa viên này vào năm 1888. Di Hoà viên có diện
tích 340.000 m2, gồm hai phần chính là núi Vạn Thọ
và hồ Côn Minh. Núi Vạn Thọ cao hơn mặt biển 109
m, tên cũ là núi Ung. Vua Càn Long nhân ngày chúc
thọ mẹ 60 tuổi, đã đổi tên núi Ung thành núi Vạn
Thọ. Đứng trên núi sẽ thấy toàn cảnh Di Hoà viên.
Dưới chân núi, từ cổng "Vân Huy Ngọc Vũ"
(Vòm trời trong xanh, mây rực rỡ) đi vào, phải qua
tầng tầng lớp lớp để đến Phật Hương Các và Trí Tuệ
Hải. Phật Hương Các có 8 mặt, 3 tầng và 4 lớp mái,
cao 41 m, là công tình kiến trúc chính trong Di
Hoà viên, được xây theo kiểu "Hoàng Hạc lâu".
Hồ
Côn Minh ở phía nam công viên Di Hoà. Hòn Nam Hồ,
còn gọi là Hòn Bồng Lai nổi lên giữa mặt hồ sóng
vỗ lăn tăn. Kiến trúc cao nhất trên hòn đảo nhỏ
này là một ngôi nhà có tên là Hàm Hư Đường. Ngôi
nhà này hướng về điện Bài Vân trên núi An Thọ. Chiếc
cầu 17 lỗ nổi tiếng đã nối liền hòn đảo nhỏ này
với bờ đất liền ở phía đông. Bên chân núi Vạn Thọ
và bên bờ hồ Côn Minh là một hành lang dài 728 m
có mái che. Trên cột xà của hành lang có hơn 8.000
bức họa màu tinh vi rực rỡ, trước đây thường được
gọi là "hành lang tranh".
Ở
phía tây bắc thành Bắc Kinh là khu Thập Tam Lăng
đời Minh. Đây là lăng mộ của 13 Hoàng đế đời Minh.
Núi non và sông nước bao quanh khu lăng, chiếm diện
tích 40 km2. Trong khu lăng có một đường chính,
gọi là Đường Thần (Thần lộ) chạy đến các lăng. Nổi
tiếng nhất là Trường Lăng (Minh Thành Tổ Chu Đệ)
đồ sộ xây trên mặt đất và cung Định Lăng (Minh Thành
Tông Chu Dực Quân) nằm dưới mặt đất. Núi rừng xanh
mát bao bọc khu lăng. Bên cạnh đó còn có đập nước
Thập Tam Lăng.
Ngoại
ô phía tây bắc Bắc Kinh có dãy núi Hương Sơn. Đỉnh
núi cao 577 m so với mặt biển. Bóng râm che mát
lối đi, đỉnh núi cao nhấp nhô, suối trong vắt, cảnh
vật yên ắng, thanh bình. Hương Sơn có 28 cảnh đẹp
nổi tiếng. Tuyết mùa đông vừa ngưng rơi, đọng thành
những viên ngọc lấp lánh, được mệnh danh là nét
đẹp của "núi chiều tuyết lạnh". Đến mùa
thu, lá cây chuyển màu đỏ nhuộm khắp núi đồi, rực
rỡ như ánh lửa, màu gấm. Đến mùa xuân, bách hoa
đua sắc, trăm tía nghìn hồng. Đến mùa hè, khí hậu
mát mẻ, thanh nhã và yên tĩnh, xứng đáng là đất
thánh của những chuyến nghỉ hè. Mặt phía bắc Hương
Sơn có chùa Bích Vân. Ngôi mộ chôn áo mũ (không
có xác) của Tôn Trung Sơn đặt trong ngôi chùa này.
Mặt tây bắc có chùa Phật nằm, thờ vị Phật nằm bằng
đồng, thân dài hơn 5 m. Trước điện thờ trồng hai
cây sala, tương truyền đem về từ Ấn Độ. "Tám
nơi thiêng của Tây Sơn" là Trường An tự, Linh
Quang tự, Tam Sơn am, Đại Bi tự, Long Vương đường,
Vương Giới tự, Bảo Châu động, Chính Quả tự nằm rải
rác giữa ba quả núi Thuý Vi, Bình Pha và Lô Sư,
ngày xưa được gọi là "Bát sát" (tám Ksetra
bằng tám ngôi chùa Phật).
Trong
thành phố Bắc Kinh cũng có nhiều nơi du ngoạn như
Thiên Đàn (nơi vua chúa nhà Minh và Thanh đến tế
trời cầu mưa, trúng mùa cày cấy), công viên Bắc
Hải (vườn Thượng Uyển của nhà vua), Quốc Tử Giám
(học phủ cao nhất thời xưa của Trung Quốc) cùng
nhiều thành, cửa thành, cổng chùa, cổng tháp, cổng
cung điện. Ngoại thành Bắc Kinh có "Lư Câu
Hiểu Nguyệt" (Trăng sớm trên dòng kênh Lư),
núi Bát Đạt chắn cửa Trường Thành xưa. Thành cổ
đâu đâu cũng có di tích, danh lam thắng cảnh.
--------------------------------------------------------------------------------
TRỞ
VỀ TRANG DU LỊCH

|