THAM
KHẢO
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)
Nhân
vật
Tại sao?

Ariel
Sharon - Từ chiến trường đến chính trường
Thủ
tướng Israel Ariel Sharon. (Ảnh: Wikipedia)
Thủ tướng đang hôn mê của Israel Ariel Sharon là
một trong những biểu tượng quan trọng nhất của nhà
nước Do Thái. Từ binh nghiệp đến chính trị, ông
đều thể hiện quan điểm cứng rắn và hiếu chiến, nhưng
lại vì một mục đích đầy mâu thuẫn là hoà bình theo
cách hiểu của ông.
Sứ mệnh dang dở
Ariel Sharon thường được so sánh với nhà lãnh đạo
huyền thoại của Palestine Yasser Arafat, vì cuộc
đời hoạt động phi thường của họ. Cả hai đều có cá
tính đậm nét, đều là biểu tượng của mỗi dân tộc
Do Thái và Palestine, đều hướng tới mục tiêu là
hoà bình cho dân tộc mình.
Nhưng lúc Yasser Arafat còn sống và Ariel Sharon
đang đảm đương quyền lực, tư tưởng lớn của hai nhà
lãnh đạo nổi bật vùng Trung Đông này đã không bao
giờ gặp nhau. Nền hoà bình mà cố tổng thống Palestine
đề xuất phía Israel không chấp nhận, còn nền hoà
bình mà Thủ tướng Ariel Sharon mô tả thì phía Palestine
lại không tin.
Trong gần cả cuộc đời hoạt động đầy những biến
cố, mục tiêu tối thượng của Ariel Sharon, kể cả
khi còn là một vị tướng cầm quân đến khi là một
thủ tướng, đều là làm sao giữ được tối đa đất đai
và quyền lợi chính trị cho nhà nước Do Thái, nhưng
lại chỉ cho người Palestine tối thiểu cả hai thứ
này.
Sứ mệnh của Ariel Sharon là đấu tranh cho nền an
ninh của Israel bằng mọi giá. Nhưng kế hoạch của
ông trong việc rút người định cư Do Thái khỏi Dải
Gaza và một phần khu Bờ Tây, được hoàn tất vào tháng
8/2005, đã khiến những người ủng hộ cứng rắn nhất
của ông nổi giận. Đảng cánh hữu Likud do ông lãnh
đạo cũng liên tục bỏ phiếu chống.
Do quyết định kiên trì với kế hoạch đổi đất lấy
an ninh, cuối cùng Ariel Sharon phải rời bỏ đảng
Likud vào tháng 11 vừa qua, để lập ra một đảng mới
mang tên Kadima (Tiến lên). Chính đảng này được
nhận định là sẽ giành chiến thắng trong cuộc bầu
cử quốc hội ở Israel vào tháng 3/2006.
Tướng
Ariel Sharon (phải) trên chiến trường năm 1973.
(Ảnh: Wikipedia)
Nhưng mọi chuyện có thể sẽ thay đổi hoàn toàn khi
tình hình sức khoẻ của ông Sharon đột ngội tồi tệ.
Cú đột quỵ nhẹ ngày 18/12 của ông gây bất ngờ cho
cả bác sĩ riêng Boleslaw Goldman, người luôn khẳng
định nhà lãnh đạo Israel không có vấn đề gì nghiêm
trọng về sức khoẻ trong quá khứ, ngoài chuyện thừa
quá nhiều cân.
Mọi chuyện vẫn chưa dừng ở đó, ngày 4/1 vừa qua,
Thủ tướng Ariel Sharon hứng chịu thêm cú đột quỵ
thứ hai, lần này cũng bất ngờ và nghiêm trọng hơn
rất nhiều. Ông vẫn đang hôn mê sâu và tình trạng
này sẽ kéo dài trong vòng 3 ngày để tránh đột quỵ,
nhưng các bác sĩ chưa thể khẳng định liệu ông có
hồi phục được hay không.
Vị tư lệnh khắc nghiệt
Thủ tướng Ariel Sharon sinh tại Palestine năm 1928,
khi vùng đất này còn nằm dưới quyền uỷ trị của người
Anh. Khi còn trai trẻ, ông gia nhập tổ chức quân
đội bí mật của người Do Thái mang tên Haganah và
tham gia chiến đấu trong cuộc chiến Ảrập - Israel
giai đoạn 1948 - 1949, sau khi nhà nước Do Thái
được sáng lập.
Trong những năm 1950, Ariel Sharon chỉ huy một
loạt chiến dịch quân sự ác liệt mang tính chất trừng
phạt. Một trong những chiến dịch này trở thành sự
biến vào năm 1953, khi có tới 50 căn nhà trong ngôi
làng Qibya bị nổ tung, làm 69 thường dân thiệt mạng.
Một vụ khác năm 1955 cũng dẫn đến cái chết của 38
binh sĩ Ai Cập ở Dải Gaza.
Ông Sharon sau đó được thăng lon thiếu tướng và
chỉ huy một sư đoàn trong cuộc Chiến tranh sáu ngày,
tháng 6/1967. Trong cuộc xung đột ngắn nhưng cực
kỳ ác liệt này, Israel chiếm đóng Đông Jerusalem,
khu Bờ Tây và Dải Gaza.
Những biện pháp cai quản khắc nghiệt ở vùng đất
chiếm đóng mà Ariel Sharon áp dụng đã khiến nhiều
người Palestine bắt đầu coi người đàn ông này là
kẻ thù không đội trời chung của họ.
Thảm hoạ Libăng
Cảnh đổ nát của Libăng sau cuộc xâm chiếm của
Israel năm 1982. (Ảnh: Ahram)
Ariel Sharon lần đầu tiên được bầu vào quốc hội
Israel (Knesset) năm 1973, nhưng từ chức sau đó
một năm để làm cố vấn an ninh cho ông Yitzhak Rabin.
Sau đó ông lại tái đắc cử vào cơ quan lập pháp của
người Do Thái vào năm 1977.
Ariel Sharon chính là tổng chỉ huy trong cuộc xâm
lăng đầy tai hại của Israel vào Libăng năm 1982.
Với vai trò Bộ trưởng Quốc phòng và không hề báo
trước một cách rõ ràng với Thủ tướng Menachem Begin,
Sharon đã xua quân Israel từ mọi hướng đổ về thành
phố Beirut. Cú đột kích quy mô lớn này kết thúc
bằng việc trục xuất Tổ chức Giải phóng Palestine
(PLO) của Yasser Arafat ra khỏi Libăng.
Chiến dịch của tướng Sharon đã chấm dứt việc PLO
sử dụng Libăng làm nơi mở các cuộc tấn công người
Do Thái. Tuy nhiên, nước cờ cứng rắn này cũng dẫn
đến cuộc thảm sát hàng trăm người Palestine của
các du kích quân theo Thiên chúa giáo ở Libăng,
tại hai trại tị nạn ở Beirut đang nằm dưới sự cai
quản của Israel.
Chính vì những vụ trên, năm 1983 Ariel Sharon bị
một toà án Israel tước các chức vụ đang có sau cuộc
điều tra về cuộc xâm chiếm Libăng năm 1982. Toà
án này kết tội ông phải chịu trách nhiệm gián tiếp
về các vụ giết chóc dã man người Palestine.
Ariel Sharon - Từ chiến trường đến chính trường
(2)
Thiếu
tướng Ariel Sharon năm 1973. (Ảnh:Reuters)
Đối với hầu hết các chính trị gia, một bản cáo trạng
là dấu chấm hết đối với sự nghiệp trên chính trường.
Nhưng với Ariel Sharon lại khác. Ông vẫn là nhân
vật nổi bật trong giới chính trị cánh hữu Israel,
sau những mất mát về quyền lực năm 1983 và cơ hội
vẫn còn nguyên ở phía trước.
Trở lại chính trường
Với vai trò là Bộ trưởng Xây dựng và Nhà ở Israel
trong những năm đầu thập kỷ 1990, Ariel Sharon đã
chỉ đạo chiến dịch xây dựng có quy mô lớn nhất trong
các khu định cư Do Thái ở khu Bờ Tây và Dải Gaza,
tính từ khi Israel chiếm đóng các vùng lãnh thổ
này năm 1967.
Sau đó, khi liên minh cánh hữu của ông Benjamin
Netanyahu lên cầm quyền năm 1996, vị tân thủ tướng
Israel đã phải nhượng bộ trước sức ép đưa cựu tướng
lĩnh quân đội Ariel Sharon vào nội các. Khi công
bố quyết định bổ nhiệm Sharon vào ghế ngoại trưởng
năm 1998, Thủ tướng Netanyahu gọi ông là người thích
hợp nhất cho chức vụ này.
Ông
Sharon khi làm Bộ trưởng Hạ tầng quốc gia Israel.
(Ảnh: BBC)
Sự nghiệp chính trị của Ariel Sharon tiếp tục thăng
tiến nhanh chóng và ông trở thành lãnh đạo của đảng
cánh hữu Likud, sau khi Benjamin Netanyahu bị đánh
bại hoàn toàn trong cuộc tổng tuyển cử năm 1999.
Mới đây, con trai ông Sharon là Omri thú nhận những
sai trái trong việc cung cấp tài chính cho cuộc
chạy đua của bố mình vào ghế lãnh đạo đảng Likud.
Nhưng Thủ tướng Sharon kiên quyết phủ nhận mọi liên
quan và không bị buộc tội trong vụ này.
Sau khi các cuộc đàm phán trong Trại David thất
bại năm 2000, Ariel Sharon tìm cách khuấy động cơn
bão dư luận để chống lại Thủ tướng khi đó là Ehud
Barak. Ông mô tả Barak là kẻ tiếm quyền, sẵn sàng
đổi Jerusalem lấy một bản thoả thuận hoà bình với
người Palestine. Sharon phát biểu trước quốc hội:
"Barak không có quyền từ bỏ Jerusalem, vốn
được nhân dân coi là một gia tài".
Thời cơ mới, lập đảng mới
Chuyến thăm gây tranh cãi của ông Sharon tới khu
thánh đường Al-Aqsa ở Jerusalem năm 2000, nơi cũng
được coi như thánh địa đối với người Do Thái, là
một trong những ngòi lửa thổi bùng lên cuộc nổi
dậy intifada lần thứ hai của người Palestine. Nhiều
người chỉ trích gay gắt ông Sharon vì biết biết
rõ chuyến thăm sẽ gây ra bạo lực nhưng vẫn làm.
Ngày 6/2/2001, tân Thủ tướng Ariel Sharon, người
mới chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử, cam kết
sẽ giành lại "an ninh và nền hoà bình thực
sự" cho người Israel.
Nhưng ông cũng khẳng định rằng, sẽ hoàn toàn không
bị ràng buộc vào những cuộc đàm phán trước đó với
người Palestine. Tổng thống Mỹ George Bush đã gọi
chính trị gia cứng rắn và hiếu chiến này là "người
của hoà bình".
Do sức ép từ làn sóng đánh bom tự sát và tấn công
của chiến binh Palestine nhằm vào người Israel trong
những năm 1990 và sau đó, Thủ tướng Ariel Sharon
tìm cách củng cố nền an ninh đất nước theo cách
riêng của mình, đó là cho xây dựng một bức tường
an ninh gây tranh cãi ở khu Bờ Tây.
Tuy nhiên, ông vẫn nhất quyết thực thi chính sách
triệt thoái khỏi Dải Gaza và 4 khu định cư phía
bắc khu Bờ Tây, bất chấp thái độ chống đối gay gắt
từ trong nước. Sau đó, Ariel Sharon tuyên bố sẽ
không có bất cứ cuộc rút lui đơn phương nào khác.
Ông cũng bày tỏ mình đã mường tượng ra tấm bản đồ
đường biên giới cuối cùng và lâu dài của Israel.
Thủ
tướng Ariel Sharon thăm sa mạc Negev tháng 11/2005.
(Ảnh: AFP)
Nhưng trong bối cảnh những quan điểm bất đồng ngày
càng gia tăng trong nội bộ đảng Likud về vấn đề
rút khỏi Dải Gaza, Thủ tướng Sharon buộc phải chọn
giải pháp rời khỏi đảng cánh hữu này cuối năm vừa
qua. Ông cùng với nhiều đồng minh thân cận khác
lập ra đảng mới mang tên Kadima (Tiến lên).
Đa phần các nhà phân tích coi Kadima là phương
tiện để ông Sharon thu gom các chính trị gia khác
biệt vào một mối, cùng chịu chung ảnh hưởng của
cá nhân ông.
Tuy vậy, tình hình có thể hoàn toàn thay đổi với
diễn biến sức khoẻ bất thường của Thủ tướng Ariel
Sharon. Mục tiêu chiến thắng đầy tham vọng và có
thể nhìn thấy rõ của Kadima trong cuộc bầu cử tới
có thể tiêu tan hoàn toàn, một khi ông Sharon không
bao giờ tỉnh lại được. Tất nhiên, đây chỉ là một
giả thuyết vì theo các bác sĩ, họ đang kiểm soát
được tình hình.
Sự nghiệp chính trị
1973: Thành viên của Likud trong Knesset
1975-77: Cố vấn an ninh đặc biệt của Thủ tướng Yitzhak
Rabin
1977-81: Bộ trưởng Nông nghiệp
1981-83: Bộ trưởng Quốc phòng
1984-90: Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp
1990-92: Bộ trưởng Xây dựng và Nhà ở
1996-98: Bộ trưởng Hạ tầng quốc gia
1998-99: Ngoại trưởng
2001-nay: Thủ tướng
11/2005: Rời đảng Likud lập đảng Kadima
Đình Chính (theo BBC, AP)

|