|
Đông Châu Liệt Quốc
Lời tựa
Tiểu thuyết trường
thiên của Trung Hoa xuất hiện ở đầu đời nhà Minh
, với bộ "Tam Quốc diễn nghĩa" , rồi đến
bộ "Thuỷ Hử truyên" , rồi đến bộ "Tây
Du Ký" .Ðến năm Gia Tĩnh thì xuất hiện bộ "Liệt
quốc chí truyện" của Dư Thiệu Ngư gồm 8 quyển
, 226 tiết , bắt đầu từ khi vua Trụ (nhà Thương)
lấy Ðát Kỷ , đến khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa
.
Sau đó vào cuối đời
Minh , Phùng Mộng Long cải bộ "Liệt quốc chí
truyện" , đổi tên là "Tân liệt quốc chí"
, dài 108 hồi , bắt đầu từ đời Tuyên vương nhà Chu
, cho đến đời Tần Thủy Hoàng .
Vào khoảng đời Kiến
Long nhà Thanh xuất hiện bộ "Ðông Chu liệt
quốc chí" . Bản này dựa vào bản "Tân liệt
quốc chí" mà sửa đổi lại chút ít và thêm vào
rất nhiều những lời phê bình , chú thích của Sái
Nguyên Phong .
Năm 1995 , Nhà xuất
bản Tác gia ở Bắc Kinh (Trung Hoa) phát hành bộ
"Ðông Chu liệt quốc chí" dựa vào bản của
Phùng Mộng Long . Những chỗ nào Sái Nguyên Phong
sửa chữa "Tân liệt quốc chí" một cách
sai lầm thì nhà xuất bản Tác giả khôi phục lại bản
cũ , còn những chỗ nào mà cả Phùng Mộng Long và
Sái Nguyên Phong đều sai lầm thì nhà xuất bản Tác
giả đính chính lại một cách thận trọng .
* *
"Ðông chu liệt
quốc chí" bao gồm một thời kỳ lịch sử dài hơn
400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên).
Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời
đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất
của Tần Thủy Hoàng . Sử cũng gọi thời kỳ ấy là đời
Ðông Chu (chia làm hai giai đoạn là Xuân thu và
Chiến quốc). Trong lịch sử Trung Hoa , đó là thời
kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế
độ phong kiến tập quyền (có một thuyết cho rằng
đời Xuân thu còn ở trong chế độ nô lệ) . Phùng Mông
Long căn cứ chủ yếu vào các sách "Tả truyện"
và "Quốc ngữ" của Tả Khâu Minh và sách
"Sử ký" của Tư Mã Thiên và có tham khảo
các sách "Công dương truyện" , "Chiến
quốc sách" và hơn mười bộ sử khác nữa , để
biên soạn Ðông Chu Liệt Quốc chí "Sử
* *
Tư tưởng toát ra
trong suốt bộ tiểu thuyết này là tư tưởng "dân
bản" của nhà nho : dân là gốc của nước , là
sức mạnh của nước ; không phải vũ lực quyết định
sự thành công hay sự thất bại mà chính là lòng dân
. Trong truyện , những bậc anh hùng cứu nước (Huyền
Cao , Tín Lăng quân , Lạn Tương Như , v.v...) những
nhà trí thức chính trực (Ðổng Hồ , Lỗ Trọng Liên
, v.v...); những người chấp chính có nhiệt tình
với dân với nước (Quản Trọng , Tử Văn , Tôn Thúc
Ngao,v.v...) đều được tác giả nhiệt liệt ca ngợi
và đề cao .
Mặt khác , tác giả
miêu tả không dè dặt , không nể nang , cái bản chất
xấu xa , bỉ ổi của giai cấp thống trị . Những mâu
thuẫn sâu sắc giữa các tập đoàn thống trị , sự tranh
giành quyền lợi giữa các cá nhân , gây nên vô số
những cuộc chính biến và những cuộc tàn sát trong
hơn bốn thế kỷ . Cũng không sao nói hết được sự
dâm loạn vô sỉ ở chốn cung đình : quan hệ nam nữ
bậy bạ giữa anh em ruột , giữa bố chồng và nàng
dâu , con chồng và thứ mẫu ,v.v... (Tề Khương công
và nàng Văn Khương , Vệ Tuyên công và nàng Tuyên
Khương , Tấn Hiền công và nàng Tề Khương , v.v...)
đều được tác giả kể lại và có thái độ phê phán .
Sự ngu xuẩn của bọn thống trị thì được biểu hiện
trong những nhân vật điển hình là Tống Tương công
(dựng cờ nhân nghĩa , không chịu đánh giặc trong
lúc giặc đang qua sông) , Vệ công (cho hạc làm quan)
, Yên Khoái (bắt chước Nghiêu , Thuấn nhường ngôi)
v.v... Tuẫn táng là một tập tục vô nhân đạo do sự
ngu xuẩn của bọn đế vương sinh ra : Tề Hiều công
chôn sống hơn hai trăm nội thị và cung nhân , để
cho cha mình (chết rồi) có người hầu hạ ở dưới đất
; 177 người dân , trong đó có những người ưu tú
(Tam Lương) cũng chịu một số phận như vậy ở đất
Ung , táng địa của Tần Mục công ; Ngô vương Hạp
Lư đánh bẫy hơn một vạn nam nữ để tuẫn táng cho
con gái chết yểu của mình là Thắng Ngọc .
Bên cạnh những tư
tưởng tiến bộ , thì do sự hạn chế của thời đại ,
Phùng Mộng Long cũng không tránh khỏi những quan
điểm tiêu cực , lạc hậu .
Ở "Ðông chu
liệt quốc" , tư tưởng chính thống và định mệnh
rất phổ biến . Vua nhà Chu làm thiên tử là do mệnh
trời , cho nên những nước chư hầu nào xưng vương
đều bị coi là "tiếm" . Ðó là tư tưởng
chính thống , xây dựng trên quan điểm định mệnh
.
"Ðông Chu liệt
quốc" cũng đề cao "trung hiếu tiết nghĩa"
phong kiến . Chữ "trung" ở đây là sự trung
thành tuyệt đối của kẻ làm tôi , làm dân đối với
cá nhân thiên tử là người được coi như chịu mệnh
trời để cai trị thiên hạ . Trong "Ðông Chu
liệt quốc" không thiếu gì chuyện vua bắt kẻ
làm tôi phải chết , kẻ bề tôi phải vui lòng chết
theo để được tiếng là "trung" . Chữ "hiếu"
cũng cùng bản chất với chữ trung vì thiên tử được
coi như là cha mẹ dân . Công tử Thọ và Cấp Tử nước
Vệ vui lòng chết để khỏi trái đạo "hiếu"
đối với một người cha tàn ác , bất công . Chữ "trinh"
chữ "tiết" cũng được quan niệm một cách
hẹp hòi , biểu hiện một quan hệ phụ quyền rất chặt
chẽ . Người con gái nước Sở giặt vải ở bờ sông Lại
Thủy đã nhảy xuống sông chết chỉ vì đã "trót"
nói chuyện và cầm nắm cơm đưa tận tay cho Ngũ Tử
Tư là một người trai nước Sở đương lánh nạn . Chữ
"nghĩa" thì thường thường được xây dựng
trên cơ sở ân oán cá nhân . "Sĩ vị tri kỷ giả
tử" kẻ sĩ phải lấy cái chết đạ đền ơn người
biết mình , nếu không thì không đáng gọi là kẻ trượng
phu . Dự Nhượng huỷ hoại cả thân thể mình để đi
báo thù cho Tri Bá ; Yêu Ly không những để cho người
ta chặt tay mình đi , lại còn bằng lòng để cho người
ta giắt cả vợ con mình để đền đáp ơn người tri kỷ
. Những truyện như thế rất nhiều trong Ðông Chu
liệt quốc . Do đó , nếu chữ "nghĩa" có
thể đem lại đoàn kết để phục vụ chính nghĩa , thì
nó lại hay bị giai cấp thống trị quí tộc lợi dụng
mà mưu đồ lợi riêng .
Nhiều nhà phê bình
trước đây đã chỉ trích sự mê tín , ma quỷ bói toán
, nhân quả , báo ứng , trong sách "Tả truyện"
. "Ðông Chu liệt quốc" không những thừa
kế sự mê tín ấy mà còn tăng cường nó lên . Ngay
trong hồi thứ nhất đã có đến bốn năm chuyện huyền
hoặc : đứa trẻ mặc áo đỏ dạy bài hát chẳng lành
, những cung phi có thai bốn mươi năm , người con
gái hiện hình ở trai cung , oan hồn của Ðậu Bá và
Tả Nho đòi mạng , v.v... Về sau lại còn vô số những
chuyện điềm tốt , điềm xấu , quỉ thần , đồng cốt
, yêu quái , v.v... Những chuyện hoang đường như
thế thường thấy chép trong nhiều truyện cổ nói chung
.
Tất nhiên ngày nay
ta không tin những chuyện ấy là có thực mà hiểu
rằng hoặc là do sự hạn chế của thời đại , tác giả
"Ðông Chu liệt quốc" không thể có cái
nhìn khoa học như chúng ta ngày nay đối với mọi
vấn đề xã hội ; hoặc là ở dưới chế độ cũ mà vua
chúa có uy quyền tuyệt đối , người cầm bút không
thể nói ra sự thật nên phải mượn câu chuyện U vương
nhà Chu mất nước ở mấy hồi đầu tiểu thuyết "Ðông
Chu liệt quốc" , theo chúng tôi , đã được tô
đậm màu sắc hoang đường , cũng không ngoàng Chu
liệtý quốc", theo yếu ấy .
Về nghệ thuật tính
của "Ðông Chu liệt quốc" thì trước hết
phải nói đến vấn đề kết cấu . Từ khi Bình vương
nhà Chu dời kinh đô sang Ðông đến Tần Thuỷ Hoàng
thống nhất đất nước là một thời kỳ hắc ám , hỗn
loạn , vô cùng phức tạp , có vô số những cuộc chính
biến , tàn sát ; vô số những cuộc chiến tranh hoặc
nhỏ , hoặc lớn , hoặc giữa vài ba nước , hoặc giữa
hàng chục nước ; vô số những chuyện thi thố tài
năng ; vô số những nhân vật xấu , tốt ; vô số những
đời sống tư nhân có liên quan với những sự kiện
chính trị lớn nhỏ . Tất cả những cái đó , phải được
tổ chức lại , tổng hợp lại như thế nào ; trọng tâm
, trọng điểm phải đặt ở những chỗ nào , những lúc
nào ; các hồi , các đoạn phải được phân phối như
thế nào , để cho cái mớ sự kiện và nhân vật ấy trở
thành một chuyện hoàn chỉnh ? "Xuân thu"
, "Tả truyện" , "Công dương"
, "Cốc lương" thì tự thuật các sự kiện
ấy theo thứ tự năm tháng (biên niên) "Quốc
ngữ" , "Chiến quốc sách" thì ghi
chép theo từng nước . Tư Mã Thiên thì đã biên tả
theo từng mục , loại . Phùng Mộng Long đã giải quyết
vấn đề kết cấu của "Ðông Chu liệt quốc"
một cách sáng sủa và tự nhiên , đứng trên quan điểm
chính thống mà tự thuật những sự biến chính trị
và quân sự trên còn đường thay đổi "thiên mệnh"
từ nhà Chu đến nhà Tần , bắt đầu từ khi nước Trịnh
lấn át thiên tử và trải qua sự nghiệp bá chủ của
nước Tề , nước Tấn , nước Sở , nước Ngô , nước Việt
, rồi đến chính sách "hợp tung" và "liên
hoành" của Tô Tần , Trương Nghi và kết thúc
bằng sự thống nhất của nước Tần . Với những điều
kiện phiền phức như đã nói trên đây , người ta không
có thể đòi hỏi thêm nữa , mà người ta chỉ có thể
khen ngợi tác giả đã khái quát được những sự kiện
vô cùng rối ren ấy đạ hiến độc giả một bức hoạ bao
la về một thời kỳ lịch sử cổ đại rộng lớn của Trung
Hoa .
Một số nhân vật trong
"Ðông Chu liệt quốc" được ngòi bút tác
giả miêu tả rất sinh động , rất "nổi"
. Ðọc "Ðông Chu liệt quốc" , không mấy
ai quên được những nhân vật như Tín Lăng quân ,
Ngũ Tử Tư , Phạm Lãi , Lạn Tương Như , Kinh Kha
, Chuyên Chư, Nhiếp Chính v.v... Chính là trên cơ
sở những mâu thuẫn gay gắt của những sự kiện chính
trị lớn, tác giả đã khéo thông qua ngôn ngữ và hành
động mà xây dựng nên hình tượng nghệ thuật những
nhân vật điển hình đó .
Người Ðông Chu thì
thế , đến việc Ðông Chu thì tác giả lại khéo có
ngòi bút tự sự thật gọn gàng, sáng sủa và đồng thời
lại còn rất khẩn trương , cảm động nữa . Có những
sự kiện rất phức tạp , quanh co , mà tác giả chỉ
cần nửa hồi để thuật lại một cách rất mạch lạc,
trôi chảy, như đoạn viết về bốn họ tranh quyền nhau
ở nước Tấn . Lại có những sự việc kéo dài trong
đó quan hệ giữa các nhân vật biến hoá không ngừng
, cục diện phát triển như đợt sóng , lên lên xuống
xuống , tầng tầng lớp lớp , như chuyện Sái Túc nước
Tống lập vua , chuyện Trung Nhĩ nước Tấn lánh nạn
, chuyện Ngũ Tử Tư nước Sở báo thù v.v... Những
đoạn ấy kéo dài nhiều hồi và ngòi bút tự thuật của
tác giả đã khéo dẫn dắt người đọc một cách tài tình
hết hồi nọ sang hồi kia , những người đi đường xa
mỗi bước lại thấy hoa thơm cỏ lạ , mỗi lúc một thấy
phong cảnh đổi mới đột ngột , bất kỳ .
Lời văn "Ðông
Chu liệt quốc" tuy không uyên thâm , điển nhã
như Văn Tả truyện , văn Sử ký , nhưng có ưu điểm
là cụ thể , rõ ràng , dễ hiểu . Nhiều đoạn rất hàm
súc, nhiều đoạn lại rất tình tứ , nên thơ . Như
đoạn viết về hai anh em công tử Thọ nước Vệ :
"... Công tử
Thọ liền bước sang thuyền Cấp Tử , rót một chén
rượu để mời , nhưng chưa kịp nói gì thì nước mắt
đã ứa ra , rỏ xuống chén rượu . Cấp Tử vội vàng
đỡ lấy mà uống . Công tử Thọ nói : "Chén rượu
này đã bẩn mất rồi !" Cấp Tử nói : "ấy
, chính anh uống cái tình của em ở trong ấy !"
Công tử Thọ gạt nước mắt nói : "Chén rượu hôm
nay là chén rượu vĩnh biệt của anh em ta . Nếu anh
nghĩ đến tình em thì xin gắng uống cho thật nhiều...".
Và đoạn tả Lộng Ngọc
thổi sáo đêm trăng :
"... Lộng Ngọc
ở trên lầu cuốn rèm lên ngắm cảnh , thấy trời tạnh
mây trong , trăng sáng như gương , gọi thị nữ đốt
một nén hương , rồi đi lấy cái ống sinh làm bằng
ngọc bích , đến bên cửa sổ mà thổi . Tiếng sinh
véo von vọng lên vòm trời , gió hây hây thổi , bỗng
nghe như có người họa lại, khi gần khi xa . Lộng
Ngọc không khỏi băn khuăn , bèn ngừng lại , không
thổi nữa , có để nghe xem sao . Tiếng họa cũng im
đi , nhưng dư âm còn lẽo đẽo không dứt . Lộng Ngọc
bâng khuâng trước gió , như một người vừa đánh mất
vật gì . Chốc đã nửa đêm , trăng xế hương tàn ,
nàng đem ống sinh để trên đầu giường , gắng gượng
đi nằm .
* *
Ở cuối đời Minh ,
sau bộ "Ðông Chu liệt quốc chí" còn xuất
hiện hơn hai mươi bộ tiểu thuyết lịch sử , như "Nam
Bắc sử diễn nghĩa" , "Tổng truyện"
, "Tây Hán diễn nghĩa" , "Lưỡng Tấn
diễn nghĩa" , v.v... Về giá trị văn học và
phạm vi ảnh hưởng thì "Ðông Chu liệt quốc chí"
đứng đầu các bộ tiểu thuyết ấy , theo sự nhận định
của các nhà phê bình xưa và nay .
Trân trọng giới thiệu
bộ tiểu thuyết "Ðông Chu liệt quốc" với
các bạn đọc .
Cao xuân
huy
Lời
tựa
Hồi 1 Hồi
2 Hồi
3 Hồi
4 Hồi 5
Hồi 6 Hồi
7 Hồi 8 Hồi
9 Hồi 10 hồi
11 hồi 12 hồi
13 hồi 14 hồi
15 hồi 16 hồi
17
hồi
18 hồi 19 hồi
20 Hồi 21 hồi
22 hồi 23 hồi
24 Hồi 25 Hồi
26 Hồi 27 Hồi
28 Hồi 29 Hồi
30 Hồi 31 Hồi
32 Hồi 33 Hồi
34 Hồi 35 Hồi
36 Hồi 37 hồi
38 hồi 39
hồi 40 hồi 41 hồi
42 hồi 43 hồi
44 Hồi 45 Hồi
46 Hồi 47 Hồi
48 Hồi 49 Hồi
50 Hồi 51 Hồi
52 Hồi 53 Hồi
54 Hồi 55
Hồi 56 Hồi 57 Hồi
58 Hồi 59
Hồi 60 Hồi 61
Hồi 62 Hồi 63 Hồi
64 Hồi 65 Hồi
66 Hồi 67 Hồi
68 Hồi 69 Hồi
70 Hồi 71 Hồi
72 Hồi 73 Hồi
74 Hồi 75
Hồi 76 Hồi 77
Hồi 78 Hồi 79 Hồi
80 Hồi 81 Hồi
82 Hồi 83 Hồi 84 Hồi
85 Hồi 86 Hồi
87 Hồi 88
Hồi 89 Hồi 90 Hồi
91 Hồi 92 Hồi
93 Hồi 94 Hồi
95 Hồi 96 Hồi
97 Hồi 98 Hồi
99 Hồi 100
Hồi 101 Hồi 102 Hồi
103 Hồi 104 Hồi
105 Hồi 106 Hồi
107 Hồi 108
XEM
TIẾP
|