Không thương hiệu, trái cây thua ngay trên sân nhà


Trái cây đồng bằng sông Cửu Long đang thua ngay trên sân nhà bởi trái cây ngoại nhập tràn ngập thị trường. Nhận định của giới chuyên môn: Trái cây miền Tây ngon thì có ngon nhưng không có thương hiệu nên thua kém mọi bề.

Xây dựng thương hiệu trái cây là chuyện không mới vì đã được giới chuyên môn đề cập từ nhiều năm nay. Nhưng đến cuối năm 2004, theo Hiệp hội Trái cây Việt Nam (HHTCVN), cả vùng sản xuất trái cây của Nam Bộ chỉ mới có được... năm loại trái có đăng ký thương hiệu là xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), bưởi Năm Roi Hoàng Gia, cam sành Tam Bình (Vĩnh Long) và thanh long Bình Thuận. Mới đây, HHTCVN lại tuyên bố trong thời gian tới sẽ tiếp tục xây dựng, phát triển thêm 30 thương hiệu trái cây để nâng sức cạnh tranh với trái cây các nước trên thị trường xuất khẩu.

Chủ vườn dửng dưng

Cho đến nay Việt Nam chỉ mới có năm doanh nghiệp và bốn sản phẩm trái cây có đăng ký bảo hộ thương hiệu ở nước ngoài, mặc dù Việt Nam từng được nhiều người ví von là “vương quốc cây ăn trái” với nhiều chủng loại đặc sắc. Ngay tại ĐBSCL, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, HHTCVN cũng vừa bàn bạc với các địa phương có diện tích trồng cây ăn trái lớn như Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp xây dựng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ trái cây an toàn trên diện tích khoảng 200.000 ha. Theo các quan chức của hiệp hội, đây là một trong những tiền đề để làm cơ sở xây dựng và phát triển thương hiệu trái cây trong vùng.


Nhưng, trong lúc HHTCVN và các cơ quan có liên quan đến vấn đề xây dựng thương hiệu trái cây ra sức hô hào thì các chủ vườn ở miền tây lại có thái độ dửng dưng. Đề cập đến việc đăng ký thương hiệu, các chủ vườn đều thổ lộ: “Thủ tục nhiêu khê, rắc rối, chi phí tốn kém, chờ đợi mỏi mòn và có thương hiệu rồi cũng... chẳng được gì”. Nhiều chủ vườn dẫn ngay ra một chuyện “thời sự thương hiệu”: Ông Nguyễn Văn Hóa, chủ nhân thương hiệu “sầu riêng Chín Hóa” Chợ Lách, Bến Tre sợ người ta ăn cắp tên giống sầu riêng đặc sản của mình nên năm 2002 vội vàng lập thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa độc quyền.


Chỗ nào cũng “sầu riêng Chín Hóa”


Tốn một mớ tiền, dài cổ chờ đợi chín tháng trời để hồ sơ đi từ Chợ Lách ra Hà Nội, đến tháng 5-2003 ông Chín Hóa mới được Cục Sở hữu Công nghiệp (Bộ KH-CN) cấp giấy chứng nhận đăng ký độc quyền nhãn hiệu hàng hóa “sầu riêng Chín Hóa”. Có được tấm giấy chứng nhận độc quyền trong tay, ông Chín Hóa cứ đinh ninh từ nay sẽ an tâm làm ăn. Chẳng ngờ ngó đi ngó lại thị trường cây giống chỗ nào cũng thấy bày bán “sầu riêng Chín Hóa” mà không rõ nguồn gốc xuất xứ. Khiếu nại ở đâu, ai xử, xử như thế nào... là những vấn đề mà ông Chín Hóa đau đầu nên đành để mặc cho mấy tay gian thương tung hoành.


Nói về vấn đề này, ông Ngô Kỷ, Phó trưởng Phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ (Sở KH-CN Tiền Giang), nhìn nhận: “ Hiện nay quy trình đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đã đơn giản rất nhiều. Các cá nhân muốn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa chỉ cần nộp giấy phép kinh doanh, mẫu mã nhãn hiệu, mẫu biểu tượng, lệ phí và yên tâm... chờ. Thời gian trung bình từ khi nhận đăng ký đến khi cấp giấy chứng nhận là chín tháng, đã giảm được ba tháng so với những năm trước. Sở dĩ lâu như vậy là do Cục Sở hữu Công nghiệp cần phải có thời gian rà soát xem nhãn hiệu này đã có ai đăng ký hay chưa”. Tuy nhiên, theo ông Kỷ thời gian chín tháng cho việc xét cấp một nhãn hiệu hàng hóa cũng còn nhanh hơn so với thời gian lập thủ tục xét cấp tên gọi xuất xứ hàng hóa. Những trường hợp xem xét chứng nhận tên gọi xuất xứ hàng hóa phải mất nhiều năm là chuyện thường vì thủ tục rất nhiêu khê: lập bản đồ diện tích tự nhiên,vùng địa lý, dân số trong vùng, sản lượng hàng hóa; mô tả hình dáng, kích thước, màu sắc, chất lượng sản phẩm...


Sản xuất manh mún, làm sao cạnh tranh?


Trong lúc HHTCVN đang tất bật vì chuyện thương hiệu thì các nhà khoa học về cây ăn trái lại không khỏi băn khoăn.


Viện trưởng Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam cho biết: ĐBSCL đang có hơn 250.000 ha vườn cây ăn trái, tổng sản lượng hằng năm gần năm triệu tấn quả các loại, trong đó không thiếu những chủng loại thuộc hàng đặc sản như xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, măng cụt, sầu riêng, bưởi... Nhưng hiện nay người tiêu dùng lại khoái chọn mua xoài, cóc, sầu riêng, măng cụt... của Thái Lan hơn trái cây đặc sản nội địa. Vì sao? Trái cây đặc sản của miền tây ngon nhưng...hiếm quá nên giá rất cao, người tiêu dùng quay lưng là điều tất yếu. Kỳ cục hơn, mang tiếng là vùng chuyên canh trái cây lớn nhất nước nhưng khách hàng đến bất kỳ chợ trái cây đầu mối nào trong khu vực hỏi mua cùng lúc 100 kg xoài Hòa Lộc hoặc 100 trái bưởi da xanh thì đều nhận được cái... lắc đầu của người bán. Nhiều chuyên gia cho rằng “Sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng kém, cung không đủ cầu, giá cả trên trời như vậy thì cạnh tranh với ai, làm sao xây dựng thương hiệu?”.


Không có vùng chuyên canh: Lợi ít, hại nhiều


Muốn xây dựng thương hiệu trái cây mạnh thì trước hết cần phải quy hoạch được những vùng chuyên canh lớn, đủ năng lực sản xuất trái cây hàng hóa cung ứng cho thị trường. Vấn đề này đã được Viện Cây ăn quả đề xuất với các tỉnh từ năm 1998 nhưng đến nay đã bảy năm trôi qua mà tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ vẫn không thay đổi. Ngành nông nghiệp các tỉnh cứ nại lý do: Phải có thị trường tiêu thụ ổn định trước mới xây dựng vùng chuyên canh sau; trong khi các nhà khoa học lại cho rằng thị trường không thiếu, chỉ thiếu trái cây số lượng nhiều và chất lượng cao. Dù không phản bác nhưng các nhà khoa học về cây ăn trái đã cảnh báo: Việc ồ ạt xây dựng thương hiệu trái cây kiểu “chạy theo phong trào” trong lúc chưa xây dựng được vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung với chất lượng cao sẽ lợi ít, hại nhiều.


Người lao động





|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thể Thao |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện

PHÁT MINH, KHÁM PHÁ

LỊCH SỬ VĂN MINH, VĂN HOÁ VIỆT NAM
LỊCH SỬ CÁC PHÁT MINH
TIỂU SỬ DANH NHÂN
KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

DANH NHÂN VIỆT NAM

 

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT II