|
I) Trống đồng Việt Nam phân bố ở
nhiều nơi
Trên đất nước ta, từ Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn...
đến Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Nai, Sông Bé, Khánh Hòa, Vũng Tàu... vào tận
vùng hải đảo xa xôi Phú Quốc. Ngoài ra, bằng con đường giao lưu văn hóa
hoặc trao đổi, trống đồng Việt Nam vượt biên giới đến những nước lân cận
trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Thailand, Malaysia...
Trống
đồng Việt Nam có nhiều loại hình, nhưng tất cả khởi nguồn từ trống Đông
Sơn mà đỉnh cao là sự hoàn thiện kỹ thuật chế tạo là trống đồng Ngọc
Lũ.

Trống đồng Việt Nam có niên đại khởi đầu khoảng
thiên niên kỷ I trước Công nguyên
cho đến một
vài thế kỷ sau công nguyên. Nó là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ,
cộng đồng cư dân đã chinh phục vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, một vùng
đất chứa nhiều sản vật thiên nhiên nhưng cũng đầy thử thách. Tổ tiên ta đã
vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và
sáng tạo hiếm có đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau bản địa, nền văn
hóa đồng thau vào loại bậc nhất Đông Nam Á.
Trống đồng là biểu hiện
tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và
quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta - Nhà
Nước Hùng Vương. Trống đồng và những hình khắc họa trên trống đã giúp
chúng ta ngày nay hình dung được đôi nét về cuộc sống của người Việt cổ ở
thời xa xưa ấy. Hoa văn trên trống đồng có nhiều loại, kiểu bố trí hợp lý
trên các phần mặt, tang và thân trống. Nó được các nhà nghiên cứu tìm
hiểu, phân tích để làm một trong những cơ sở khoa học trong phân loại
trống và khắc họa những nét sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa Đông Sơn
thời bấy giờ.
Trống Đồng Đông Sơn: là
một loại nhạc cụ
dùng trong các buổi lễ hay khi đi đánh nhau. Trống đồng
được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất Việt Nam, như Thanh Hóa (Đông Sơn, 24
trống), Hà Đông (9 trống), Bắc Ninh, Cao Bằng (mỗi tỉnh 3 trống), Hà Nam,
Hà Nội, Hoà Bình, Kiến An (mỗi nơi 2 trống), Nam Định, Lào Cai, Sơn Tây,
Yên Bái, Hải Dương, Nghệ An, Thủ Dầu Một, Kontum (mỗi nơi một trống). Ở
Hoa Nam thì tìm thấy nhiều nhất, ở Vân Nam (5 trống). Các tỉnh khác thì
Quế Châu, Quảng Tây, Tứ Xuyên (mỗi tỉnh tìm thấy 3 trống), Quảng Đông (2
trống). Tại Cam bốt, Lào, Thái Lan, Miến Điện, MãLai, Nam Dương cũng thấy
nhiều trống đồng cổ. Riêng Thái Lan và Lào cũng như ở xứ Mường (thượng du
Việt Nam) ngày nay người ta vẫn còn dùng trống đồng. Trống đồng đẹp nhất
phải kể đến các trống Ngọc Lũ, Hoà Bình, và Hoàng
Hạ.
Trống Đồng Ngọc
Lũ:
Tìm thấy ở chùa Ngọc Lũ (Hà Nam) vào năm 1901.
Trống này cao 0,63 mét (1.8 ft), đường kính mặt trống 0,86 mét (2.5 ft),
được trang trí bằng các hình chạm sâu xuống cả trên mặt trống lẫn tang
trống. Chính giữa mặt trống là một hình ngôi sao (hay mặt trời) 14 cánh.
Chung quanh ngôi sao này là 16 vòng tròn đồng tâm có trang trí bằng nhiều
hình kỷ hà hay hình vẽ khác nhau. Giữa vòng thứ 5 và thứ 6 có khắc hình 2
căn nhà mái cong, có sàn, trong có người tóc dài ngồi. Trước nhà là 4 dàn
trống và đoàn vũ nhạc nhảy múa, thổi khèn. Sau nhà có 2 người đang giã
gạo. Xen kẽ với 2 nhà sàn trên là 2 nhà sàn mái tròn trong có người cầm
kiếm. Trước nhà này có một người tay phải cầm kiếm, tay trái cầm một con
chim. Sau nhà là một đoàn võsĩ cầm lao, cầm kiếm đang múa. Giữa vòng thứ 7
và thứ 8 có chạm hình 2 đàn hươu (10 con mỗi đàn) và xen kẽ với 2 đàn chim
đang bay (mỗi đàn 8 con). Giữa vòng thứ 8 và thứ 9 có khắc 18 con chim mỏ
dài đang bay, xen kẽ với 18 con chim đang đậu dưới đất. Trên tang trống,
phần phình ra có khắc hình thuyền trên có những người cầm lao, kiếm, cung,
đang chuẩn bị chiến đấu, hoặc đang nhảy múa hoặc chèo thuyền. Trên phần
thẳng đứng có những đường trang trí kỷ hà thẳng đứng hay nằm ngang đóng
khung lấy những hình người cầm rìu và lá chắn.
II)
Trống Đồng Hòa Bình:
Tìm thấy ở Mường Dâu, Hòa Bình. Trống này được gọi
là trống Moulié (tên người mua được và tặng lại cho Viện Bảo Tàng). Trống
này được tàng trữ trong Bảo Tàng Quân Đội Pháp, rồi được chuyển cho Bảo
Tàng Viện Guimet (Paris).
Trống Đồng
Hoàng Hạ :
Tìm thấy ở làng Hoàng Hạ (Hà Đông), cao 0,615 mét
(1.84 ft) và đường kính mặt trống là 0,78 mét (2.3 ft). Mặt trống đồng
Hoàng Hạ cũng trang trí bằng các vòng tròn đồng tâm trong đó có khắc hình
nhà sàn, người, chim bay. Tang trống chỗ phình ra cũng khắc hình thuyền.
Các nhân vật trên thuyền tương tự như ở trống Ngọc Lũ, nhưng thứ tự bố trí
hơi thay đổi một chút. Các trống đồng tìm thấy ở Hoa Nam, Lào, Cam bốt, Mã
Lai tuy về hình thức (hình dáng và trang trí) có giống trống đồng Lạc
Việt, nhưng những nét chạm trổ còn thô sơ vô cùng. Có thể đấy chỉ là những
trống bắt chước trống Lạc Việt một cách vụng về mà thôi. Trống đồng Hoàng
Hạ là một di vật rất quý.
Trống là một cổ vật của chung miền Nam Á,
gồm cả Tàu, Việt, Miên, Thái, Phi, Miến, Mã Lai, Nam Dương... mà trung tâm
phát xuất lớn nhất là Việt Nam. Trống đã xuất hiện lu bù ngay từ thời
khuyết sử, dưới rất nhiều hình thức như trống đất, trống gỗ, trống đồng,
trống cầu mưa, trống sấm, trống vu hích, trống cầm canh... kể ra không
hết. Huyền thoại có nói đến trống da quì (giao long) của Hoàng Đế, trống
một chân của nhà Hạ (túc cổ), trống có lỗ thông giữa của nhà Thương (doanh
cổ)... lịch sử Tư Mã Thiên có nhắc tới vụ vua
nhà Chu cho Tần Mục Công một chiếc trống đồng vào năm 623 trước công
nguyên. Riêng với Việt Nam, năm 43, lúc Mã Viện
sang đánh Trưng Nữ Vương đã thu hết trống đồng đưa về tặng bạn bè, hoặc
phá ra đúc ngựa mẫu. Từ đấy, trống bị quên lãng dần dưới ách ngoại bang...
Trong Lĩnh Nam Trích Quái, có truyện "Minh chủ Đồng cổ sơn thần truyện"
nhắc tới trống theo khía cạnh này. Đến thời Pháp thuộc, vào lối 1885-
1895, thực dân mới nhận ra trống đồng là một di vật rất quý, nên tìm mua
khắp nơi. Xin ghi lại đây mấy chiếc nổi tiếng. Trước hết là 2 chiếc loại thời danh
nhất: Một do Moulié lấy được của bà góa quan lang người Mường ở miền Sông
Đài tỉnh Hoà Bình. Chiếc này được đem trưng bày ở Hội Chợ Quốc Tế Paris
1889 rồi mất tích. Đến năm 1936 thấy xuất hiện ở bảo tàng viện Guimet.
Hai, là chiếc trống Khai Hóa, do Gillet lấy được ở một tù trưởng Miêu tộc
trên Vân Nam, cũng đưa đi đấu xảo ở Paris, rồi mất tích. Sau thấy xuất
hiện ở bên Đức, tại bảo tàng viện dân tộc học thành Vienne. Chiếc trống
đồng thứ ba là trống Ngọc Lũcủa chùa Long Đại Sơn, làng Ngọc Lũ, tỉnh Hà
Nam. Năm 1901, trường Viễn Đông Pháp đã nhờ trung gian chánh sứ Phủ Lý lấy
trống ấy về Viễn Đông Bác Cổ, nay ở Hà Nội. Chiếc trống thứ tư là trống
Hoàng Hạ, tìm được vào năm 1932, nhân lúc khai sông gần làng Hoàng Hạ,
tỉnh Hà Đông. Trống được trao cho trường Viễn Đông Pháp, để ở bảo tàng
viện Finot, nay cũng ở Hà Nội. Đó là cặp trống đẹp nhất, cổ nhất, hơn cả 2
trống Sông Đà và Khai Hóa... Có thể kể ở đây chiếc trống thứ năm, gọi là
Trống Hà Nội, được Anderson mua, đưa về Stockhom. Và chiếc thứ sáu là
trống Lào, tìm được bên đường cái Oubon bên Lào vào năm 1924. Theo
Goloubew, chiếc trống này rất đẹp, cũng vào hạng cổ nhất, vì ít bị kiểu
thức hóa. Mặt trống rộng 86 cm, cao 54 cm.
Vòng 1 có 5 cặp vật giống giao long châu đầu vào nhau. Có nai và cả cá
nữa. Về loại to nhất có trống Đông Hiếu (Nghệ An) rộng 89 cm, hiện ở Hà
Nội. Theo Goloubew, còn một chiếc trống rộng tới 1 mét (3 ft) của một tay
chơi người Pháp tên là Nelson trước ở Bắc Xế, Lào. Nghe nói ở bên Mỹ có
một trống to cả thước mặt, hay là chiếc trống nói ở đây chăng? (Chúng tôi
thấy có một trống rất lớn ở bảo tàng Chicago. Hay là chính nó?). Phân Loại
Trống Đồng Bên Tây Âu có dấu vết đã biết về trống đồng từ năm 1682 (xem
Asie du Sud Asiatique, Tome II Le Vietnam, L. Bezacier, Paris, Picard
1972). Nhưng mãi tới cuối thếkỷ 19 mới có học giả bàn về trống đồng như
Hirth (1890) mà ông cho là bởi Tầu. Rồi De Grooth (1901) cho là của Việt
Tộc. Ông Franz Heger, một học giả người Đức làm cố vấn trong hội nghị
nghiên cứu về Viễn Đông ở Hà Nội năm 1902 đã cho xuất bản tại Leipzig 2
quyển về trống đồng cổ ở Đông Nam Á. Sách in khổ lớn, có 45 hình và một
bản mục lục về tất cả các diễn đề. Ông Heger chống lại ý kiến của Hirth
cho trống đồng là sản phẩm của Tầu, ủng hộ ý kiến của Grooth cho là của
Việt Tộc, quả quyết trung tâm các cuộc tìm kiếm sau này về trống đồng phải
là ở Bắc Việt, và xin người Pháp chú ý đến di vật đầy tính chất văn hóa
này. Ông Heger phân chia 165 chiếc trống được biết đến lúc ấy thành 4
loại. Vì sự phân chia này được các học giả công nhận, nên chúng ta cần
duyệt qua để có một ý niệm khái quát:
Loại I thường
lớn, thân trống hình trụ thẳng đứng. Mặt dưới để trống, mặt trên có hình
sao đúc nổi với 12 cánh. Trên một số trống, chỉ có 8 cánh sao, như trống
Quảng Xương. Hoặc 14 cánh như trống Ngọc Lũ, Sông Đà, Thượng Lâm. Hoặc 16
cánh như trống Hoàng Hạ, Salayar. Loại I này tìm được nhiều nhất ở Việt
Nam, tiêu biểu nhất là trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, và Sông
Đà.
Loại II thân
trống chỉ có 2 phần, không có hình người hay vật nữa, thay vào đó toàn là
hoa văn hình học. Trên mặt trống thường có hình khối 4 con cóc, đôi khi 6
con. Mặt trời có 8 tia. Loại này tìm thấy nhiều ở Việt Nam cũng như mạn
Nam Trung Hoa.
Loại III quai nhỏ
đẹp. Mặt trời có 12 cánh. 4 góc mặt có cóc, thường là 3 con chồng lên nhau
thành 12. Trang trí toàn bằng đồ án hình học và hoa văn. Dưới chân có đoàn
voi đúc nổi đi chung quanh cây "đời sống". Đôi khi ốc thay voi. Người ta
tìm thấy loại này ở Miên. Loại IV riêng của Tầu như được chứng tỏ bằng hồi
văn gẫy khúc. Kích thước thường nhỏ, không có cóc. Ngôi sao bao giờ cũng
12 tia, nhiều khi nói rõtên 12 con vật địa chi. Loại này cũng như loại
III, đều xuất hiện muộn, nhưng chưa xác định được niên đại. Ngoài 4 loại
trên có thể kể thêm loại trống Trấn Ninh (Vân Nam) mới tìm được hồi năm
1955, trên mặt có những khối hình người và thú (bò, ngựa, chó) diễn lại
những cảnh sống: săn, chiến, lễ... Loại này khác hẳn ở chỗ thân trống cao,
trên mặt thêm nhà cùng hình khối, quai là 2 con hổ.
|