| 
Hà
Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường
Kí ức trong những
cái tên
Bắt đầu
câu chuyện về Hà Nội, người ta thường nghĩ ngay
đến kho "di sản gạch ngói" hay là những
thứ "văn vật", thời thượng hơn thì dùng
từ "văn hoá vật thể" để chỉ những cấu
trúc xây dựng của đô thị, trong đó chủ đề phố cổ
luôn nóng hổi và dù nghe đã nhàm tai, đã biết quá
rõ những gì gọi là đẹp đẽ, những gì trầm kha của
một khu phố luôn được nhắc đến hàng đầu trong những
nghị quyết về văn hoá xã hội thủ đô hay những hội
thảo chuyên đề về Hà Nội, nhưng hình như vẫn chưa
ra được đáp số. Trong muôn việc rắc rối đó, chuyện
mấy phố Hàng gì bán gì có vẻ dễ hiểu nhất. Ai cũng
có thể suy luận từ tên phố ra tên hàng, và chắc
mẩm nó vẫn như mình tưởng [1] . Nhất là những người
Hà Nội hôm nay vẫn hình dung về mạng lưới phố cổ
như những đường chỉ chằng chịt trong lòng bàn tay,
nhắm mắt cũng biết, những con đường ẩn chứa những
thông điệp sinh mệnh đời sống, quá khứ và tương
lai?
Diện tích khu phố cổ rất nhỏ, nhất là so với diện
tích của một Hà Nội mới trong quy hoạch. Với khoảng
100 ha [2] , tức là chưa đến một phần tư diện tích
quận Hoàn Kiếm (4,5 km2), quận bé nhất, và bằng
1,2 % diện tích nội thành năm 2002 (82,4 km2). Vậy
là Hà Nội đã lớn hơn rất nhiều so với cái thời mà
bản đồ đường phố chỉ có mấy khu loanh quanh bên
bờ sông Cái, đồng thời ta nhận thấy tầm quan trọng
của khu phố cổ vẫn không hề giảm sút, dù diện tích
trở nên lọt thỏm giữa mênh mông vành đai bao bọc,
tuy không đến nỗi teo lại như miếng da lừa của Balzac
nhưng vẫn phải cáng lấy nhiệm vụ hạt nhân tinh hoa,
hạt nhân văn hoá hay khiêm tốn hơn là trung tâm
thu hút du lịch cũng như kinh doanh kiểu phường
phố của Hà Nội nghìn năm.
Vậy ta hãy làm việc giản dị: la cà dọc ngang các
phố ấy, hàng ấy, để kê ra nay bán gì, hay tên tuổi
chỉ còn là dư âm một thời "bất phục phản"
[3] .
(Trong thành phố này, mỗi thứ
hàng chỉ bán tại một dãy phố quy định riêng mà người
ta đã đặt tên, y hệt kiểu các công ty hay hợp tác
xã ở các thành phố châu Âu.
( Samuel Baron, A Description of the Kingdom of
Tonqueen, 1658).Hàng Bạc là một phố
danh tiếng. Phố này có tiếng vì nghề đúc bạc nén,
kim hoàn và đổi tiền từ thời Lê. Tấm bia ở đình
Dũng Hãn số nhà 58 cho biết sự tích tại đó là xưởng
đúc bạc nén. Phố thì bé, nhưng gồm dân của 3 làng
nghề di dân đến. Đầu tiên là dân Châu Khê (Bình
Giang, Hải Dương). Họ có 2 ngôi đình ở số 42 và
50, ngoài ra đến cuối thế kỷ XIX, dân làng ấy kéo
lên đông quá nên phải mua lại đền Nội Miếu của thôn
Hài Tượng ngách phố Tạ Hiện ăn sang Hàng Bạc để
lập đền thờ vọng về quê. Tiếp theo là dân kim hoàn
Định Công thượng (Thanh Trì) và Đồng Xâm (Kiến Xương,
Thái Bình). Còn một ngôi đình nữa ở số 24 của dân
làng Đông Thọ, cùng với Dũng Hãn là hai làng thuộc
tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, nơi mở phố (phường)
Hàng Bạc. Sau này phố còn nổi về thuốc cam con hươu
Tùng Lộc và rạp hát Chuông Vàng. Nhưng bây giờ phố
đắt hàng về dịch vụ café tour và những mặt hàng
lưu niệm du lịch. Đoạn phố từ gần rạp hát đến đầu
Hàng Mắm là các cửa hàng Sinh cà phê, Kim cà phê,
và nhiều hiệu khác nữa ăn sang phố Mã Mây, Hàng
Bè, Tạ Hiện. Không còn nhiều nhà mở hiệu vàng bạc,
theo lấy chút bóng nghề tổ, chỉ nằm tập trung ở
đoạn từ Hàng Ngang rẽ vào đến Tạ Hiện. Tác giả Vương
Trí Nhàn trong tập "Một số nhà văn hôm nay
với Hà Nội" đã kê ra được Thạch Lam và Nguyễn
Tuân sinh ra tại đây. Vậy là chất lượng văn hoá
coi như đã được đóng dấu đảm bảo với hai nhà văn
xếp hạng "fan" ruột của "băm sáu
phố phường" cũng như thầy của thú ăn chơi.
2001:
Sửa xe đạp vỉa hè phố Hàng Bạc, cạnh rạp Chuông
Vàng. Phía sau là đầu phố giao với Tạ Hiện, có hiệu
thuốc Đồng Xuân, thuốc cam Tùng Lộc, Lê Gia, dệt
len. Chừng 10 số nhà nhưng không có hiệu vàng bạc.
Ảnh: Corbis.com
Hàng Khay nằm phía nam Bờ Hồ, trong trục đường
chính phát triển phố Pháp, từng có tên là Thợ Khảm,
nay còn một vài nhà bán đồ mỹ nghệ chạm khảm sơn
mài. Còn lại có vài ba hiệu ảnh và truyền thần nổi
tiếng Hà Nội. Hàng Mã vẫn bán chạy các đồ mã, đồ
chơi Trung thu, chữ dán phông màn đám cưới, nhưng
chỉ ở mỗi đoạn ngắn nửa phố từ Hàng Đường đến ngã
năm Hàng Lược. Hàng Mành bán mành tre, mành nhựa
ngoại nhập. Hàng Chiếu bán chiếu Nga Sơn, chiếu
Thái Bình, chiếu trúc chiếu nhựa Tầu. Hàng Thiếc
rủ thêm Lò Rèn thi nhau chí chát. Hàng Đồng vẫn
bán đồ tế khí gò đồng. Hàng Trống dăm nhà làm trống,
một nhà vẽ tranh còn trụ lại trên con phố nằm về
khu phố người Pháp xây lại. Khá nhiều phố vẫn bán
loại hàng lâu đời nhưng không phải là hàng tên phố:
Hàng Than bán bánh cốm. Hàng Đào cũng còn nhà bán
quần áo lụa là nhưng đã nhường chỗ cho đồng hồ,
trang sức, không còn "nhuộm điều" như
thời Nguyễn Trãi viết trong Dư địa chí. Hàng Đường
còn độ mươi nhà bán ô mai, mứt hay bánh kẹo thủ
công. Hàng Bông bán quần áo, vải vóc. Hàng Gai bán
đồ mỹ nghệ và in khắc. Tố Tịch (hay Hàng Tiện) bán
đồ gỗ tiện nhỏ. Hàng Điếu bán mứt sen trần. Hàng
Quạt bán cờ phướn. Hàng Bồ bán các loại dây, sợi,…hoặc
chuyển sang bán thứ mà lẽ ra phải ở phố mang tên
chúng: Hàng Mắm nhận về mình khoản bán áo quan và
tiểu sành, những thứ ít phố nào cạnh tranh. Khi
này Hàng Hòm chuyển sang bán đồ thủ công mỹ nghệ
do nằm cạnh Hàng Gai. Hàng Vải (từng mang tên Hàng
Vải Thâm vì khác với Hàng Đào bán lụa tơ, phố bán
vải nhuộm nâu cho người lao động) bán tre, nứa (chủ
yếu là thang tre và cọc móng), bán cơm và bia cỏ,
trong khi Hàng Tre thành một phố công chức và nhiều
quán cà phê. Hàng Dầu bán giầy dép thay cho một
Hàng Giầy bán bánh kẹo và đồ ăn ngọt dân dã, kéo
theo Lò Sũ từng bán hàng đồ mộc và đóng áo quan
cũng bán giầy dép, balô, túi xách. Hàng Khoai cạnh
chợ Đồng Xuân bán đủ loại bát đĩa sành sứ thuỷ tinh
của phố Bát Sứ (từng có tên Hàng Chén) và Bát Đàn
đi bán phở bò. Hàng Cân bán giấy thay cho Hàng Giấy
bây giờ không rõ bán gì là chính.
Ngoài ra một vài đặc thù nghề nghiệp mới cho cả
dãy phố: ngoài phở bò Bát Đàn, còn có thịt chó Hàng
Hương (cạnh gầm cầu Long Biên, đoạn đầu phố Phùng
Hưng), cà phê Hàng Hành, bún chả Hàng Mành (mặc
dù chỉ có mỗi nhà số 1 bán) hay chợ hoa Tết Hàng
Lược.
Những phố Hàng nằm ngoài khu 36 phố phường đều
chỉ còn mang cái tên, không còn bán bung nghề lạc
hậu: Ví dụ, Hàng Cá không treo biển "ở đây
có bán cá tươi". Phố quá ngắn, chỉ có 124 m,
lại gần như không có đặc trưng gì hay một cửa hiệu
bán thuỷ hải sản nào sót lại. Hàng Bài, đặc sệt
là phố Tây, có trường Đồng Khánh (nay là Trưng Vương),
vì thế năm 1888 và 1946 mang tên Đại lộ Đồng Khánh,
nhà Godart (tức Bách hoá Tổng hợp, nay là Tràng
Tiền Plaza), trại Bảo An Binh (nay là Tổng cục Cảnh
sát), rạp chiếu phim Majestic (nay là rạp Tháng
Tám), những kiểu cách kiến trúc còn lại xưa nhất
là thời Pháp. Nghề kế tiếp bán đồ cờ bạc là nghề
sửa chữa đồng hồ. Gần trụ sở công ty xổ số (đi kèm
xổ số là món số đề, một hình thức cờ bạc lậu), có
một vài hiệu sửa nhỏ, những ông thợ đeo kính lúp
ngồi sau tủ hàng be bé, không lấy làm phiền về sự
ầm ĩ của cửa hàng kinh doanh băng đĩa của Hồ Gươm
Audio, mà dãy phố quanh đó một thời nườm nượp người
đi mua hay in sang băng đĩa lậu. Phố Hàng Bột đã
đổi tên thành phố Tôn Đức Thắng từ năm 1988, nay
còn ngõ Hàng Bột và phường Hàng Bột. Từ thời Pháp,
phố đã được mở rộng thành đường lớn, giờ phố bán
những thứ như vật liệu nội thất, giầy dép Sài Gòn,
may áo cưới. Hàng Cháo là một phố chéo gần sân Hàng
Đẫy, bán phụ tùng cơ khí và mũi khoan, thời Pháp
có lúc mang tên Hàng Hương. Còn Hàng Đẫy tức là
phố Nguyễn Thái Học bây giờ, bán tranh chép kiểu
"bờ hồ" và làm biển quảng cáo. Thế Hàng
Chuối bán gì? Không phải vì bán chuối hay củ chuối,
mà mang tên ấy tình cờ do khi mở phố, quanh đó trồng
nhiều chuối nên đặt luôn cho tiện, bây giờ phố vẫn
giữ dáng vẻ phố Tây với những biệt thự song lập,
nhưng cái chính là phố có "chợ tình" khá
náo nhiệt, mà gần đó là Trung tâm Khoa học xã hội
Nhân văn Quốc gia, Hội Phụ nữ Việt nam, Nhà xuất
bản Phụ nữ, Báo Phụ nữ. Trên vỉa hè là các Thuý
Kiều, sau hàng rào là chị Thanh Tâm khả kính (nhân
vật quen thuộc trên trang báo Phụ nữ tư vấn tình
cảm cho giới nữ có xu hướng hoà giải). Hàng Bún,
Hàng Đậu nằm phía bắc ranh giới khu phố cổ, giao
thoa với phố công chức kiểu phố Pháp, nên cũng chỉ
mang những tên gọi sót lại.
Một số tên phố không mang chữ Hàng nhưng cũng chuyên
một mặt hàng cùng tạo nên sự sinh động cho khu dân
cư này: Thợ Nhuộm từng có tên không chính thức là
Hàng Bông Nhuộm (hay Ruộm) gắn với Hàng Bông Lờ
và Hàng Bông thành một khu vải vóc, nhuộm sấy, hồ
lơ, cắt may,.. khá sôi động. Lò Rèn đi cùng Hàng
Thiếc, Hàng Đồng đã nói ở trên. Lò Sũ, Chả Cá, Mã
Vĩ, Mã Mây, Ngõ Gạch, Thuốc Bắc (cùng bán thuốc
bắc có Lãn Ông hay Phúc Kiến ngày trước), những
cái tên dáng dấp mặt hàng. Có phố mang tên địa danh
hay danh nhân cũng tham gia hàng chuyên: Hà Trung,
Ngõ Trạm may đồ da hay vải bạt (gần chợ Hàng Da),
Lương Văn Can (đây là phố mới mở đầu thế kỷ 20,
bản đồ năm 1911 do Aubé vẽ thì đây là một cái ngõ
sau của dãy nhà trông ra mặt phố Hàng Đào, sau này
khi đã được quy hoạch thì phố có tên Lê Quý Đôn)
bán đồ chơi Trung Quốc…Những phố mang dấu ấn hàng
chuyên một thời nhưng ở những cự ly xa so với khu
36 phố phường như Lò Đúc, Lò Lợn, cũng mất dạng
những nghề xưa.
Luyến tiếc về phố phường xưa kia, nhiều người trong
số chúng ta cũng có mong muốn giữ lại đôi chút phong
vị buôn bán như tên gọi các "Hàng", nhưng
cũng giật mình khi thấy sức nặng của dấu ấn cũ trong
định hướng phát triển. Ta không rõ sẽ có khu phố
nào hiện đại mà được nhớ hoài đến thế trong trí
óc người đi xa, mà cũng nên biết ở Nam Định, thành
phố Dệt, thủ phủ trấn Sơn Nam xưa, cũng từng có
khu phố sầm uất, với những Hàng Nâu, Hàng Thao,
Hàng Song… mà bây giờ đành chung số phận lờ mờ của
một thành phố kém duyên và thiếu sức hút. Tôi nhớ
hồi nhỏ, các phố cổ Hà Nội những năm bao cấp buồn
bã như màu sắc xam xám của những ngôi nhà tranh
Phái, có những cô gái buồn tựa cửa. Nay bạn đi vào
những ngõ phố tuy có tên Hàng nhưng cảm giác rất
vô danh, "đường phố không chịu gập ghềnh mà
chỉ mấp mô, ánh sáng không chịu sáng, chỉ trưng
ra một vẻ nghèo nghèo phong lưu tí chút" [4]
.Với chúng ta, cái thực dùng đã không còn từ rất
lâu, nhưng ý niệm thật là "sự dai dẳng của
kí ức". Bao giờ cũng vậy, trong sự phân chia
hàng phố, sinh ra phố cao phố thấp, phố sang phố
nghèo. Có những phố xưa nay vẫn luôn là phố hạng
nhất như Hàng Buồm, Hàng Bạc hay Hàng Gai… lại có
những phố kém sang và bần hàn, Thanh Hà, Gầm Cầu,
nhưng cũng một phố tiếng là giầu, chỉ cần đi sâu
vào trong các ô phố, bỏ qua những cửa kính len dạ
là lủng lẳng dây dợ, phên liếp mốc meo. Có phố được
nhắc đến với sự kính nể về văn hiến, về trị giá
hàng hoá mà nó kinh doanh: Hàng Đào vừa giầu, vừa
có những danh nhân hay di tích, chẳng hạn trường
Đông Kinh nghĩa thục ở số 10, nhà cụ Lương Văn Can
ở số 4.
Sự hoán đổi, chuyển dịch của bản đồ phân bố hàng
hoá là kết quả của sự điều chỉnh tự nhiên trong
đời sống kinh tế khu phố cổ. Khi trước, bến sông
Hồng còn sát mép khu Chợ Gạo, các phố ven bờ bán
những mặt hàng nông thổ sản (Hàng Mắm), vật liệu
xây dựng (Hàng Vôi) hay những đồ kềnh càng (Hàng
Bè), lớp trong là các phố bán đồ nhu yếu phẩm (Hàng
Cân), đồ tinh xảo (Hàng Bạc), lớp nữa đến các phố
có gia công sản xuất nhỏ (Hàng Đồng), cuối cùng
giáp với thành Hà Nội là các hàng thực phẩm (Hàng
Gà). Nay bờ đê kiên cố ngăn cách với bờ sông và
sông đổi dòng sang bên Gia Lâm, các vị trí đã đổi
thay: chợ Đồng Xuân mới do Pháp xây năm 1890 nằm
ở vị trí gần khu cầu Long Biên cạnh chợ Bắc Qua
(chợ cũ cạnh chùa Cầu Đông 38b phố Hàng Đường hiện
nay, cách chợ mới 200m, ta có bài "bà già đi
chợ Cầu Đông, bói xem một quẻ lấy chồng được không"
là chỉ chợ này) thành ra một đầu mối giao thương
lớn. Các phố bán hàng nông thổ sản kéo từ chợ Bắc
Qua ra đến chợ Long Biên họp ở ngoài đê chân cầu.
Những hàng tươi sống, hàng vật liệu và cồng kềnh
dần chuyển ra các khu phố mới. Đồng thời việc mở
mang hồ Gươm cũng như sự phát đạt của du lịch sinh
ra các nghề dịch vụ, đồ mỹ nghệ và lưu niệm của
các phố gần Bờ Hồ, bất kể nó mang tên gì, Hàng Dầu,
Hàng Gai hay Lò Sũ.
Chú
thích: a: Sông Hồng. b: Hồ Hoàn Kiếm. c: Thành Hà
Nội. 1: Khu bán nông thổ sản và vật liệu. 2: Khu
bán đồ nhu yếu phẩm, hàng tinh xảo. 3: Khu gia công
sản xuất nhỏ. 4: Hàng tươi sống (năm 2003, khu hàng
này gồm cả hàng nông thổ sản).
Sự
dịch chuyển của cơ cấu hàng phố, năm 1890 (căn cứ
theo tên gọi và bản đồ) và 2003. Vào năm 1890 bờ
sông Hồng ăn vào sâu khu phố, ta có thể thấy một
bến nước hình vòng cung ngay sau chợ Đồng Xuân.
Khi đó trục chi phối là sông Hồng - thành cổ. Hồ
Gươm chưa được quy hoạch (không có đường ven hồ)
và nằm ở ngoại vi khu vực. Năm 2003, thành cổ không
tồn tại và sông Hồng đã bị lùi ra xa, bị ngăn cách
bởi dải đê kiên cố, vai trò Hồ Gươm như một trung
tâm mới, đồng thời các loại hình dịch vụ thay thế
cho các hoạt động như tên gọi trước đây.
Lịch sử không dừng lại
Thời Lý, có 61 phường, thời Lê có 36 phường, nhưng
các phường nằm rải ra trên một địa bàn khá rộng,
tương ứng với khu nội thành các quận Hoàn Kiếm,
Ba Đình, Tây Hồ, Hai Bà Trưng và Đống Đa. Có mỗi
phường Hàng Đào mang một cái tên đích danh ngành
nghề được kê ra trong Dư địa chí. Sau đó đến thời
Hồng Đức, thời được ca ngợi là mẫu mực trong lịch
sử phong kiến, 36 phường mang các tên chữ, không
nôm na mang tên hàng họ [5] .
Vẫn diện tích ấy, nằm trong phủ Hoài Đức thời đầu
thế kỷ 19, chia đi chia lại, tách nhập liên tục,
có lúc lên tới 13 tổng với 239 phường, thôn, trại
thời Minh Mạng, nhưng cũng không gặp một phường
nào mang tên Hàng. Suốt thời gian sau đó, khi người
Pháp đến theo bước chân xâm nhập vũ lực đầu tiên
của Jeans Dupuis năm 1872 (ngày 22-12, nhưng trước
đó viên chỉ huy Senez đã đi tiền trạm ngày 6-11),
các con đường trong khu Kẻ Chợ vẫn là một tập hợp
dễ biến dạng và khó định vị trong con mắt người
Tây phương, đã quen nhìn đô thị bằng bản đồ và tên
gọi. Lúc ấy tuy Hà Nội văn hiến mà vẫn ở tình trạng
nhà chưa có số, phố chưa có tên, nghĩa là nếu biết
cụ tứ đại, ngũ đại nhà mình ở nhà này, không thể
suy ra ngày ấy địa chỉ các cụ là số 99 Hàng Đào
chẳng hạn.
1884:
khu nhà trên đoạn phố nay là Hàng Chĩnh. Ta thấy
các quầy hàng bán đồ gốm sứ vẫn là kiểu nhà tạm.
Ảnh của Bác sĩ Hoquard, tập "Une campaigne
au Tonkin".
Ngoài tập Miêu tả về vương quốc Bắc Kỳ (1658, bản
dịch tiếng Pháp Description de royaume du Tonkin
của Deseille, Revue Indochinoise, 1914, xuất bản
3 tháng một kỳ, số 2) của Samuel Baron, một du khách
người Anh, coi như sách loại sớm nhất của người
châu Âu về Kẻ Chợ, có hình vẽ và những mô tả thú
vị, còn có nhiều tập sách hoặc phóng sự trên các
báo cũng như của Cục Lưu trữ Trung ương Đông Dương
và Viện Viễn Đông Bác Cổ thu thập lại: Bác sĩ Hoquard,
Một chiến dịch Bắc Kỳ, 1892; Hồi ký của R.Bonnal,
Về Bắc Kỳ, 1925; phóng sự của P. Bourde trên tờ
Thời báo Bắc kỳ, 1883; Ch. Labarthe, Hà Nội, thủ
phủ của Bắc kỳ, Bản tin Địa lý, 1883… Dưới mắt Baron,
"The City of CHA-CHO, the Metropolis of TONQUEEN,
hơn nhiều thành phố khác về mặt dân số, đặc biệt
là ngày 1 và 15 âm lịch là những ngày phiên chợ
chính, khi dân các làng lân cận cùng với hàng hoá
đổ tới đông không tưởng tượng được" và theo
một nhân vật khác nữa là Bác sĩ Hoquard, theo chân
đội quân viễn chinh của Rivière vào năm 1884-1885,
đã chụp được 1 bộ ảnh về hầu hết các di tích và
thành trì Hà Nội và cả vùng Bắc Bộ mà nhiều thứ
nay đã biến mất, thì "cái chợ mênh mông giữa
trời này chạy dài trong các phố chính tới hai cây
số". Còn những tên phố là tên hàng xuất hiện
chính thức trong phóng sự của Bourde: "những
người bán tơ lụa tới phố Hàng Đào, những người làm
cuốc xẻng tới phố Hàng Đồng, những người làm mũ
tới phố Hàng Mũ (chắc là Hàng Nón), tóm lại, thợ
gì thì tới phố dành cho thợ ấy". Như vậy lúc
ấy mới có tên phố, tất nhiên là tiếng Pháp. Cũng
có thể trước đây có tên khu vực các "Hàng",
sau đó chính quyền bảo hộ cho chính thức hoá bằng
việc đặt tên hay gắn biển. Bài ca dao "Rủ nhau
chơi khắp Long thành, ba mươi sáu phố rành rành
chẳng sai"… có vẻ đúng như nghi ngờ của Nguyễn
Văn Vĩnh, là một cách nói quy ước của người phương
Đông, xuất xứ của nó có lẽ cũng khó lòng đảm bảo
một giá trị cổ điển được.
Tên phố đặt ra từ thời Pháp, khái niệm đường phố
có định danh và đánh số là ý tưởng của người Pháp
mang vào, sau đó năm 1945, chính quyền Trần Trọng
Kim cho dịch ra tiếng Việt. Hình thức bán hàng càng
ngày khác xa so với những gì miêu tả trong các ghi
chép kia, nên việc cố gắng tạo ra không khí bảo
tàng cho những hoạt động kinh doanh gần như vô hiệu.
Vì thế, trong xu thế "xã hội hoá", thực
chất là bỏ rơi cho người dân tự giải quyết bởi các
cơ quan không làm được, người sống ở đây, vẫn là
con cháu cuả những người dân tài khéo ngày xưa,
bỏ cái cày con trâu ở lại làng quê, trong những
điều kiện khó khăn nhất, vun vén cho không gian
sống, cho từng mặt phố chuyển động không ngừng,
không bán được hàng này thì hàng khác. Và những
"Hàng Mới" đã ra đời.
Hàng "Mới" đầu tiên có thể kể đến phố
"Hàng Tin", tức phố tin học Lý Nam Đế.
Mặc dù chỉ là phố thiên về bán máy tính và phần
cứng, còn lâu mới gọi là Silicon Valley hay Công
viên công nghệ thông tin nhưng nằm ngay rìa trái
khu phố cổ lắm "Hàng" kia. Phố cổ bán
đồ văn minh tiên tiến, hay đồ văn minh tiến bộ bán
theo kiểu phố cổ, hàng nối hàng và cũng có ngày
phiên? Cái nghề hay mặt hàng không tồn tại mãi,
ngày trước khi nói đến phố Lý Nam Đế là nghĩ đến
một "phố nhà binh" âm u và vắng lạnh ghê
người, bây giờ lại có ngày hội "phố tin học"
ở đây, vui và tươi. Thế thì cũng có thể có Hàng
Vật Liệu, Hàng Nhà Nghỉ, Hàng Thịt Chó ? Đấy là
những mặt hàng nóng hổi nhất Hà Nội bây giờ, thay
cho Bích Câu, thay cho Thái Hà hay Âu Cơ (tên mới
cho Nhật Tân), những phố có cả dãy phát đạt cùng
một nghề ấy.
Việc phố bán chuyên mặt hàng chắc không chỉ Hà
Nội mới có. Nhưng hay ở chỗ từ tên gọi, từ mặt hàng
ấy, người ta thấy được cả một nguồn cội sâu xa,
từ một ngôi làng nào đó vùng châu thổ Bắc Bộ, một
đoàn thợ tài khéo rủ nhau lên Kinh kỳ, chung nhau
một dãy phố, tương thân tương ái, những nền nếp
làng quê chuyển thành quy tắc hàng phố cho phù hợp.
Thành ra mối dây liên hệ với bản quán sâu đậm qua
mặt hàng, tên phố, tên làng hay đình tổ nghề nơi
mỗi góc phố sót lại. Người làng Phù Ủng (Hưng Yên)
lên Kẻ Chợ làm ăn nhưng vẫn lập đền thờ vọng Phạm
Ngũ Lão, danh tướng đời Trần là người làng ở ngay
nơi sinh sống (nay là số 25 Lý Quốc Sư), không quên
ghi tên làng trên cổng tam quan cũng như vinh danh
một nhân vật anh hùng từng "hoành sáo giang
san cáp kỷ thu". Hoặc thường hơn, những người
buôn bán gốc Hoa, lập nghiệp ở mấy phố Hàng Buồm,
Lãn Ông (trước là Phúc Kiến), Hàng Ngang (Quảng
Đông), Sầm Công hay Tạ Hiện...Họ bán nghề thuốc,
cao lâu, dịch vụ giải trí (rạp hát, sòng bài) như
ở quê hương trước đó, họ lập nên những hội quán
của riêng "bang" hay tỉnh xuất xứ, ví
dụ hội quán Phúc Kiến ở phố Lãn Ông bán thuốc Đông
dược, hội quán Quảng Đông ở phố Hàng Buồm và một
số khác. Những nơi này được nhắc đến như là những
nơi trú chân của những nhân vật như Jean Dupuis
ở hội quán "Kouei-kuang" 22 phố Hàng Buồm
và kho vũ khí chuẩn bị cho cuộc đánh chiếm Hà Nội
mang danh nghĩa thám hiểm sông Hồng. Nơi này cũng
coi như nhà khách toàn quyền đầu tiên ở HN do Paul
Bert mở ra nhằm tranh thủ sự ủng hộ của giới con
buôn Hoa Kiều cho chính quyền thực dân khi chưa
nắm chắc dân Hà Nội. Ngôi nhà đó cũng là nơi Tôn
Trung Sơn từng ở khi đến Hà Nội. Hiện nay ngôi nhà
này vẫn còn giữ được kiến trúc kiểu Hoa, nhưng dùng
cho trường mẫu giáo Tuổi Thơ. Hay ngôi nhà 80 Hàng
Gai, năm 1884 từng là Dinh Trú sứ Pháp, sau đó chuyển
thành Nhà in Bắc Kỳ với kiến trúc mới, nay tầng
trệt là cửa hàng mỹ nghệ tơ lụa của một hợp tác
xã thủ công.
Năm
1884: Nhà trú sứ Pháp đầu tiên tại phố Hàng Gai,
nay là số nhà 80. Phía cây bên số lẻ nay là cây
đa cửa đình Cổ Vũ.
Một khu phố chợ đã có từ lâu ở Hà Nội mà đặc điểm
kinh doanh có phần giống khu phố cổ, ấy là khu Chợ
Giời, hay chợ Hoà Bình, cuối phố Huế. Khu này chỉ
khoảng vài dãy phố, diện tích chừng 30 ha nhưng
lúc nào cũng náo nhiệt. Hình thức kiến trúc nhà
cửa phong phú: nhà ống lô phố, khu tập thể Nguyễn
Công Trứ, có chùa Vua, có đình Thịnh Yên, có hội
trường văn hoá, có bệnh viện vv…Các kiosque cũng
bày san sát, đường đi ngoắt nghéo, và đặc biệt là
hàng hoá đủ thứ trên đời, nhất là những đồ rẻ và
phụ tùng nơi khác không có. Các phố trong khu cũng
phân ra cơ cấu rõ ràng: Thịnh Yên bán đồ điện tử,
Trần Cao Vân bán phụ tùng máy móc, ngõ Thịnh Yên
1 bán băng đĩa, ngõ Thịnh Yên 2 bán phụ tùng xe
đạp xe máy, Yên Bái 2 bán đồ điện... Tuy nhiên bây
giờ chợ Giời bán đồ thật hơn, "trung thực"
hơn. Đồ lậu, đồ chôm chỉa vẫn nhiều nhưng đồ dởm
đã bớt đi hẳn. Môi trường mua bán "văn minh"
hơn, không có các chú đội mũ cối, đi dép cao su,
mặc đồ "na-tô" chìa vào mặt mấy cái pê-đan
để thay vào cái xe đạp Mifa vừa hỏng như xưa. Dành
một buổi chiều loanh quanh khu này, bạn sẽ mua được
dăm ba thứ nhì nhằng như mọi chợ giời khác nhưng
cũng có những thứ chẳng ở đâu có.
Còn xa thì mới nghĩ đến chuyện nói về tinh thần
văn hoá của phố chợ như chợ Giời, nhưng cũng không
loại trừ một vài giá trị như thế nảy sinh trong
quan hệ cộng đồng ở đây. Bởi vì vai trò và sự tồn
tại của nó trong đời sống sinh hoạt của người dân
Hà Nội là có thực và như thế, nó gói ghém một đặc
trưng gì đấy. Có thể lắm chứ, lúc nào nó đó sẽ thành
một nơi ghé thăm cho khách du lịch, hay người ta
cũng sẽ trương cổng chào "đón mừng quý khách
đến chợ Giời".
Tốc độ và điểm đến
Trên những con đường vành đai, hàng đoàn xe tải
chở vật liệu xây dựng hối hả ngày đêm đến công trường.
Những khu đô thị mới chất ngất giàn dáo và cột bê
tông nối thép ứng lực liên tục tăng chiều cao. Sân
bay mỗi ngày vài chục chuyến bay đi khắp nơi và
ngược lại. Hà Nội đi nhanh? Đi nhanh đương nhiên
là phải chóng đến đích. Đích của Hà Nội, có lẽ phải
mượn cái hình ảnh cụ thể của sa bàn quy hoạch tổng
thể trưng bày đầu năm tại nhà triển lãm Tràng Tiền
để hình dung. Chứ nếu hình dung về cái đích của
mỗi chúng ta, của tôi, của bạn, sợ rằng thấy mình
như đứng bên ngoài dòng chảy ấy: tôi không biết
sẽ có thể được cơ cấu vào bộ phận cơ quan đoàn thể
nào (vì đến giờ vẫn không "xin được vào nhà
nước" hoặc vào nhưng chỉ được biên chế sau
dăm năm nào đấy chịu thương chịu khó với mức lương
vài trăm nghìn một tháng). Nơi tôi cư trú "ngõ
nhỏ, phố nhỏ" xa trung tâm, mỗi tháng tôi đi
ăn nhậu với bạn bè một lần, mỗi mùa hè đi Cửa Lò
hay Sầm Sơn 3 ngày, mỗi năm đến rạp hát một lần
để thưởng thức nghệ thuật… Tôi không rõ đã có bao
nhiêu câu hỏi cho tương lai như thế đến với mỗi
người khi nhìn vào quy hoạch kinh tế - văn hoá -
xã hội cho 15 năm nữa. Không riêng ngành xây dựng
kiến trúc được quy hoạch như là nền móng vật chất
chung mà để đồng bộ, ngành nào cũng thấy cần có
quy hoạch tổng thể riêng của mình với vô số thống
kê tính toán và đương nhiên, luôn hợp lý theo sự
giải trình. Có bao nhiêu người cảm nhận thấy mình
sẽ có những lợi ích tinh thần (vật chất là đương
nhiên) để sống hơn ngày hôm nay, thay vì chen lấn
nhau để xem những bản đồ quy hoạch xanh đỏ nhằng
nhịt được treo lên, hỏi nhau liệu "nó có mở
đường vào đến nhà mình không" mà cũng chưa
ngã ngũ.
Trong ước vọng của người quản lý, việc làm sao
chóng đón được xu hướng hiện đại và hợp lý trong
không gian đô thị là điều không phải bàn cãi. Nhưng
kiến trúc mang thân là một ngành nghệ thuật nửa
vời và cũng rất máy móc, phải sát cánh với hiện
thực xây dựng, mà cái cảm giác về một "chùm
khế ngọt" luôn thường trực thì không thể như
một bức tranh hay bài thơ muốn đẹp là được, muốn
hay là xong.
Bạn sẽ bảo, trong vòng 15 năm qua, Hà Nội đi nhanh
thế còn gì, thay da đổi thịt nhé, nhà cao cửa rộng,
cơ sở hạ tầng tốt hơn, mạng lưới dịch vụ rộng khắp...Để
biết mình nhanh hay chậm, và đang đi đến đâu, người
ta so sánh. Ở Việt Nam thì Hà Nội "trông lên
chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình".
Đại khái, Hà Nội "có những tiêu chí riêng,
những đặc thù mà những thành phố đô thị khác không
có được, mọi so sánh đều là khập khiễng", rồi
những giá trị "độc nhất vô nhị" nào đó
được đem ra xưng tụng và thành ra hơn người… Sài
Gòn lâu nay vẫn như một đối trọng với Hà Nội, về
mọi phương diện, và lắm khi, như một thách thức
về khả năng tiêu hoá những văn hoá ngoại lai mà
thủ đô vất vả lắm mới cân bằng được. Hồi nhỏ, được
xem ảnh lịch thành phố Hồ Chí Minh, thấy có những
toà cao ốc hiện đại (có lẽ cũng chỉ mươi mười hai
tầng thôi), thích lắm và ao ước bao giờ Hà Nội có.
Rồi thắc mắc chuyện nữ sinh trong đó toàn mặc áo
dài rất đẹp mà các chị mình chỉ có hai bộ quần áo
để đi học. Thì bây giờ Hà Nội đã có những thứ đó.
Nhưng vẫn cứ thấy thiếu. Đến đây có hai hướng: một
là tức khí, quay về hoài cổ, ve vuốt những khuôn
hình lở lói rêu phong hoặc mũ rơm nón lá.. Hai là
chơi bảnh hơn cho bõ, có thể mang những mặt hàng
hay công nghệ từ Mỹ, Nhật đời mới về, không có gì
mới hơn được. Thế nhưng người anh em trong kia vẫn
bình thản, đi xe CD67, xăng đan Biti's, và hào hứng
đi bát phố mỗi chiều dù Sài Gòn khiêm tốn hơn về
cảnh sắc ngắm nghía và những thứ "văn vật".
Dạ thưa xứ Huế bây giờ, vẫn còn núi Ngự bên bờ
sông Hương [6] . Huế là vậy, giữ dáng vẻ yêu kiều
của những "Đồng Khánh ngày xưa" trong
"chiều mưa bay trên tầng tháp cổ", là
những thứ sẽ phải đối mặt cho đến khi nào không
còn Huế thì thôi. Còn Hà Nội, khắc khoải chông chênh
trong sự phân thân: là một gương mặt hằn sâu vết
thời gian, gương mặt "không có tuổi" hay
trẻ trung hiện đại? Khoảng những năm 1960-1970,
ít nhất 2 lần ý tưởng xây dựng một Hà Nội mới, đúng
hơn là nơi đặt các cơ quan quản lý Trung ương và
ban ngành, đã có thể triển khai. Thị trấn Xuân Hoà
bên hồ Đại Lải (Mê Linh, Vĩnh Phúc, từ 1976-1992
là địa bàn Hà Nội) và Xuân Mai (Lương Sơn, Hoà Bình)
là các vị trí dự kiến, chúng đều cách Hà Nội khoảng
40 km trên các vùng bán sơn địa. Khi đó Hà Nội vẫn
còn là một đô thị nhỏ bé và không thay đổi bao nhiêu
ở những khu trung tâm, mới có một số khu tập thể
mới ở Kim Liên, Nguyễn Công Trứ..., và nhất là khu
phố cổ, phố Pháp tương đối nguyên vẹn. Năm 1939,
diện tích nội thành là 12 km2 và dân số khoảng 200
000 người. Năm 1960, diện tích đó là 12,2 km2 với
dân số 463 820 người. Năm 1989, tăng lên 43km2 với
906 000 người và năm 1998 là 82,4 km2 với 1 193
000 người. Hà Nội phải chăng đã có thể có một điểm
dừng thời gian vào lúc đó, trước khi tăng diện tích
và nhân khẩu đột biến, và giống như Huế, Hội An,
những đô thị cổ, may ra có những nguyên trạng quá
khứ để rồi được xếp hạng di sản?
Sức hút của các mặt kinh tế - xã hội, sức hấp dẫn
của bề dày lịch sử đã buộc Hà Nội vẫn phải đóng
vai trò chủ chốt và tiếp tục làm Thủ đô trên mọi
mặt. Hà Nội vẫn luôn là xuất phát điểm cho mọi ý
tưởng vĩ mô. Quan niệm "ở giữa trời đất"
và những vùng phên giậu "áo giáp ngàn năm chở
che bền vững" [7] bao bọc xung quanh vốn quá
quen thuộc với xã hội phong kiến tập quyền, một
mặt phản ánh dấu vết thành trì phòng thủ, một mặt
khẳng định sự chi phối từ cấp cao xuống dưới đối
với các vùng phụ thuộc. Đô thị nghiêm ngặt kiểu
"từ trên xuống dưới" như mô hình Bắc Kinh,
vuông chằn chặn, hay mặt bằng đô thị lý tưởng thời
Văn nghệ Phục hưng đối xứng tâm, đô thị tự do kiểu
"từ dưới lên trên" do ảnh hưởng phát triển
kinh tế và quần cư tiền đô thị. Hà Nội thể hiện
cả hai mô hình ấy. Bản đồ Trung Đô (tức Thăng Long)
thời Hồng Đức cho thấy một kinh thành phát triển
theo hình thế sông ngòi, chỉ có mỗi cấm thành là
có vẻ đăng đối. Nhưng đối xứng nghiêm ngặt phải
đến thời Nguyễn, một Thành Hà Nội vuông vức đến
lạ lùng giữa một vùng địa hình toàn các dòng nước
sông hồ uốn lượn tự do. Tuy thế vai trò của ngôi
thành kiểu Vauban [8] này là rất mờ nhạt trong sự
phát triển của Hà Nội, ngoại trừ giúp chỉ ra phương
vị địa lý của nền thành các triều đại trước mà sau
đó không lâu đã bị tàn phá đến mất dạng.
Hà Nội, thành phố ngàn tuổi quả là có thâm niên,
dù cũng non so với Baghdad hay Rome, nhưng hơn đứt
"Sài Gòn ba trăm năm". Trên lưng cụ rùa
là biết bao di tích, rêu phong cổ kính tưởng có
thể trường tồn cùng 82 tấm bia tiến sĩ còn lại trong
Văn Miếu. Tôi mong về Hà Nội, để em về nghe muà
đông phố cổ, mẹ đang ngồi đan, lặng im đêm gió…
Vội vã trở về, vội vã ra đi. Chẳng thể nào qua,
hết từng con phố, rêu xanh bên những gốc cây già
[9] … Bao giờ cũng là một vẻ cổ kính đến tội nghiệp.
Mỗi ngày thành phố cấp 9 giấy phép xây dựng (theo
số liệu công bố của Sở Kế hoạch Kiến trúc thì 6
tháng đầu năm 2003, số mét vuông sàn xây dựng có
phép là 622.687m2, tăng đến 90% so với cùng kỳ năm
2002), nhưng có đến 25 công trình không phép hoặc
vi phạm mỗi ngày [10] , ngày nào cũng có rất nhiều
căn nhà được xây mới, xe chở vật liệu cày nát những
tuyến đường vành đai, các khu đô thị mới mọc lên
liên tục. 3 bệnh viện chuyên khoa phụ sản, các nhà
hộ sinh và các khoa sản ở các bệnh viện khác luôn
kín giường cho sản phụ.
Hà Nội cổ kính về văn vật, cũ kỹ về một vài hệ
thống hạ tầng kỹ thuật (có thể còn tận dụng từ thời
Pháp thuộc), "diên hựu" về tuổi tác con
người, nhưng cũng đầy mau lẹ về xây cất, thành phố
như cơ thể dậy thì, mỗi ngày vỡ da thịt bừng bừng
sức sống, nhiều trào lưu sinh hoạt bạo phát bạo
tàn, nhiều công trình "sáng tạo" đoản
thọ không ngờ. Khu tập thể Nguyễn Công Trứ vào khoảng
năm 1960 với sự giúp đỡ của CHDCND Triều Tiên cùng
với khu Kim Liên là mô hình của thành tích thời
ấy, sau 40 năm đã xuống cấp trầm trọng, do đó phải
sửa chữa, như vậy rất đúng quy luật tự nhiên. Sửa
thế nào. Do cấu trúc mỗi hộ chỉ có 1 phòng khách,
1 phòng ngủ, khu vệ sinh và bếp chung nhau ở cuối
hành lang, nên để tăng diện tích và cho phép các
hộ xây vệ sinh khép kín riêng, mỗi dãy nhà được
tăng độ dày, nghĩa là thay vì cấy lồng treo tự phát,
đơn vị sửa chữa xây hợp pháp 2 lớp phòng nữa ở hai
mặt dài nhà. Tuy vậy với căn nhà kém giá trị ban
đầu, để sửa thành đẹp thì gần như không thể, già
và xấu may lắm ăn giải cố kính, chứ quyết không
dám đội vương miện. Tôi không bất ngờ lắm khi anh
bạn có ý định sửa lại nội thất cho căn hộ nhưng
chỉ cần thời hạn 2 năm vì cả khu nhà mới sửa này
sẽ lại bị đập đi. Nhưng như thế nào thì chúng tôi
không được biết, cái tương lai cuả khu nhà có tuổi
40 + 5 năm này. Còn điểm đến của bạn tôi, sẽ là
một căn hộ khác hoặc một lô đất vào tuổi "tứ
bất hoặc". Chẳng phải là như thế vẫn còn là
nhanh, so với cụ già sống ở trong ngõ 7 Tố Tịch,
sống trọn đời trên tầng hai nhà cổ. Bà cụ mất ở
viện, người nhà đưa về khâm liệm. Song trong cơn
bối rối, mọi người không nhớ ra chuyện nhà, cầu
thang và ngõ quá chật, không có cách nào đưa quan
tài đã đóng áo ván xuống phố. Người em rể phải đi
mượn cần cẩu để móc áo quan qua mái hiên đưa xuống.
Dân phố đứng xem, kháo nhau: Chết rồi còn được đi
vũ trụ. Thông tin thêm: đấy là vào năm 1981, trước
đó Việt Nam vừa mới có Phạm Tuân là nhà du hành
đầu tiên bay vào vũ trụ.
Vận tốc chóng mặt 30 km/giờ
Một nhà nghiên cứu văn hoá người nước ngoài cho
biết [11] , anh có cảm tưởng người Hà Nội đi xe
máy rất nhanh và dòng chuyển động trên đường ào
ạt như lũ cuốn, nhưng nhìn vào công-tơ-mét thì vận
tốc chỉ khoảng 30 km/giờ. Người nước ngoài hầu như
đều có ấn tượng mạnh trước lưu lượng xe máy khổng
lồ và thứ trật tự của sự lưu thông tại thành phố
này: "một cảnh tượng thật kỳ diệu và lạ lùng",
"thật kinh ngạc và choáng váng", "rất
thú vị", nữ diễn viên Catherine Deneveu sang
Hà Nội đóng phim "Đông Dương" năm 1991
nhận xét "một thành phố hoang dã, xe đạp chạy
trước ô tô"… Nghĩa là một sự kỳ lạ. Sự kỳ lạ
muốn được cắt nghĩa, hay là một vẻ đẹp "man
rợ" của xứ nhiệt đới dưới mắt những người đi
chinh phục thuở nào?
Phố lắm cột đèn, đường lắm ngã tư [12] . Nói như
vậy là người hay đi và đi nhiều. Nhưng phố thì ngắn,
nên mốc đường bằng những cột đèn, cột tín hiệu mau
hơn, giao cắt các phố dày hơn, tủn mủn và phải đi
chậm lại để tránh xung đột luồng giao thông. Hà
Nội hiện bắt đầu triển khai dừng đăng ký xe máy
trong nội thành. Những gia đình có ít tiền và còn
dư tiêu chuẩn (mỗi người chỉ được đăng ký 1 chiếc
trong đời, nếu đã bán hay hỏng thì phải làm thủ
tục kê khai, phần này rắc rối hơn cả đăng ký mới)
hoặc có thể thuê tiêu chuẩn liền đổ xô đi mua xe
xịn. Xe xịn ở đây quanh quẩn chỉ gồm Honda @, Dylan,
Spacy, Piagio…giá khoảng 5000 đô la Mỹ trở lên,
theo phương châm "đằng nào cũng chỉ được mua
nốt lần này, thà mua xe xịn cho bõ". Cuối tháng
8 là đợt cao điểm đăng ký cuối cùng trước "giờ
G", có đến 800 xe trong ngày, tức vài triệu
đô la Mỹ được đầu tư trong một ngày cho việc lưu
thông cá nhân. Những chiếc xe kiểu tay ga có tiếng
"sành điệu" này mới ra khoảng 3 năm nay,
vì thế chưa thấy hình bóng thời tàn tạ của chúng
ra sao. Hôm rồi, phòng làm việc của tôi cũng bắt
chước Quốc hội, "sôi nổi thảo luận" về
chuyện đăng ký xe. Bà kế toán kể chuyện bố chồng
đi đăng ký xe mới, bị phát hiện là đã có xe từ năm
1979 (!) nên chỉ được đi bộ vì xe kia đã đi về miền
quê nào hay ra bãi rác. Mọi người mường tượng ra
cái ngày người ta sẽ dùng xe @ chở nước gạo hay
thịt lợn ra chợ…cho bõ tức. Cái ngày mà chiếc xe
thời trang sẽ sánh vai cùng xe đạp thồ, xe Wave
Tầu trên những nẻo đường mưu sinh khắp kẻ chợ cùng
quê.
Khung
cảnh buổi biểu diễn ngoài trời tại quảng trường
Đông Kinh nghĩa thục, Hồ Hoàn Kiếm, . Gần như tất
cả người xem đều ngồi trên xe máy. Được biết, ở
Mỹ có hình thức chiếu phim cho người đi xe ô tô
(cinema car park), họ cũng ngồi yên vị trong xe
và xem phim màn ảnh rộng bình thường. Ảnh do Nguyễn
Phú Đức cung cấp.
Mấy năm qua Hà Nội cũng vài phen nổi đình đám vì
những tin tức trong dòng tin nóng toàn cầu: xếp
thứ 11 trong các thành phố đắt nhất thế giới năm
2002, là thành phố đầu tiên "thắng" bệnh
SARS, thành phố vì hoà bình năm 2000 (nhưng năm
2003 là thành phố nào thì không phổ biến tiếp),
xếp thứ 2 châu Á về những thành phố mà người du
lịch muốn đến nhất (do độc giả tạp chí Travel &
Leisure bình chọn). Rồi vài câu phát biểu của một
số nhà khoa học nước ngoài, đại loại như Hà Nội
là một thành phố bảo lưu được những nét pha trộn
kiến trúc thuộc địa với những đặc trưng bản địa,
một thành phố thú vị nhất mà tôi từng biết, v.v.
mà các phóng viên tóm ngay lấy, dọn cho độc giả
thưởng thức như một đảm bảo cho sự hiện tồn của
giá trị văn hoá Hà Nội.
Nhưng những người nước ngoài chỉ phát biểu vậy,
họ không phải chịu trách nhiệm về những điều ấy.
Chỉ còn chúng ta, ngày ngày đối diện với cái hạt
mụn cơm, cấu bỏ đi nhưng vẫn lại mọc lên chố cũ,
xấu xí và kỳ dị. Hỏi rằng chỗ nào đẹp nhất Hà Nội,
ta bảo Hồ Gươm. Chỗ nào chưa đẹp, ta nói khu ấy
khu kia là tệ lắm, mà cũng có thể chỉ ngay Hồ Gươm.
Ngày nhỏ, có câu hỏi: em hãy cho biết trường ta
chỗ nào chưa sạch đẹp, thì đáp án dành cho học sinh
thanh lịch luôn là: không có chỗ nào như vậy cả,
mà có sạch đẹp hay không là do chúng ta, trong suy
nghĩ của chúng ta (một câu trả lời như thế dễ dàng
nhận được lời bình kiểu: rất "sáng tạo",
rất "sâu sắc", rất "ét vê" theo
lối của Lại Văn Sâm trong show SV 96 đình đám trên
VTV một dạo). Biết thế, nhưng trường ta lúc nào
cũng có chỗ bẩn chỗ xấu, vì năm nào cũng trả lời
vậy vậy. Năm 1960, Nguyễn Huy Tưởng có viết bài
ký "Một ngày chủ nhật", đại khái nêu những
gì chưa đẹp đẽ về nếp sống quanh Bờ Hồ nhân một
buổi sáng chủ nhật dạo chơi. Theo hồi ký của Tô
Hoài và Nguyễn Huy Thắng (con trai Nguyễn Huy Tưởng)
thì bài này bị phê bình do có cái nhìn tiêu cực
trong khi toàn miền Bắc đang phấn khởi xây dựng
xã hội mới. Cái không đẹp lúc nào cũng dễ thấy vô
cùng, tuy nhiên với tinh thần "xây dựng là
chính", người mình không mấy khi để "mất
mặt ban đại diện", dù không bằng lòng nhưng
nhìn chung là tạo ra một "hành lang pháp lý"
để hợp pháp hoá những sự đã rồi, tạo ra lối thoát
hay "phương hướng giải quyết" để có kẽ
hở hay "cửa" để "chạy", "xử
lý nội bộ" nghĩa là chuyện đang được ém nhẹm
êm xuôi…
Song phải nhận thấy, Hà Nội trong xu thế chung,
đã đi bằng một tốc độ không chậm, ít nhất là về
mặt vật lý. Khối lượng vật chất nhiều hơn các thời
trước, quy mô và số lượng cũng gia tăng. Chỉ số
tăng trưởng 15 % là một chứng minh cho điều này.
Nhưng như đã nói, hình dung về một điểm đến cho
Hà Nội có là một hình ảnh như mong đợi, lại không
chỉ phụ thuộc vào sự nhanh chậm hay vào vận tốc
xác định. Chẳng phải Hà Nội vào những năm hoà bình
lập lại sau 1954 đã có một suất đầu tư khá lớn do
viện trợ và khối lượng cơ sở hạ tầng khá rầm rộ
được triển khai đấy thôi. Chiến tranh, khó khăn
kinh tế.. và những yếu tố khác không lường trước
có thể huỷ hoại những thành quả vừa có.
Thời gian và các thế hệ
Bạn tôi làm ở cơ quan nhà nước, khoảng 4 giờ chiều
đã nhắn tin rủ bạn bè đi uống. Cuối cùng chỉ có
những người cũng làm công chức hành chính mới đi
được giờ ấy. Đám "tư nhân" với "liên
doanh" phải 5-6 giờ mới ló dạng để hẹn hò.
Cơ quan nằm trong một khu viện nghiên cứu chung
một cổng. Không có căng tin nhưng có 3 quán nước
chè ở phía ngoài. Bao giờ hết cỏ nước Nam mới hết
khách uống trà đá. Thời gian khe khẽ trôi như lá
rơi nhè nhẹ trong gió mùa thu Hà Nội. Chuyển cơ
quan rồi mà khi quay lại đó, gặp lại bà bán nước
vẫn được nhận ra bằng sự thân mật hỏi han "làm
ăn thế nào", tức là mình có đi bốn phương trời,
vẫn cái tướng hạp quán nước.
Ngã
tư Hà Nội: sự bận rộn và đa chức năng cũng như chồng
chéo các tầng các lớp. Bên kia đường là 1 cột đèn
tương tự. Ta có thể thấy khoảng cách rất gần từ
chỗ người chụp đến tổ hợp dây và cột điện cùng hòm
công tơ đo điện. Phía phố đối diện là những ban
công vá víu cũng những tấm vách che tạm.
Có thể nói Hà Nội là thành phố công chức. Công chức
trung ương, công chức cấp thành phố, công chức các
ban ngành, công chức cấp quận huyện, phường xã…Người
ta không rõ nghề chuyên môn của anh, chỉ biết anh
làm ở Bộ, Sở hay Phòng ấy, có việc giấy tờ dấu má
thì đến đó, anh bên công đoàn, chị bên phụ nữ, bác
bên tổ chức..., mỗi người một phận sự. Đặc biệt
là lĩnh vực văn hoá. Thời bao cấp, cơ quan nào cũng
có bộ phận văn thể mỹ, phong trào văn nghệ quần
chúng rất sôi nổi, nhiều hạt nhân văn nghệ làm tăng
uy tín của cơ sở. Trong một vở kịch tên là "Ê
kíp" phê phán cơ chế quan liêu có một nhân
vật tên là Trần Ái, anh này ái nam ái nữ, không
rõ anh ta chuyên môn gì, chỉ biết hay mặc áo hoa
và đan len, hay hát "em đi trong tươi xanh",
nhưng anh ta là một thành phần không thể thiếu của
ê kíp quan liêu đó. Nghệ sĩ của chúng ta giỏi phê
phán, thế nhưng họ có đi trước và đi nhanh? Mới
đây, NSƯT Hoàng Dũng, trưởng đoàn kịch của Nhà hát
Kịch Hà Nội tâm sự với báo: "Tôi ước mong nghệ
sĩ (kịch) sống được bằng đồng lương" [13] .
Một người làm công làm thuê hay bất cứ ai cũng có
quyền nói vậy. Một lãnh đạo (dù chỉ là trưởng đoàn)
nói vậy là đã bi kịch lắm rồi. Nhưng mang danh nghệ
sĩ, hay người có tài năng sáng tạo, thì không thể
nói thế. Trông chờ vào nhà nước, vào đồng lương,
vào ê kíp..., và hiện thực thì như chúng ta đã thấy,
sản phẩm văn hoá văn nghệ luôn "thanh về vị
và đạm về sắc" theo kiểu gu ẩm thực mà người
Bắc vẫn tự hào.
Hà Nội cũng giống như một gia đình tứ đại đồng
đường, các thế hệ chung sống và ai cũng có thể tìm
cho mình những cách thoả mãn nhu cầu. Dù tắc đường,
dù giá đất cao, dù đủ thứ kinh hoàng, nó vẫn là
một nơi phù hợp để sống, để hoàn thiện những mơ
ước từ nhỏ bé đến cao ngạo nhất, có lẽ trừ lũ trẻ
con oằn oại dưới sức nặng của mớ sách giáo khoa.
Người già có thể vẫn tìm thấy mình trong các câu
lạc bộ hưu trí, trong ván cờ bên bờ Hồ Gươm, người
trẻ vẫn có thể lang thang quán xá, nhảy nhót trong
những night pub hay vùi đầu trong thư viện. Người
làm nghề đạp xích lô dường như thấy rất "ổn"
với đĩa thịt chó cùng vại bia hơi chiều mát, người
đang yêu nghĩ mình ở thiên đường khi sóng đôi bên
đường Thanh Niên chiều Tây Hồ bạt gió.
Trong cuộc chạy đua với thời gian, đem so sánh
kết quả là điều khó khăn và có vẻ không thực tiễn.
Người ít vận động thì thấy Hà Nội chạy đến chóng
mặt, kẻ tung hoành ngang dọc thấy như cá gặp nước,
anh thích khề khà cho là cuộc sống thật chậm chạp
và buồn tẻ. Luôn luôn là vậy, thanh niên lại được
tìm đến như những nhân tố kích thích năng lực đời
sống ("Đâu cần thanh niên có"...). Hẳn
nhiên, thế hệ trẻ là những người tạo nên tốc độ
của dòng chủ lưu. Trẻ trung và năng động, họ có
thể bỏ qua nhiều giá trị quan trọng đối với các
thế hệ trước, một số người có thể tự tước bỏ quyền
lái tốc độ khi sa vào nghiện ngập hay hình sự, nhưng
dù muốn hay không họ vẫn phải kế thừa những giá
trị đã có. Cá nhân tôi, đã nghe nhiều lần câu bình
luận "Hà Nội chỉ có chỗ này là đẹp" khi
đi qua những phố lớn từ thời Pháp để lại, hoặc thiết
kế một số hình ảnh tiêu biểu cho Hà Nội với đối
tượng là các công trình hiện đại, có những tranh
cãi "nhà đẹp toàn là của thực dân đế quốc hay
phong kiến cả". Tôi cho là không công bằng
đối với ban giám khảo cuộc thi "con đường đẹp
nhất Việt Nam" chẳng hạn, họ chỉ chọn 5 con
đường thôi, và Hà Nội có một là đoạn Liễu Giai -
Nguyễn Chí Thanh, con đường mới được mở vài năm.
Như thế đã là một sự thừa nhận tích cực cho một
bộ mặt mới của Hà Nội trong đời sống, cho phần trẻ
trung hơn của thành phố. Sự can dự vào đời sống
tinh thần của Hà Nội của mỗi con người đâu chỉ như
nhận xét của một phóng viên Mỹ, David Lamb: "Hà
Nội, là ngôi nhà của những trí thức, nhà
thơ, nhà văn. Có người bảo tôi ở Hà Nội,
người ta trầm ngâm suy nghĩ, rồi lại tiếp
tục suy nghĩ; còn tại Sài Gòn, người ta trầm
ngâm suy nghĩ, và rồi bắt tay vào việc"
[14] . Dù tốt hay không, những gì người Hà Nội đã
làm đã khiến thành phố đổi thay rất nhiều, khối
lượng việc không nhỏ ấy cho thấy người Hà Nội có
lẽ rút cục cũng phải chuyển mình, trong một tốc
độ khác.
--------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
Hà Nội giai đoạn 1873-1888, André Masson, Lưu Đình
Tuân dịch, NXB Hải Phòng, 2003. Bản tiếng Pháp "Hanoï
pendant la périod héroïque 1873 - 1889" in
tại Nhà in Viễn Đông Hà Nội IDEO, 1929.
Từ điển Đường phố Hà Nội, Nguyễn Hoài, Nguyễn Loan,
Nguyễn Tuệ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003.
Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Tô Hoài, Nguyễn
Vinh Phúc, NXB Trẻ, 2000.
Hà Nội, chu kỳ của sự phát triển, nhiều tác giả,
NXB Khoa học Kỹ thuật (công trình hợp tác của Hội
đồng vùng Ile-de-France với UBND TP HN), 2003.
Phố phường HN xưa, Hoàng Đạo Thuý, NXB Văn hoá Thông
tin, Hà Nội 2000.
Một số nhà văn hôm nay với HN, Vương Trí Nhàn, NXB
Hà Nội, 1986.
Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội, Trần Quốc
Vượng, Đỗ Thị Hảo, Trung tâm Triển lãm văn hoá nghệ
thuật VN, HN 2000.
Chuyện cũ HN, Tô Hoài, NXB HN, 2000.
HN, di tích lịch sử văn hoá và danh thắng, nhiều
tác giả, Trung tâm UNESCO Bảo tồn và phát triển
Văn hoá Dân tộc VN, HN 2000.
------------------------------------------------------
Phụ lục
STT Tên Hàng Tên khác Tên bây giờ Hàng bán hiện
nay
1 Hàng Bạc Vàng bạc, thuốc cam, café tour
2 Hàng Bài sửa đồng hồ, đồ điện tử, băng đĩa nhạc
3 Hàng Bè Hàng Cau
Rue des Radeaux guốc dép
café tour
4 Hàng Bồ Rue des Paniers
Hàng Nồi
Hàng Dép Dây, sợi, mút đệm áo quần, phụ tùng ngành
may mặc
5 Hàng Bông Rue du Cotton
Hàng Hài
+ Hàng Bông đệm + Hàng Bông Lờ/Hàng Lam quần áo
may sẵn, đồ tơ lụa, gallery tranh
Ngõ Hàng Bông Cấm Chỉ
Rue Lhonde Hàng ăn uống
6 Hàng Bột Voie 205
Phạm Lập Trai Ngõ Hàng Bột rửa xe máy
Hàng Bột + Rue Soeur Antoine Phố Tôn Đức Thắng vật
liệu trang trí nội thất, may đo áo cưới, giầy dép
7 Hàng Buồm Rue de voilles Bánh kẹo
8 Hàng Bún Rue de vermicelles Rửa xe
9 Hàng Bút Hàng Mụn
Rue Combanére
10 Hàng Bừa một đoạn phố Lò Rèn Gò hàn sắt cửa
11 Hàng Cá Poissonnerie
Tiền Ngư trại
12 Hàng Cau đoạn đầu Hàng Bè Café tour
13 Hàng Cân Rue des Balances Giấy, bìa, văn phòng
phẩm, quần áo
14 Hàng Chai
15 Hàng Cháo Voie 206
Phan Phu Tiên
Bảng Nhãn Đôn
Hàng Hương Phụ tùng cơ khí, dụng cụ thể thao
16 Hàng Chè đoạn đầu phố Đinh Tiên Hoàng Túi xách,
ba lô
17 Hàng Chỉ
18 Hàng Chiếu Đông Hà
Phố Mới
Rue Jean Dupuis Chiếu, thảm, các loại bao bì sợi
nilon
19 Hàng Chĩnh Rue des Vases Chum vại chĩnh (ít)
20 Hàng Chuối Rue Général Beylié
Lê Quý Đôn
21 Hàng Cỏ Cité Chấn Hưng
22 Hàng Cót Rue Takou
23 Hàng Cuốc Đoạn phố Lò Rèn
24 Hàng Da Rue des Cuirs bạt đệm da,
biển quảng cáo
25 Hàng Dầu Rue du Lac giầy dép
26 Hàng Dép đoạn đầu Hàng Bồ
27 Hàng Đàn đoạn giữa Hàng Quạt
28 Hàng Đào Rue de la Soi Quần áo may sẵn, đồng
hồ nữ trang
29 Hàng Đậu Rue des Graines Quần áo mưa, bể cá cảnh,
đồ điện
30 Hàng Đẫy đoạn đầu phố Nguyễn Thái Học Đồ điện,
tranh chép, khung tranh, biển quảng cáo
31 Hàng Điếu Rue des Pipes Mứt sen trần, ô mai,
bánh kẹo, hàng ăn
32 Hàng Đồng Rue des Tasses Đồ tế khí đồng đúc
33 Hàng Đường Rue du Sucre Ô mai bánh mứt kẹo (vài
nhà dãy lẻ),
Vải vóc quần áo
34 Hàng Gà Rue Tien Tsin (Thiên Tân) In thiếp mời,
hàng ăn
34b Dốc Hàng Gà - chợ Hôm đoạn phố Huế Quần áo,
giầy dép, mỹ phẩm
35 Hàng Gai Rue du Chanvre
Hàng Thừng Hàng lưu niệm, mỹ nghệ, may thêu, khắc
dấu, in ấn, gallery tranh
36 Hàng Gạo Rue du Riz Đồng Xuân Tạp phẩm
37 Hàng Giầy Hàng Màn (Rue Lataste) + Nguyễn Duy
Hàn
Tán Thuật Bánh kẹo, tạp phẩm
38 Hàng Giấy Rue du Papier Tạp phẩm
39 Hàng Giò Đoạn đầu phố Bà Triệu
40 Hàng Hài đoạn đầu Hàng Bông
41 Hàng Hành Ruelle des Oignons Cà phê, ăn sáng
(xôi gà, bún thang)
42 Hàng Hòm Rue des Caisses Đồ lưu niệm, đồ phụ
liệu nghề mộc
43 Hàng Hương Cité Maréchal Joffre Thịt chó, bia
hơi
44 Hàng Kèn đoạn phố Bà Triệu từ ngã năm Trần Hưng
Đạo đến ngã tư Nguyễn Du Quần áo, xe đạp, thảm.
Có 1 hàng bán chữ nho.
45 Hàng Khay Thợ Khảm
(Rue des incrusteurs)
Rue Paul Bert
Anh Quốc (Greet Britain Street) Sơn mài chạm khảm
mĩ nghệ,
chụp ảnh
46 Hàng Khoai Rue des Tubercules Nông thổ sản,
Sành sứ Trung Quốc
47 Hàng Lam đoạn đầu Hàng Ngang
48 Hàng Lọng Hàng Tàn
Route Mandarine
Rue De Latte de Tassigny
Kim Liên
Nam Bộ Lê Duẩn Đồ gỗ chạm trổ kiểu cổ,
Đèn chùm (đoạn giữa phố),
Quần áo, giầy dép, trang phục bộ đội
Ngõ Hàng Lọng Cà phê
49 Hàng (Bông) Lờ cuối Hàng Bông
50 Hàng Lược Cống Chéo
Phố sông Tô Lịch Hoa Tết
51 Hàng Mã Hàng Đồng (rue du Cuivre) Hàng mã, chữ
trang trí đám cưới, đèn trung thu, giấy gói lưu
niệm
52 Hàng Màn đoạn đầu Hàng Giầy
53 Hàng Mành Rue des Stores Mành treo, có hàng bún
chả ở số 1
54 Hàng Mắm 1 đoạn tên Hàng Trứng
Rue de la Saumure Bia mộ, tiểu sành, đồ sành, đất
nung
55 Hàng Mây Rue des Pavillons noirs (Quân Cờ Đen)
Mã Mây (= Hàng Mã dưới + Hàng Mây) Café tour
56 Hàng Mụn Hàng Bút
57 Hàng Muối Rue du Sel Nội thất ô tô
58 Hàng Nâu Trần Nhật Duật Phụ tùng và sửa chữa
xe máy, ô tô
59 Hàng Ngang Rue des Cantonnais, Việt Đông giống
Hàng Đào
60 Hàng Nón Mã Vĩ + Hàng Nón
Rue des Chapeaux Trướng thêu,
Cờ phướn
61 Hàng Nồi Tên Nôm thôn Nhân Nội ở vào phố Hàng
Bồ
62 Hàng Phèn Rue du Vieux Marché
63 Hàng Quạt Hàng Quạt + Hàng Đàn
Rue des Eventails Thêu tranh, chữ trướng, cờ phướn
64 Hàng Rươi Rue des vers blancs
65 Hàng Sắt đoạn đầu Thuốc Bắc Thuốc bắc,
Gò hàn
66 Hàng Sơn Rue de la Laque Chả Cá Đồ chơi, quần
áo thời trang,
chả cá chỉ có 1 hàng ở số 14
67 Hàng Than Rue de Charbon Bánh cốm
68 Hàng Thêu đoạn cuối Hàng Trống
69 Hàng Thiếc Rue des Ferblanctiers Gò tôn, nhôm,
thiếc, inox
70 Hàng Thịt
71 Hàng Thùng Rue Foutchéou (Phúc Châu)/Rue Rondony/Bình
Chuẩn + Rue des Seaux Lòng lợn tiết canh, bia hơi
72 Hàng Tiện đầu Hàng Gai
73 Hàng Tre Rue des Bambous Cà phê
74 Hàng Trống Hàng Thêu
Rue des Brodeurs
Rue Jules Ferry Thêu, may đo com lê, bán tranh,
đồ lưu niệm
75 Hàng Trứng đoạn cuối Hàng Mắm
Tên cũ ngõ Đông Thái
76 Hàng Vải Hàng Vải Thâm
Hàng Vải + Hàng Cuốc
Rue des étoffes Thang, cọc tre nứa
77 Hàng Vôi Rue de la Chaux Nhiều trụ sở ngân hàng
(Những tên in nghiêng nay không còn)
Nguyễn Trương Quý sinh năm 1977, hiện sống tại Hà
nội.
© 2003 talawas
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Riêng phố Hàng Ngang, theo tập ghi chép "Nhớ
và ghi" của Nguyễn Công Hoan thì do phố này
nguyên có tên là phố Quảng Đông (do bang hội người
Hoa xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc định
cư từ thế kỷ 19 nên chính quyền bảo hộ Pháp đặt
như vậy), nhưng do 2 đầu phố, đoạn nối với Hàng
Ngang và Hàng Đường có 2 chiếc cổng chắn ngang,
một hình thức phân chia phường thợ hồi đó, nên dân
ta gọi là Hàng Ngang (cũng như có phố Cổng Đục nối
phố Hàng Vải với Phùng Hưng do sự tích Trần Thủ
Độ cho đục cổng thành đoạn này để bí mật đưa linh
cữu vua Lý Huệ Tông ra an táng tại phường An Hoà.
Thuyết khác: đục để cho quân lính trong thành đi
chợ). Ta có thể nhìn thấy ảnh và tranh vẽ chiếc
cổng ở phố Hàng Ngang này do người Pháp thực hiện.
[2]Quyết định số 45/1999/QĐ-UB của UBNDTPHN
[3]Tích nhân dĩ khứ hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
(Thôi Hiệu)
[4]Xuân Diệu, Toả Nhị Kiều
[5]36 phường lần lượt là:
1-10: Hà Khẩu, Diên Hưng, Đồng Lạc, Cổ Vũ, Thái
Cực (Hàng Đào đổi ra), Đông Các, Đông Thọ, Đông
Hà, Đồng Xuân, Thạch Khối, những phường này nằm
trong khu phố cổ quy ước bây giờ, tên của chúng
đổi rất nhiều lần, nhưng không có lần nào mang tên
Hàng gì nữa (trước khi lập ra các đơn vị Phường
và Quận thay cho Tiểu Khu và Khu Phố vào tháng 6-1981,
lại có các phường mang tên Hàng Đào, Hàng Mã vv…
tuy nhiên chỉ mang ý nghĩa hành chính chứ không
như phường thợ ban đầu).
1-13: Báo Thiên, Yên Xá, Phúc Lâm (Nam Quận Hoàn
Kiếm).
14-16: Phúc Cơ, Yên Thọ, Hồng Mai (Bắc Quận Hai
Bà Trưng).
17-19: Hoè Nhai, Thái Hoà, Liễu Giai (Quận Ba Đình).
20-29: Yên Hoa, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Chiêu,
Trích Sài, Bái Ân, Võng Thị, Yên Thái, Hồ Khẩu,
Thuỵ Chương (Quận Tây Hồ).
30-36 : Vĩnh Xương, Thịnh Hào, Quan Trạm, Kim Hoa,
Nhược Công, Thịnh Quang,
Xã Đàn (Quận Đống Đa).
[6]Thơ Bùi Giáng
[7]Lời bài hát Hà Tây quê lụa của Nhật Lai
[8]Hình thức thành trì do đại uý kỹ sư Vauban thiết
kế vào thế kỷ 18 ở Pháp, hình vuông, có các ụ súng
4 góc lồi ra nhằm khống chế hoả lực cả 3 phía. Gia
Long., Minh Mạng áp dụng nhưng có phát triển thành
các dạng đa giác đều khác.
[9]Lời bài hát "Mong về Hà Nội", "Bay
vào ngày xanh" của Dương Thụ, "Hà Nội
ngày trở về" của Phú Quang, thơ Thái Thăng
Long.
[10]Cụ thể: 6 tháng đầu năm 2003 cấp 1472 giấy phép
xây dựng. Số vi phạm là 170 sai phép, 3177 không
phép, 1149 trái phép và dỡ bỏ 999 vụ.
[11]Thể thao-Văn hoá, phỏng vấn của Việt Mai.
[12]Thơ Lê Đạt
[13]http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2003/08/3B9CA46B/
[14]Hà Nội trong mắt người nước ngoài, Lê Quỳnh.
Talawas 04.02.2003
Nguyễn Trương Quý

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|