| 
Miếu
Hai Bà Trưng bên sông Hồng
Miếu Đồng Nhân (còn gọi là miếu Hai Bà Trưng) có
từ thế kỷ XII, ở cạnh sông Hồng. Theo truyền thuyết,
sau khi Hai Bà Trưng gieo mình xuống dòng Hát Giang,
khí anh linh kết thành tượng đá, theo dòng nước
trôi xuôi, mãi đến thời Lý mới tới vùng Thăng Long.
Một đêm đầu tháng hai, pho tượng tỏa sáng trên dòng
sông Nhị, trước bãi Đồng Nhân. Các làng quanh đấy
thấy vậy tranh nhau ra khấn để vớt tượng về thờ
nhưng chỉ dân làng Đồng Nhân vớt được.
Biết chuyện, vua Lý Anh Tông sai dân dựng miếu
thờ Hai Bà ở ngay bến sông làng Đồng Nhân, lại phát
đôi ngà trang trí cho hai voi thờ. Dân làng được
cấp 36 mẫu tự điền, được miễn phu phen, tạp dịch
để lo việc thờ cúng. Những năm trời đại hạn, các
vua Lý đến miếu Hai Bà để cầu đảo, thường ứng nghiệm.
Đến năm Gia Long thứ XVIII (1819), đất phía Bắc
làng Đồng Nhân bị xói lở, dân làng dời miếu tới
làng Hoa Viên, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương,
dựng trên nền tập võ của triều Lê. Khi người Pháp
xây dựng Viện Pasteur, lại một lần nữa miếu di chuyển
vào giữa làng và tồn tại đến ngày nay ở phố Đồng
Nhân, quận Hai Bà Trưng.
Tại đây, đền thờ Hai Bà được xây dựng với quy mô
khá lớn theo kiểu “Nội công ngoại quốc”. Tòa tiền
tế 7 gian thờ hai voi gỗ sơn đen; tòa bái đường
đặt ngai thờ và một tấm khảm thể hiện Hai Bà cưỡi
voi đánh giặc. Trong hậu cung đặt tượng Hai Bà cùng
6 tượng nữ tướng hai bên...
Dù ngôi miếu cổ đã dời đến nơi mới và được xây
dựng khang trang nhưng dân bãi Đồng Nhân vẫn nhớ
công đức Hai Bà nên vẫn lập miếu thờ. Đó là miếu
Hai Bà, nay thuộc phường Bạch Đằng, quận Hai Bà
Trưng.
Miếu nằm sát ven đường Bạch Đằng, quay mặt ra sông
Hồng trên khu đất rộng 400m2. Miếu gồm tiền tế và
hậu cung. Tiền tế 3 gian, hậu cung 1 gian được xây
kiểu tường hồi bít đốc. Cổng xây gạch, ở giữa là
hai trụ biểu, mỗi trụ kích thước 50 x 50 cm, trên
đầu là 4 con phượng, các đuôi phượng chụm vào nhau
vươn lên thành hình quả dành, đầu phượng hướng ra
bốn phía. Giữa hai trụ biểu xây mái kiểu chồng diêm,
các góc mái uốn cong, phần chữ nhật ở giữa 2 mái
đắp nổi 4 chữ Hán “Hùng liệt tinh anh” (hồn thiêng
anh hùng lẫm liệt).
Trong đền còn giữ được một số đồ tế khí, hương
án, kiệu long đình, long ngai chạm nổi hình rồng;
một đạo sắc phong năm Chính Hòa thứ nhất (1680)
với các dòng chữ “Lĩnh Nam liệt khái, thạch hóa
chân dung”. ở gian chính của miếu treo bức hoành
“Tử vân đài” (đài mây tía) và một số câu đối ca
ngợi công đức Hai Bà:
Thế thượng anh linh kham viết mẫu
Nhân gian cảm ứng thị như sinh
(Anh linh trên đời đáng gọi bằng mẹ
Linh ứng trong dân mãi vẫn còn)
Trải qua thời gian và lụt lội, miếu Hai Bà bên
sông Hồng rơi vào tình trạng đổ nát. Nhằm giữ dấu
tích một địa danh lịch sử, năm 1994 miếu đã được
Bộ VH-TT xếp hạng; năm 2000 thành phố chi tiền tôn
tạo lại tiền tế và hậu cung toàn bằng gỗ tốt. Kiến
trúc mới xinh xắn và giữ nguyên dáng vẻ cũ, hòa
nhập với cảnh quan. Cổng miếu mang đậm dấu ấn nghệ
thuật cuối thế kỷ XIX vẫn được giữ nguyên. Trong
ngày khánh thành, các bà ở các đoàn lễ đã cúng vào
miếu tượng Hai Bà hoành phi, câu đối, án thờ...
Di tích miếu Hai Bà đã được hồi sinh. Tại đây cứ
5 năm một lần, vào sáng ngày mồng 5 tháng 2 âm lịch,
đoàn rước gồm hai voi thờ, kiệu nước từ đền Hai
Bà Trưng (phường Đồng Nhân), trước khi xuống sông
lấy nước rước về bao sái tượng, lại vào làm lễ bái
yết ở miếu Hai Bà làm cho không khí ngày hội trên
sông càng thêm nhộn nhịp.
hết: Miếu Hai Bà Trưng bên sông Hồng, xem tiếp:
Khu du lịch sinh
thái Nà Hang
XEM
TIẾP
|