| 
Lam
Kinh
Lam
Kinh ngày xưa
Từ thành phố Thanh Hóa, theo tỉnh lộ 15A đi về hướng
Tây 51km, ta sẽ gặp chiếc "nôi vàng".
Ðó là Lam Kinh, nơi bắt đầu của thời kỳ hậu Lê trong
lịch sử Việt Nam, nốt nhạc đầu tiên của bản anh
hùng ca đánh đuổi giặc Minh, thu giang sơn về một
mối.
Lam Kinh nằm trên
đất huyện Thọ Xuân, một huyện đã sinh cho dân tộc
hai đời Lê (Tiền Lê, Hậu Lê) - vùng đất mà cách
đây gần một ngàn năm cụ tổ của Thái Tổ Cao Hoàng
đế Lê Lợi thấy chim bay về đậu quây quần thành bầy,
quyết định san đất dựng nhà.
Bạn đã được thưởng
thức hương vị cay cay ngọt ngọt của chè lam Phủ
Quảng, một loại bánh làm bằng bột gạo nếp, mật mía,
trộn lẫn lạc và gừng? Bạn đã được nếm cái dẻo quạnh,
đen nhanh nhánh của bánh gai Tứ Trụ, cái béo ngậy,
giòn thơm của cá rô Ðầm Sét rán vàng? Những sản
phẩm nổi tiếng đó bạn sẽ gặp khi về Lam Kinh.
Sử tích về
Lam Kinh
Ở xứ Thanh người
ta không nói "đến" Lam Kinh mà thường
nói "về" Lam Kinh. Về nhà, về với khu
di tích lịch sử, về với nơi khởi nguồn của những
chiến tích hào hùng. Khác hẳn với những danh thắng
khác, chuyến du lịch của ta chộn rộn nhịp điệu cuộc
sống đương đại. Về Lam Kinh, ta bỗng thấy tĩnh tâm,
thư thái. Năm tháng như lùi lại. Hiện lên trong
ta khung cảnh Hội thề Lũng Nhai. Một đêm năm Bính
Thân (1416) 18 người con của đất nước hừng hực ý
chí đứng trước đống lửa ngùn ngụt cháy, thề đánh
đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Cái màu xanh vô tận
của núi rừng, xanh ngắt của sông Chu, xanh âm u
của rêu phong thềm gạch đưa ta ngược dòng thời gian.
Lam Kinh là đây: Chiếc "nôi vàng" của
những sự tích ngọc. Chuyện về một nhà sư già mách
Lê Lợi táng linh xa vào mảnh đất hình quốc ấn. Thế
đất xoáy ốc, trước mặt có núi Chiêu làm hương án,
tả có núi Rồng chầu về, hữu có núi Hồ chầu lại,
tay phải Hồ Thuỷ, tay trái Long Sơn liên kết như
chuỗi hạt châu phát ngôi Thiên tử. Chuyện về cây
gươm thần do Lê Thận, người dân chài lưới trên sông
dâng tặng, 10 năm theo Lê Lợi tung hoành trận mạc,
để rồi sau khi đất nước thanh bình trả lại Rùa vàng
làm nên sự tích Hồ Hoàn Kiếm giữa lòng thủ đô. Chuyện
về lá rau cải in hình quả Quốc ấn, người vợ Lê Lợi
làm vườn bắt được quả ấn vàng có chữ Lê Lợi đề trên
lưng ấn. Chuyện về cô gái áo trắng chết nằm bên
sông hóa hồ ly đánh lạc hướng kéo đàn chó ngao cùng
lũ giặc Minh chạy ra khỏi nơi Lê Lợi đang ẩn nấp,
cứu nhà vua một phen thoát hiểm. Chuyện về Lê Lai,
lãnh tụ thứ hai của nghĩa quân, một trong số mười
tám người ở Hội thề Lũng Nhai, đổi áo bào, nhận
cái chết về mình, liều mình cứu chúa. Ðây là bia
Vĩnh Lăng. Nhà bia vút cong mái ngói. Những cột
gỗ thẳng tắp, nghiêm trang như những người chiến
binh cổ đứng gác để dòng văn do ngôi sao Khuê -
Nguyễn Trãi biên soạn chảy mãi vào hậu thế. Cây
đa già phơ phất chòm râu và đồi Lim xào xạc kia
cứ rủ bóng thời gian xuống những lăng tẩm, đền miếu,
cứ điểm rơi kiên nhẫn từng chiếc lá tạo nên cung
đàn trong chiều u tịch. Hàng tượng đá, voi đá, ngựa
đá đứng đó trầm mặc với thế cuộc, trầm mặc với tuế
nguyệt, khắc hoạ lại cho ta những mùa xuân thanh
bình từ Ðông Ðô vua quan xe lọng tưng bừng trở về
Lam Kinh bái yết lăng miếu.
Lam Kinh
với những biến cố thăng trầm
Ðược xây dựng từ năm 1433, Lam Kinh trải qua nhiều
biến cố thăng trầm của lịch sử. Bị hỏa hoạn, bị
đập phá. Những thềm gạch rêu phong lặng lẽ, những
chân cột đá trắng mòn mưa nắng gợi cho ta man mác
nổi niềm "Tạo hóa gây chi cuộc hí trường".
Nơi đây có Vĩnh Lăng, Hựu Lăng, Mục Lăng cất giữ
hình hài xương thịt của Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông,
Lê Nhân Tông. Nơi yên tĩnh vĩnh hằng của cha con,
ông cháu Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi. Ðâu rồi "Lối
xưa xe ngựa"? Ðâu rồi những văn bia chứa đựng
dòng văn cổ lóng lánh của các sĩ phu nổi tiếng?
Về Lam Kinh, sự nghiệp hưng đế 360 năm của thời
hậu Lê như được thời gian chầm chậm quay lại. Ta
từng biết Lưu Bang chém rắn trắng khởi nghĩa dựng
nên cơ đồ 300 năm nhà Hán (Trung Quốc). Về đây giữa
chiếc "nôi vàng" ta tự hào có Lê Lợi vung
gươm khởi nghĩa quét sạch giặc Minh ra khỏi non
sông gấm vóc, dựng nên một triều đại cường thịnh
nhất trong lịch sử dân tộc. Từ trận ra quân đầu
tiên đánh "Mã Kỳ" đến trận hãm thành Ðông
Quan. Từ Lạc Thủy (Thanh Hóa) tới núi Mã Yên (Lạng
Sơn), từ mùa xuân năm Mậu Tuất (1418) đến mùa xuân
năm Mậu Thân (1428) là bản hùng ca bất tử. Gió từ
sông Chu vẫn thổi về khúc ca ấy. Cây cối Lam Kinh
vẫn ngày đêm rì rầm hát về khúc ca ấy.
Hàng năm vào dịp tháng 8 âm lịch, lễ hội Lam Kinh
lại bắt đầu. Ngày giỗ của Lê Lợi (22/8/1433) được
cử hành trọng thể. Tiếng cồng chiêng âm vang rừng
núi. Các điệu múa dân gian: Múa Xéc bùa, múa đèn
Ðông Anh, múa rồng uyển chuyển bay lượn. Các trò
chơi: Ném còn, dựng cây nêu, hát trò Xuân Phả náo
nức lòng người.
Còn hôm nay Lam Kinh
vẫn xanh ngắt, hòa xanh với các bãi bồi theo dọc
sông Chu. Dòng sông vẫn cuồn cuộn ngày đêm đem nước
nguồn xuôi về phía biển. Chiều trung du xứ Thanh
vẫn ráng đỏ Lam Kinh. Ta ra về mà tiếng cồng chiêng,
tiếng quân reo trận mạc vẫn chưa dứt. Son sắt bài
văn thề Lũng Nhai. Sang sảng một Bình Ngô Ðại Cáo.
Có điều gì xao xuyến trong ta. Có cái gì níu lại
chân ta khiến ta cứ phải quay lại ngắm nhìn. Ðó
là Lam Kinh chiếc "nôi vàng" của tất cả
chúng ta.
(TCDL
XEM
TIẾP
|