| 
Vạn
Lộc - cảnh đẹp người tài
Đền
Vạn Lộc
Sách cổ Hoan châu bi ký (văn bia châu Hoan - tức
Nghệ An nay) chép: "Hoan Châu cảnh đẹp, Vạn
Lộc nổi danh, tướng dòng nhà tướng, khác hẳn thường
tình, uy phong lẫm liệt, tướng mạo đường hoàng.
Rồng mây gặp hội, công nghiệp vẻ vang. Duyên may
hòa hợp, sánh người tao khang...". Những dòng
xưng tụng ấy nói về làng quê đất đẹp, người tài
Vạn Lộc, nay thuộc phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò.
Làng xã ven biển Cửa Lò ấy do Thái
úy, quận công, phò mã Nguyễn Sư Hồi (1444 - 1506)
chỉ huy khai khẩn. Vị quận công này là con trưởng
công thần khai quốc, Thái sư quận công Nguyễn Xí,
danh tướng phò Lê Lợi từ Lam Sơn, xông pha trận
mạc, có công đuổi giặc, lập triều Lê. Ba năm sau
ngày đưa cha về quê an táng và lập đền thờ (tại
làng Thượng Xá, nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc),
năm 1469 Nguyễn Sư Hồi xin trấn thủ vùng các cửa
biển Nghệ An, khai hoang lập ấp, làm mạnh phòng
thủ vùng biển hệ trọng này. Vua Lê Thánh Tông chuẩn
tấu, phong ông làm Trấn thủ thập nhị hải môn (trấn
thủ 12 cửa biển từ Sầm Sơn đến Cửa Tùng). Ông đóng
căn cứ với hạm thuyền mạnh ở Cửa Xá (nay là Cửa
Lò) quê hương. Thế là một vệt làng mới ven biển
được lập ra, Nguyễn Sư Hồi được ban cấp các làng
Vạn Lộc, Tân Lộc...
Câu chuyện ấy ở quãng cuối đời vị
quận công họ Nguyễn. Ông tuổi nhỏ được cha dạy văn,
luyện võ, lớn lên có tài thao lược. Năm 1460, Lê
Nghi Dân cùng vây cánh Lê Bân, Phạm Ðồn nổi loạn
tự xưng vua, lại cho tay chân lẻn vào cung cấm giết
vua Nhân Tông và Hoàng thái hậu. Cha con Nguyễn
Xí cùng các trung thần dẹp được loạn, rước Lê Tư
Thành lên ngôi, hiệu là Thánh Tông. Nguyễn Sư Hồi
được vua sủng ái, ban nhiều bổng lộc, phong chức
Nhập nội thái úy, tước quận công, cho dự triều chính,
lại kén làm Phò mã đô úy.
Thuở mới thành làng, đất này có
tên Hải Ngung, còn gọi Hải Giang (tên khác là sông
Cấm). Cửa sông ra biển gọi Cửa Xá hay Lô Tân, Xá
Tân, sau có thể Lô đọc thành Lò mà thành Cửa Lò.
Vạn Lộc có thế phong thủy tuyệt đẹp "hổ phục
rồng chầu". Bốn phía núi non quần tụ: "trước
mặt là núi Rồng (Long Sơn), chếch sau là núi Bảng
(Bảng Nhãn Sơn), sau lưng là núi Bầu (Lô Sơn), xa
sau, ngoài biển là các đảo Lan Châu, Hòn Ngư, Hòn
Mát, xa bên trái là núi Voi, núi Mão, núi Cờ, núi
Kiếm. Làng quay về hướng bắc, nhìn ra sông Cấm ăm
ắp nước quanh năm. Nay thì khúc sông này thành một
vùng cảng Cửa Lò. Vùng biển này là vùng "nhân
kiệt". Sau các danh tướng, công thần Nguyễn
Xí, Nguyễn Sư Hồi, là đông đảo các nhà khoa bảng
có công chính trị, giáo dục, học thuật, văn chương,
như Phạm Nguyễn Du, Sơn phòng chánh sư Nguyễn Thức
Tự, tiến sĩ Nguyễn Huy Nhu, phó bảng Hoàng Văn Cự,
các ngự y Phạm Văn Dụ, Hoàng Nguyên Cát,Hoàng Nguyễn
Lễ, v.v. Riêng một làng Vạn Lộc có một phó bảng,
một tiến sĩ, 18 cử nhân, hương cống, 46 tú tài.
Làng được ngợi ca: "Văn giành đỉnh bút. Võ
chiếm đề đao, không đâu sánh kịp". Cũng là
thắng địa: "Thanh Hóa Nho Quan, Nghệ An Vạn
Lộc".
Vạn Lộc nay là điểm du lịch không
ngày nào vắng khách. ở đây có cảnh trí núi non,
sông nước hùng vĩ mà bình dị. Nhiều di tích lịch
sử - kiến trúc ít thấy ở một phường phố trong vùng:
đền Vạn Lộc (thờ Nguyễn Sư Hồi), chùa Phổ Am, nhà
lưu niệm Phạm Văn Tâm (chiến sĩ Xô-viết - Nghệ Tĩnh).
Ðền Vạn Lộc gồm ba tòa (chữ tam),
mỗi tòa ba gian, mái ngói mũi hài, nóc đắp hình
hai rồng chầu mặt trời. Trung điện xây cất sớm nhất,
thời Lê. Sau vài lần trùng tu, nay được sửa sang
tôn tạo, ngôi đền nhìn ra sông Cấm này khá bề thế,
lưu giữ trên rường, bẩy, đồ thờ... nghệ thuật chạm
trổ đặc sắc của miền biển các thời Lê, Nguyễn. Cổ
vật quý hiếm là hai ngai thờ, hai bộ song kiếm,
cùng bộ bát bửu (tám loại binh khí) chạm trổ tinh
vi, sơn son thếp vàng giữ được từ thời Lê, bên cạnh
những lư hương, hạc chầu... đồng đen đầu thời Nguyễn.
Lễ hội tưởng niệm Nguyễn Sư Hồi ba năm một lần,
vào các năm "hỏa" (Tý, Ngọ, Mão, Dậu)
ngày Rằm tháng Giêng. Rước linh đình, tế lễ và mở
hội võ vật, chọi gà, kéo co, cờ tướng, múa lân,
đặc sắc và sôi động nhất là đua thuyền gợi nhớ về
một thuở cha ông khai hoang lấn biển, đánh cá, chiến
chinh giữ làng giữ nước
XEM
TIẾP
|