| ĐỊA
LÝ
Vĩnh
long xưa – một địa chí văn hóa thu nhỏ của đất nam
bộ
1.
Vài nét về địa lý hành chính của Vĩnh Long xưa:
Cũng như bao tỉnh miền Tây khác, Vĩnh Long vốn do
đất phù sa cấu tạo, phì nhiêu thích hợp để trồng
lúa các loại cây ăn trái và cây kỹ nghệ như: bố,
bông vải. Đa số người dân sống bằng nghề nông. Vĩnh
Long nằm ở vị trí trung tâm của Nam phần Việt Nam,
giáp ranh với các tỉnh: Kiến Tường, Định Tường,
Phong Dinh, Vĩnh Bình, Kiến Hoà và An Giang.
Khảo sát về lịch sử tỉnh Vĩnh Long qua nhiều giai
đoạn, chúng tôi nhận thấy: từ 1658 trở về trước,
Vĩnh Long thuộc địa phận nước Chân Lạp; từ 1658
-1730 Vĩnh Long được đặt dưới sự bảo trợ của chúa
Nguyễn; từ 1730 -1759 là thuộc địa của chúa Nguyễn;
từ 1760 trở về sau, vua Chân Lạp nhượng đứt cho
Việt Nam; từ 1867 bị đặt dưới chế độ thuộc địa của
Pháp. Năm 1867, quân Pháp từ Định Tường (Mỹ Tho)
kéo đến chiếm thành Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên,
dân tình sống trong cảnh lầm than, Vĩnh Long đầy
tang tóc. Cụ Phan Thanh Giản tử tiết trên mảnh đất
này, làm cho mọi người xúc động, cảm phục sự hy
sinh cao quý của cụ, thà chết chứ không bao giờ
khuất phục trước vũ lực bạo tàn của kẻ xâm lăng.
2. Những di tích lịch sử - văn hoá:
2.1. Đình:
Khi
nói đến một làng xưa Việt Nam thì tâm điểm trọng
yếu đầu tiên mà ai cũng nghĩ đến là đình làng. Ngôi
đình là nét đặc trưng hay có thể gọi là bản sắc
của làng xã truyền thống Việt Nam. Đình là nơi tôn
thờThành hoàng, vị thần bảo hộ cho làng, là trái
tim điều khiển chi phối những hoạt động đời sống
cộng đồng của đơn vị hành chính cơ sở tạo nên đất
nước. Ngôi đình không chỉ là cơ sở tín ngưỡng quyền
lực siêu nhiên mà còn là nơi hội họp bàn bạc tất
cả những vấn đề to nhỏ liên quan đến làng. Đời sống
cộng đồng hưng thịnh hay suy bại, cư dân có an khang
phú quý hay không, phong tục thuần hậu tốt đẹp hay
không, tất cả đều liên quan đến tâm điểm thiêng
liêng – ngôi đình. Đó là nơi biểu hiện chỉnh thể
kinh tế, văn hoá, xã hội của một địa phương.
Các triều đại hưng rồi vong, đất nước có thể thăng
trầm nhưng đình vẫn sừng sững đứng đó và làng không
thể mất đi, làng lại kết tụ thành đất nước. Qua
hai cuộc chiến tranh kháng Pháp và chống Mỹ, có
biết bao đình, chùa của làng quê Việt Nam đã bị
huỷ hoại. Sau 1975, do thiếu ý thức bảo vệ, chúng
ta đã tự làm mất đi không ít ngôi đình. Ngoài ra,
sự tác động hàng trăm năm của văn hoá phương Tây,
tinh thần thiêng liêng của ngôi đình cũng không
tránh khỏi mờ khuất, dần dần bị mai một và biến
dạng. May thay, có một ngôi đình cổ ở đồng bằng
sông Cửu Long vẫn còn giữ được khá toàn vẹn diện
mạo ban sơ – đình Tân Giai (một ngôi đình cổ kính
từ thời Gia Long). Bên cạnh đình Khao cổ kính, Vĩnh
Long còn có nhiều ngôi đình mang nhiều sắc thái
độc đáo và lạ kỳ. Đình Tân Giai là ngôi đình lớn
nhất trong tỉnh Vĩnh Long.
Được biết, vào đời Gia Long, nhận thấy dân chúng
địa phương rất nặng lòng tín ngưỡng, chính quyền
tán thành công cuộc xây dựng một ngôi đình thần.
Đình toạ lạc trên vuông đất công điền, nằm sát mé
sông Cổ Chiên, tại Vàm Cái Cá, mặt tiền hướng về
phía bờ sông. Dân chúng đều hoan hỉ, tới nơi sùng
phụng, tưởng niệm đất nước, tiền nhân, khói hương
chiêm bái không ngớt. Đặc biệt nhất là vào những
ngày đáo lệ Kỳ Yên, đủ mọi tầng lớp nhân dân hội
họp cung thỉnh sắc thần, cực kỳ long trọng và tôn
nghiêm.
Trải qua cuộc binh biến, ngôi đình vẫn trơ gan cùng
tuế nguyệt, biểu dương tinh thần dân tộc. Chạnh
lòng hoài cổ, các ông Phó tổng Ngô Văn Lân, hương
cả Tống Hữu Viên là thân phụ ông Tống Hữu Trung
có công lập làng Tân Giai, các vị kỳ lão trong làng
cùng nhau đứng ra lo việc tu bổ ngôi đình, nối tiếp
phụng thờ.
Năm 1924, vì bị dòng nước sông Cửu Long đổ xuống
sông Cổ Chiên, làm lở mé hữu ngạn sông này, từ trên
Vàm Tuần Bắc Mỹ Thuận chạy xuống Vàm Cái Cá và sông
Long Hồ, làm ảnh hưởng đến ngôi đình. Quý vị hương
chức hội tề bèn lo việc dời ngôi đình vào trong
giữa đất liền của làng Tân Giai, gần mé rạch Cái
Cá, cầu Kinh Cụt.
Hiện nay, nhằm đáp ứng niềm sùng kính của nhân dân
địa phương, các vị trong ban hội hương đã đứng ra
trông nom và tái thiết lại ngôi đình. Trước hết
là để bảo tồn cổ tích, sau nữa là nơi tôn nghiêm
thờ phụng trong làng, gợi tinh thần yêu nước thương
nòi, nhen nhúm lửa thiêng nơi lòng đồng bào không
quên đất nước, tiền nhân.
2.2. Miếu:
Miếu Văn Thánh là dấu tích cổ xưa nhất ở Vĩnh Long
(theo Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long). Với lòng nhiệt
thành của mình, Đề học Nguyễn Thông đã đứng ra vận
động và xây cất Văn Thánh Miếu để thờ Đức Khổng
Tử và các bậc hiền triết là môn đệ của đức Khổng.
Công trình được khởi công năm Giáp Tý 1864 và hoàn
thành vào cuối năm Bính Dần 1866 với kiểu kiến trúc
truyền thống Việt Nam:
1)
Chánh điện: Thờ Đức Khổng Tử. Hai bên Tả ban, Hữu
ban thờ Tứ phối, Thập triết.
2)
Hai miếu nhỏ hai bên: Tả vu, Hữu vu thờ Thất thập
nhị hiền.
3)
Văn Xương Các: Phía trước và bên tả Văn Thánh Miếu
có xây dựng toà Văn Xương Các. Tầng trên lầu thờ
3 vị Văn Xương Đế Quân. Tầng dưới lầu, căn giữa
để một cái khánh sơn son thiếp vàng, để bài vị thờ
cụ Võ Trường Toản và hình cụ Phan Thanh Giản, phía
ngoài cái khánh có khắc một đôi liễn với nội dung:
"Hoàng phong xử sĩ thanh cao lão. Tự hiệu thư
sinh tiết liệt thần" (Câu trên nói về cụ Võ
Trường Toản, là một ông già thanh cao, ở ẩn dạy
học, không chịu ra làm quan, được vua Gia Long cho
là "Sùng đức xử sĩ". Câu dưới nói về cụ
Phan Thanh Giản, vốn là bề tôi tiết liệt, khi sắp
chết, dặn ghi trong tấm triện là "lão thư sinh"
mà thôi)
2.3. Danh nhân:
Theo
Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Long xưa vốn
là một dinh, một trấn lớn, bao trùm một góc miền
Tây. Biết bao nhân vật ưu tú đã làm rạng danh đất
Vĩnh. Ngày nay, nhiều di tích vẫn còn lưu lại trên
đất Sa Đéc (Đồng Tháp), Bến Tre, là những vùng thuộc
Long Hồ dinh ngày trước. Chẳng hạn như: Nguyễn Cư
Trinh và Trương Phúc Du – hai nhân tài đã dày công
khai phá Long Hồ dinh; quốc công Tống Phước Hiệp
– quan lưu phủ Long Hồ dinh đầy đủ ân oai được dân
chúng xưng phục; Lâm thao quận công Châu Văn Tiếp;
Kinh môn quận công Nguyễn Văn Nhơn; Nguyễn Khoa
Thuyên – cai bộ Long Hồ dinh, từng sát cánh với
Tống Phước Hiệp xông pha chiến trận, Nam Kỳ kinh
lược đại thần Phan Thanh Giản; Trương Vĩnh Ký –
nhà bác học, nhân tài của nước Việt Nam; Đốc binh
Lê Cẩn và Nguyễn Giao – hai vị hào kiệt chống thực
dân Pháp; Lê Long An - vị tiền hiền có công khai
mở ba thôn: Mỹ Thạnh, Mỹ Hưng và Mỹ Hội; Tri huyện
Tống Hữu Trung - một viên quan gương mẫu được nhiều
người cảm đức; Bà Trần Thị Thọ - nhà từ thiện nổi
tiếng khắp ba kỳ, được vua Khải Định tặng Kim Bảng
"Háo Nghĩa Khả Gia",.v.v…
2.4. Văn hoá - Nghệ thuật:
2.4.1. Văn học:
Nếu xưa kia Hà tiên từng nổi tiếng là nơi văn học
do Mạc Thiên Tích chấn hưng nền văn hoá thì vĩnh
Long cũng chẳng kém chi phong khí nho văn. Mặt khác,
khi họ Mạc bị suy sụp, nhóm Chiêu Anh Các phân tán,
nền văn học Hà Tiên cũng dần sút kém, trong khi
đó ở Vĩnh Long lại rất hưng khởi dẫn đầu 3 tỉnh
miền Tây lúc bấy giờ.
Từ lúc Vĩnh Long bắt đầu thiết lập "Nền văn"
và miếu Văn Thánh, hằng năm sĩ phu miền Tây tề tựu
về đây để nhóm họp đàm luận vă chương, giảng binh
kinh sách tạo nên học phong sĩ khí đáng ca ngợi.
Trong lĩnh vực văn học không ai lại chẳng nghe tên,
biết tiếng những tao nhân mặc khách đất Vĩnh như:
Đỗ Minh Giám (Nhiêu Tâm), Đỗ Văn Sỏi (Bồng Dinh),
Nguyễn Hữu Đức, nữ sĩ Trần Ngọc Lầu, Tống Hữu Định…
Ông Phan Quốc Sang – tác giả 10 bài "Khuê phụ
thán" nổi tiếng, ông Nguyễn Văn Dần – tác giả
hai quyển sưu khảo "Vĩnh Long nhân vật chí"
và "Sa Đéc nhân vật chí" . Ngoài ra, còn
có các ông Nguyễn Phú Toàn (Nhập Vương Thị), Lê
Ngũ Bá, Bùi Văn Khánh, Bùi Văn Triều, Lương Tử Mạnh,
Nguyễn Phan Tần đều là những trang văn học tiếng
tăm.
2.4.2. Sân khấu cải lương:
Ở bộ môn sân khấu, Vĩnh Long cũng có nhhiều nhân
tài đặc sắc. Trong đó, ông Tống Hữu Định được biết
đến như người có công đầu trong việc sáng tác tuồng
và cũng là ngưồi đầu tiên đưa vở tuồng cải lương
lên sân khấu trình diễn. Ông Tống Hữu Định xuất
thân là một Phó tổng, tổng Bình Long, thường gọi
là ông Phó Mười Hai, đặc biệt có năng khiếu văn
chương, luôn yêu mến và quý trọng nghệ thuật. Ông
họp bạn đồng điệu lại để cùng trao đổi ý kiến rồi
sáng chế ra điệu ca ra bộ, đặt để bài ca cho hoà
rập với dàn đờn thêm vui tai, làm thích ý những
người mộ điệu ca cầm.
Bên cạnh đó, còn có ông Trần Quan Quờn, thường gọi
là ông Kinh Lịch Quờn, nổi tiếng là bậc ưu tú về
cổ nhạc, sáng tác rất nhiều bài vọng cổ nổi tiếng.
Có thể nói, Vĩnh Long là "cái nôi" của
nhệ thuật ca kịch, cùng với các nghệ sĩ ở Sa Đéc,
Mỹ Tho đã đẩy mạnh sân khấu cải lương phát triển.
Ngoài ra, có thể kể đến nữ sĩ Bảy Ngọc – ca sĩ hữu
danh nổi tiếng nhất ở Vĩnh Long xưa nay. Soạn giả
nổi tiếng có ông Năm Mãn với vở "Phật Tổ Thích
Ca đắc đạo". Lớp hậu bối có kịch sĩ Duy Lân,
nhạc sĩ Bửu, danh ca Út Trà Ôn lừng danh với bài
vọng cổ "Tình anh bán chiếu" của soạn
giả Viễn Châu. Nữ ca sĩ Thanh Tùng với làn hơi thiên
phú và độc đáo làm say lòng khách mộ điệu cầm ca.
Cô đã từng vô dĩa phô trương tài nghệ góp công tô
điểm nền ca kịch nước nhà nói chung, Vĩnh Long nói
riêng.
Nhắc đến Vĩnh Long, chúng ta không thể không hoài
niệm về các nhân vật: Nguyễn Văn Nhơn, Tống Phước
Hiệp, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông,v,v…
lại thêm đình Khao, Nền Văn, Văn Thánh Miếu… Tất
cả những nét cổ kính và khả ái ấy ngày nay hãy còn
di tích. Điều đó đã chứng tỏ đất Long Hồ là nơi
văn hiến, đầy vượng khí. Có thể nói, nhân dân Vĩnh
Long nói riêng, người Nam bộ nói chung đã trải qua
mấy trăm năm văn hiến rạng rỡ và xứng đáng để thế
hệ sau tưởng niệm với tấc lòng cảm khái, miên man
niềm hoài cổ, xứng đáng là địa chí văn hoá của vùng
đất phương Nam.
NGUYỄN BÌNH ĐÔNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Vĩnh Long xưa, Huỳnh Minh, Nhà xuất bản Thanh
Niên, 2002.
-
Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long.
-
Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Ngữ
Văn Đại học Cần Thơ, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997.

|