| ĐỊA
LÝ

Đền
Đô
Vị
trí: Đền Đô nằm ở làng Đình Bảng, xã Đình Bảng,
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đặc điểm: Di tích lịch sử văn hoá
đền Đô đã được Nhà nước công nhận xếp hạng di tích
lịch sử văn hoá cấp quốc gia theo Quyết định số
154 ngày 25/01/1991 của Bộ Văn hoá Thông tin - Thể
thao và Du lịch.
Là nơi thờ 8 vị vua nhà Lý. Đó
là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009 - 1028); Lý
Thái Tông (1028 - 1054); Lý Thánh Tông (1054 - 1072);
Lý Nhân Tông (1072 - 1128); Lý Thần Tông (1128 -
1138); Lý Anh Tông (1138 - 1175); Lý Cao Tông (1175
- 1210) và Lý Huệ Tông (1210 - 1224).
Đền Đô - còn gọi là Cổ Pháp Điện
hay đền Lý Bát Đế, đền được xây dựng vào thế kỷ
11 (1030), trên khu đất phía đông nam Hương Cổ Pháp,
Châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng). Khu đất này theo
Thiền sư Lý Vạn Hạnh cho rằng nơi hội tụ của thiên
khí, nơi có thế 8 đầu rồng chầu về. Tương truyền,
xưa kia phía trước cửa đền là một khu rừng Báng,
có dòng Tiêu Tương uốn khúc chảy qua.
Đền được dựng trên nền đất. Khi
vua Lý Công Uẩn đăng quang và trở lại thăm quê hương
vào tháng 2 năm Canh Tuất (1010), tại đây, nhà vua
đã dừng thuyền rồng để đi thăm các bậc kỳ lão, yết
lăng Thái Hậu và đo vài mươi dặm đất làm “Sơn Lăng
cấm địa”. Dân làng Đình Bảng đã xây dựng một ngôi
nhà lớn làm nơi nghênh tiếp nhà vua.Khi vua Lý Công
Uẩn băng hà (1028), Lý Thái Tông lên ngôi kế vị
vua cha, Ông đã cho sửa sang lại ngôi nhà xưa và
chọn làm nơi thờ tự vua cha và cũng từ đó đền trở
thành nơi thờ tự các vị vua nhà Lý sau khi băng
hà.
Trải qua các triều đại Lý, Trần,
Lê, đền Đô đều được quan tâm tu sửa và mở rộng,
đặc biệt, đền được mở rộng nhất vào thế kỷ 17 (1602)
với quy mô của 21 hạng mục công trình được sắp xếp
theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, xung quanh có tường
thành vây bọc. Kiến trúc của đền có sự kế thừa phong
cách cung đình và phong cách dân gian, tổng thể
kiến trúc được kết hợp hài hoà, chạm khắc tinh xảo,
thể hiện một công trình kiến trúc bề thế vững chắc
nhưng không cứng nhắc trong khung cảnh thiên nhiên.
Năm 1952, đền Đô bị giặc Pháp chiếm và phá huỷ hoàn
toàn. Từ năm 1989 trở lại đây, được sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng của nhân dân Đình
Bảng và tấm lòng công đức của nhân dân thập phương,
Đền Đô đã từng bước được khôi phục, tìm lại dáng
vẻ xưa của đợt trùng tu, mở rộng đền năm 1602 với
các hạng mục công trình như: Nhà Hậu cung (80m²),
nhà chuyền Bồng (80m²), nhà Kiệu (130m²), nhà để
Ngựa (130m²), Thuỷ đình, Phương đình...
Căn cứ vào các dấu tích, các nguồn
tài liệu và các hạng mục công trình đã được dựng
lại cho phép chúng ta hình dung tổng thể kiến trúc
di tích đền Đô như sau:
Đền Đô có diện tích 31.250m², gồm
21 hạng mục công trình lớn nhỏ. Trung tâm là điện
thờ, nơi đặt bài vị và tượng của Tám vị vua nhà
Lý, xung quanh có nhà chuyền Bồng, nhà Tiền tế,
nhà Phương Đình, nhà để kiệu, nhà để ngựa, nhà Thuỷ
Đình... Kiến trúc Đền đô được chia làm hai khu vực
nội thành và ngoại thành.Khu vực nội thành có diện
tích 4.320m² , bố trí theo kiểu “Nội công ngoại
quốc” bao quanh là tường gạch cao 3m, rộng 1m (hai
bên xây gạch, ở giữa đổ đất) có hai cửa ra vào.
Nội thành được chia thành Nội thất và Ngoại thất.
Nội thất bao gồm các công trình:
Nhà Hậu cung- Nơi đặt ngai và bài vị thờ Tám vị
vua Nhà Lý (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông,
Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ
Tông). Nhà Chuyền Bồng có kiến trúc chồng diêm tám
mái, các đầu đao uốn cong mềm mại. Ngoài ra còn
có nhà để bia, nhà để ngựa, nhà để kiệu,... tất
cả đều được xây dựng công phu, đắp, chạm khắc tinh
xảo.
Ngoại thất gồm nhà vuông, kiến
trúc kiểu chồng diêm tám mái, 8 đầu đao cong vút
mềm mại. Khu vực này có nhà chủ tế, nhà kho, nhà
khách, đền vua Bà (đền thờ Lý Chiêu Hoàng)
Đền Đô với kiến trúc độc đáo mang
tính giá trị nghệ thuật, cảnh trí hữu tình và mang
trong mình một giá trị lịch sử văn hoá đậm nét của
Vương Triều Lý nói riêng và lịch sử dân tộc nói
chung. Đền Đô xứng đáng với lời ngợi ca
“ Đền Đô kiến trúc tuyệt vời
Thăng Long đẹp nhất, đẹp người ngàn
năm”
--------------------------------------------------------------------------------

|