| ĐỊA
LÝ

Việt
Nam - Địa Lý
Hình
thể
Biển
và bờ biển
Sông
ngòi
Núi
và cao nguyên
Bình
nguyên
Khí
hậu
Thảo
mộc
Dân
cư
Bản
đồ
DI
TÍCH LỊCH SỬ
DI
TÍCH TÔN GIÁO
CÂY
TRÁI BỐN MUÀ
Du Lịch
Lễ
Hội.
Ẩm
thực

Về
những chi tiết lịch sử của sông Bạch Đằng
(
Những chi tiết này là từ nhiều nguồn, không cùng
bố cục)
1/ Sông Bạch Đằng, còn gọi là Bạch Đằng Giang, hiệu
là sông Vân Cừ, là một con sông chảy giữa hai huyện
Yên Hưng (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải
Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km.
Nó là một nhánh của sông Thái Bình. Sông Bạch Đằng
nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam:
2/ Sông Đá Bạch - Bạch Đằng dài hơn 32 km cũng
là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra biển ở cửa Nam
Triệu và là ranh giới phía Bắc và Đông Bắc của Hải
Phòng với Quảng Ninh. Cửa sông ở đây rộng và sâu,
hai bên bờ là những vách núi đá vôi tráng lệ, nơi
đây đã 3 lần ghi lại những chiến công hiển hách
của dân tộc Việt Nam trong lịch sử chống xâm lược
phương Bắc ở thế kỷ thứ X và XIII.
3/ Năm 983, công trình thủy đầu tiên được thi công
là con kênh đào từ Yên Định (Thanh Hóa) vào đến
sông Bà Hòa (còn vết tích ở xã Đồng Hòa, huyện Tĩnh
Gia, tỉnh Thanh Hóa), thuyền bè đi lại thụân lợi.
Thời tiền Lê (cuối thế kỷ 10, đầu thế kỷ 11), là
triều vua giữa hai thiên niên kỷ 1 và 2, Lê Hoàng
chống quân xâm lược nhà Tống chiến thắng ở Chi Lăng
thì sông Bạch Đằng một lần nữa thành mồ chôn quân
xâm lược. Thời kỳ này, các hệ thống giao thông đường
thủy được quan tâm sửa sang, khai thông, đào vét.
4/ Bộ sử Cương mục mô tả: "Sông rộng hơn hai
dặm, ở đó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại,
sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um
tùm che lấp bờ bến".
5/ Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc và là đường
giao thông quan trọng từ Biển Đông vào nội địa Việt
Nam. Cửa biển Bạch Đằng to rộng, rút nước từ vùng
đồng bằng Bắc Bộ đổ ra Vịnh Hạ Long. Từ cửa biển
ngược lên gần 20 km là đến cửa sông Chanh. Phía
hữu ngạn có dãy núi vôi Tràng Kênh với nhiều hang
động, sông lạch và thung lũng hiểm trở.
Hạ lưu sông Bạch Đằng thấp, độ dốc không cao nên
chịu ảnh hưởng của thủy triều khá mạnh. Lúc triều
dâng, nước trải đôi bờ đến vài cây số. Lòng sông
đã rộng, lại sâu, từ 8 m - 18 m. Triều lên xuống
vào độ nước cường, nước rút đến hơn 30 cm trong
một giờ, ào ào xuôi ra biển, mực nước chênh lệch
khi cao nhất và thấp nhất khoảng 2,5 - 3,2 m.
Lịch sử thành tạo vùng Bạch Đằng trên đây và một
số tài liệu địa lý học lịch sử cho phép khẳng định,
cửa sông Bạch Đằng thế kỷ 10 không phải là cửa Nam
Triệu với địa hình như hiện nay.
Lúc bấy giờ cửa sông Nam Triệu là cửa biển chung
của sông Cấm (hay sông Nam Triệu) và sông Bạch Đằng.
Cửa biển Bạch Đằng ngày xưa ở vào khoảng đó, nằm
sâu vào phía trong so với cửa Nam Triệu hiện nay
khoảng hơn chục cây số. Giữa vùng thiên nhiên sông
biển đó, trên cơ sở sức mạnh đoàn kết và ý chí độc
lập của cả dân tộc, Ngô Quyền khẩn trương giàn bày
một thế trận hết sức mưu trí, lợi hại để chủ động
phá giặc.
6/ Lịch Sử Việt Nam tập 1 ghi về sông Bạch Đằng
như sau: «Bạch Đằng là một sông lớn do sông Đá Bạc,
sông Giá và nhiều nhánh sông khác đổ vào. Dòng sông
rộng mênh mông, bên phải có dãy núi đá vôi Tràng
Kênh ăn sát bờ, bên trái rừng cây um tùm che lấp
bờ bên kia.
7/ Theo kế hoạch Trần Quốc Tuấn, quân dân ta,
đẵn gỗ lim, gỗ tàu trên rừng về, đẽo nhọn cắm xuống
tạo thành một bãi chướng ngại vật lớn. Chiến thuật
của Ngô Quyền từ thủa phá quân Nam Hán lại một lần
nữa được vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến
chống Nguyên. Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm chạy
ngang qua sông Bạch Đằng phía dưới của sông Chanh,
có thể được lợi dụng như một chướng ngại vật thiên
nhiên để phối hợp với bãi cọc, ngăn chận chiến thuyền
địch khi nước triều xuống. Thủy quân ta mai phục
trong các nhánh sông, vũng sông, trừ sông Đá Bạc
được mở rộng cửa cho quân thù tiến vào đất chết.
Bộ binh tận dụng địa hình dấu quân trong núi đá
Tràng Kênh và rừng rậm bên tả ngạn. Đại quân do
vua Trần thống lĩnh cũng sẳn sàng tiếp ứng cho trận
huyết chiến chiến lược này».
Ngày 8 tháng 4 năm 1288, một đội thuyền của địch
đi trước dò đường tiến theo sông Giá. Đến Trúc Động
(Thụy Nguyên, Hải Phòng), đội thuyền này bị quân
ta chận đánh phải rút lui. Nhiệm vụ của trận này
là bịt đường sông Giá để bảo đảm bí mật cho trận
địa mai phục và buộc toàn bộ đoàn thuyền của quân
Mông-cổ phải hành quân theo sông Đá Bạc vào sông
Bạch Đằng, nghĩa là phải dẫn quân vào trận địa do
ta chọn sẵn. Gần đây phát giác được bãi cọc ở gần
cửa sông Chanh và một số cọc bên tả ngạn sông Bạch
Đằng phía dưới sông Chanh. Một số nhà nghiên cứu
cho đó là di tích của bãi cọc trong trận Bạch Đằng
năm 1288. Niên đại của bãi cọc đó đang được nghiên
cứu để xác minh thêm.
8/Theo Toàn Thư «Sông Bạch Đằng từ sông Lục Đầu,
tỉnh Bắc Ninh chia dòng chảy vào Hải Dương. Một
nghành theo sông Mỹ, một nghành theo sông Cốc…».
Địa Lý Chí của Nguyễn Trãi chép: «Sông Bạch Đằng
biệt hiệu là sông Vân Cừ, rộng hơn hai dậm. Muôn
sông đứng sắp, các nước giao dòng, sóng nổi lên
trời! Cây tre rợp bãi! Thật là nơi hiểm yếu của
đường biển» (bản dịch của Nhượng Tống).
9/Theo nghiên cứu địa lý thì sông Chanh, sông
Kênh, sông Rút xưa kia là lạch thoát của nước sông
Bạch Đằng. Hiện nay vùng này phù sa đang bồi thêm.
Vì thế nên sông Kênh chảy qua vùng Đồng Cốc (thuộc
Yên Hưng) đang bị lấp cạn, cửa sông hiện nay chỉ
còn vết trũng sâu mà dân địa phương gọi là lũng
Mắt Rồng sát bờ đê sông Bạch Đằng (Đại Cương Lịch
Sử Việt Nam tập I trang 239).
10/Cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán của Ngô
Quyền,
Cuộc kháng chiến chống quân Tống của Lê Hoàn
3/Cuộc thủy chiến của Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên
(trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ
ba).
11 /Những chiến thắng nổi tiếng trong lịch sử dân
tộc ta (phần 3) Ba lần chiến thắng quân xâm lược
Nguyên Mông (1258 - 1285 - 1288)
(Tiếp theo kỳ trước)
Ngay sau thất bại năm 1258, Hốt Tất Liệt đǎ ra
lệnh chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới.
Nhưng phải đến cuối nǎm 1287, các đạo quân viễn
chinh mới có thể lên đường. Một đạo do Thoát Hoan
và áo Lỗ Xích (Agurucxi) chỉ huy tiến vào Lạng Sơn.
Một đạo khác, do ái Lỗ (Airuq) cầm đầu, từ Vân Nam
đánh vào Tuyên Quang. Lần này, không còn cánh quân
phía Nam, nhưng Vua Nguyên lại phái thêm một cánh
thuỷ quân, sai ô Mã Nhi (Omar) chỉ huy, hộ tống
đoàn thuyền tải lương của Trương Vǎn Hổ vào Đại
Việt theo đường biển.
Tháng 12/1287, khi đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi
tiến vào vùng biển An Bang (Quảng Ninh), Nhân Huệ
Vương Trần Khánh Dư đem thuỷ quân chặn đánh, nhưng
không cản được giặc. ô Mã Nhi cho binh thuyền tiến
thẳng vào cửa sông Bạch Đằng, không chú ý đến đoàn
thuyền lương nặng nề chậm chạp ở sau. Mãi đến tháng
1/1288, đoàn thuyền lương của giặc mới tiến đến
vùng đảo Vân Đồn. Trần Khánh Dư lại đem quân tập
kích. Trương Vǎn Hổ chống đỡ không nổi, đổ cả lương
thực xuống biển, trèo lên một chiếc thuyền nhỏ,
trốn về Quỳnh Châu (Hải Nam). Bấy giờ, Thoát Hoan
cũng đã tiến vào Lạng Sơn, hội quân với cánh quân
thủy của ô Mã Nhi ở Vạn Kiếp. Thoát Hoan dừng lại
ở đây gần một tháng, xây dựng Vạn Kiếp thành một
cǎn cứ vững chắc, mãi đến cuối tháng 1/1288 mới
chia quân tiến về Thǎng Long.
Lần thứ ba, quân dân nhà Trần lại bỏ ngỏ Thǎng
Long. Quân Nguyên vào Thǎng Long ngày 2/2/1288.
Ngay sau đó, Thoát Hoan vội sai ô Mã Nhi đem chiến
thuyền ra biển đón thuyền lương của Trương Vǎn Hổ.
Nhưng thuyền còn đâu nữa. Không có lương thực, đạo
quân Thoát Hoan đóng ở Thǎng Long lâm vào tình thế
khốn quẫn.Thoát Hoan phải ra lệnh rút quân về Vạn
Kiếp. Trên đường rút về Vạn Kiếp, giặc bị quân ta
chặn đánh ở cửa Ba Sông, vùng Phả Lại. Kéo về đóng
ở Vạn Kiếp, đạo quân xâm lược vẫn bị quân ta tập
kích ngày đêm. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, bọn tướng
Nguyên đã nói với Thoát Hoan: ''ở Giao Chỉ, không
có thành trì để giữ, không có lương thực đủ ǎn,
mà thuyền lương của bọn Trương Vǎn Hổ lại không
đến. Vả lại khí trời đã nóng nực, lương hết, quân
mệt, không lấy gì để chống đỡ lâu được, làm hổ thẹn
cho triều đình, nên bảo toàn quân mà về thì hơn"
Trước tình hình đó, Thoát Hoan quyết định rút quân
về nước theo hai đường: cánh quân bộ rút qua vùng
Lạng Sơn, còn cánh quân thuỷ sẽ rút ra biển theo
sông Bạch Đằng.
Kế hoạch rút lui của giặc không nằm ngoài dự liệu
của Trần Hưng Đạo. ông đã bố trí chặn giặc ở vùng
biên giới và chuẩn bị cho một trận quyết chiến lớn
trên sông Bạch Đằng. Từ tháng 3, quân sĩ và nhân
dân đã đẵn gỗ lim, gỗ táu ở rừng về đẽo nhọn, đóng
xuống lòng sông, làm thành những bãi cọc lớn. Thuỷ
quân và bộ binh ta đã phục sẵn trong các nhánh sông
và các khu rừng rậm ven sông Bạch Đằng, chờ ngày
tiêu diệt địch.
Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền chiến của ô Mã
Nhi tiến vào sông Bạch Đằng. Khi đoàn thuyền giặc
lọt vào trận địa mai phục của ta thì từ các nhánh
sông, các thuyền nhẹ của ta lao ra, đánh tạt vào
sườn giặc, dồn chúng vào các bãi cọc. Giặc định
áp thuyền sát bờ, đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm
hộ cho đoàn thuyền rút, nhưng bị bộ binh ta đánh
hắt xuống. Một trận kịch chiến ác liệt đã xảy ra.
Nước triều xuống gấp, thuyền giặc to nặng, lao nhanh
theo dòng nước, vướng cọc, tan vỡ rất nhiều. Cho
đến giờ dậu (5-7 giờ tối), toàn bộ đạo quân thuỷ
của giặc bị tiêu diệt. ô Mã Nhi bị bắt sống. Lần
thứ ba trong lịch sử giữ nước của dân tộc, dòng
Bạch Đằng lại ghi thêm một chiến công oanh liệt.
Trong khi đó, đạo quân của Thoát Hoan cũng khốn
đốn rút chạy ra biên giới. Sau khi bị phục kích
ở cửa ải Nội Bàng, chúng bỏ con đường ra ải Khâu
Cấp, vòng theo đường Đan Ba (Đình Lập), chạy tạt
ra biên giới. Nhưng ở đây, chúng cũng bị quân ta
chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích (Abaci) bị trúng
tên. Mãi đến ngày 19/4/1288, đám tàn quân của Thoát
Hoan mới về đến Tư Minh.
Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt đã chôn vùi vĩnh
viễn mộng xâm lược của Hốt Tất Liệt.
12/ Vài nét về kết quả và nghệ thuật quân sự trận
Bạch Đằng (9/4/1288)
Trong trận này, 8 vạn thuỷ quân và 400 thuyền chiến
của địch đã bị ta tiêu diệt. Nghệ thuật quân sự
của quân dân thời Trần là phối hợp chặt chẽ giữa
quân đội nhà vua (chủ lực) và dân binh địa phương.
Trong tác chiến đã sử dụng hình thức phục kích để
tiêu diệt địch. Về chiến lược, chiến thuật: chọn
đạo quân thuỷ của địch làm đối tượng tiến công,
tiêu diệt trước và chủ yếu; đó là một quyết tâm
rất chính xác vì so với đạo bộ binh chủ lực, thì
số lượng đạo quân thủy ít hơn, không giỏi chiến
đấu bằng và phải tốn nhiều công sức xây dựng.
Quãng sông Bạch Đằng, nơi được chọn làm địa điểm
tác chiến là một khu vực hiểm yếu có đủ những điều
kiện cần thiết, đáp ứng được yêu cầu bố trí một
trận mai phục trên sông với quy mô lớn.
Tuy vậy, muốn khai thác triệt để những điều kiện
thuận lợi trên, còn cần phải có một nghệ thuật tác
chiến rất cao, như tìm cách cô lập hoàn toàn đạo
quân thuỷ của ô Mã Nhi với đạo bộ binh chủ lực của
Thoát Hoan, tách rời đạo kỵ binh đi yểm hộ và dần
dần điều động đạo quân thuỷ này từng bước lọt vào
đúng trận địa mai phục, theo đúng thời gian đã được
xác định. Bởi vậy, đạo thuỷ quân địch dù đông tới
8 vạn tên, được đề phòng rất cẩn mật, nhưng vẫn
gặp nhiều bất ngờ, lúng túng buộc phải bị động đối
phó từ đầu đến cuối, và kết qủa là bị tiêu diệt
hoàn toàn. Chiến thắng Bạch Đằng còn là kết quả
của sự phối hợp tác chiến có hiệu quả cao giữa thuỷ
quân và bộ binh, giữa quân chủ lực với các đội dân
binh, giữa các lực lượng tham chiến về thời gian
và không gian.
Thế là trong vòng ba mươi nǎm, quân dân ta đã ba
lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, đội quân xâm lược
mạnh nhất và hung hãn nhất của thời đó, bảo vệ quyền
độc lập tự chủ của đất nước, góp phần bảo vệ nền
độc lập của các nước Đông Nam á.
Sức mạnh để làm nên chiến thắng là khối đoàn kết
toàn dân như Trần Hưng Đạo đã nói, đó là ''vua tôi
đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức".
Chính nhờ khối đoàn kết đó mà một cuộc chiến tranh
nhân dân, ''cả nước đánh giặc ", "trǎm
họ là binh", mới có thể thực hiện. Và sau cùng,
nguyên nhân sâu xa hơn của chiến thắng là sự ổn
định kinh tế - xã hội thời Trần, được tạo ra từ
đường lối "lấy dân làm gốc".
Nói đến những chiến công chống xâm lược thời Trần,
chúng ta không thể không nhớ tới câu nói tuyệt vời
của Trần Hưng đạo: ''Khoan thư sức dân làm kế sâu
rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước''. ABS SUUTAM

|