Hà Nội
Văn Vật
Những Biển Hàng
Trước hết có hiệu trâu vàng, hẳn thế. Ấy là câu
chuyện huyền thoạicủa ông Khổng Minh Không đã được
hình tượng ra bằng hai cái biển. Rồi đến hiệu bò
vàng, cá chép vàng (cá chép hóa long thì đúng hơn
và con cá này đã trái tật chạy lên Hàng Ngang rồi),
con lạc đà không biết đến đây để làm gì?, con gà
sống kim kê hẳn thôi, con hươu sao, con kỳ lân,
con phượng (lai hoàng), con rùa rùa (kim quy), con
rùa rùa này về núi rồi, con vịt che ô, con voi (con
này cũng về rừng), và con tê giác. Các nhà hàng
còn lâu mới dùng hết được tên các loài vật. Và chúng
ta nên nhận rằng trong các con vật đã dùng, không
có con nào dữ cả. Con tê giác thì kể là vật dữ,
nhưng con tê giác ở Hàng Đào thì lành lắm: nó không
cắn ai bao giờ. Không có hổ vàng hay sư tử vàng,
chẳng hạn. Vì những con vật trên kia là những con
vật thần linh chăng, hay là những con vật chỉ lành
có thể gợi lòng tin của khách mua? Con trâu, con
hươu, con bò ... Những con vật này có làm hại được
ai bao giờ đâu? Vào nhà con trâu, con hươu mua vải,
lụa, chắc không bị hớ, chắc sẽ được nhà hàng tiếp
đãi niềm nở và tử tế (như các bà bán hàng Việt Nam
biết tiếp khi khách chỉ mặc cả mà không mua, hay
muốn mua mà trả rẻ), và nếu họ có bị dại như một
con bò thì cũng được an ủi rằng ít ra cũng là một
con bò vàng.
Tôi chỉ không hiểu tại sao bỗng dưng lại có con
lạc đà. Con vật này hình như lạc loài vào đám ấy,
giữa những con vật mà nó không quen bao giờ. Người
phương Tây khinh ai thường gọi: cái anh lạc đà ấy
... Theo nghĩa đó thì con lạc đà ám chỉ nhà hàng
hay khách mua hàng?
Chúng ta còn phải hỏi tại sao con vật khác không
được dùng, và tại sao địa phận chúng chỉ có phố
Hàng Đào thôi. Lên đến Hàng Ngang, xuống đến Bờ
Hồ, là đã không có loài vật rồi (con cá hóa long
lên Hàng Ngang là trái với lẽ trời).
Có một người kể chuyện với tôi rằng đó là tại nhà
hàng ganh tị nhau. Nguyên hồi bấy giờ phố hàng Đào
còn hẹp, nhà hai bên phố không cách nhau xa mấy.
Có hai ông chủ hiệu to, ngẫu nhiên một hôm cùng
có một ý, là lấy con hươu làm biểu hiệu. Hai con
hươu cùng treo một lúc. Có nhiều sự nhầm lẫn xảy
ra về sau, nhưng hai ông cùng ganh, không ông nào
chịu đổi con khác. Như thế được một năm. Rồi bỗng
nhiên, một ông lấy ngay con báo làm biểu hiện, và
phao ngôn lên rằng chỉ ít lâu bữa làbáo sẽ cắn hươu
chết. Ông chủ hiệu kia tức khí lấy biển hiệu con
hổ và phao ngược lại.
Ông chủ hiệu này chẳng chịu kém đổi ngay con báo
ra con sư tử. Ông kia cũng lập tức đổi ra con voi.
Đến con voi thì ông này tức quá: vì không có con
nào khỏe hơn con nữa. Voi đứng đầu trong giống vật
rồi. Chỉ có cách làm con voi hơn. Thế rồi ông làm
con voi to hơn. Ông kia cũng chẳng chịu kém, lại
làm con voi to hơn nữa. Hai con voi cứ thi nhau
mà to mãi ra. Phố thì hẹp, cho nên một ngày kia
hai con voi đụng vòi nhau, lấp cả lối đi.
Việc đến cửa quan. Ông quan phân xử, bắt voi hai
bên đều bé lại, và ra lệnh từ đấy chỉ được dùng
những con vật hiền (như voi chẳng hạn) làm biển
hàng mà thôi. Những con vật dữ như báo, hổ, gấu,
mèo ... đều cấm tiệt.
Ấy là người ta kể cho tôi nghe câu chuyện như thế.
Chuyện chả biết có thật hay bịa, nhưng giảng tại
sao người ta không dùng các thú vật dữ thì có (tuy
vậy, con tê giác?), còn tại sao các vật chỉ có phạm
vi phố Hàng Đào, không lên Hàng Ngang, không xuống
Bờ Hồ, thì tuyệt nhiên không.
Người Ta Viết Chữ Tây
Cái biển hàng nào viết bằng chữ Pháp đầu tiên treo
ở phố Hà Nội? Thật khó mà biết được. Nó là một điều
thuộc về lịch sử cần phải tìm ra, để đánh dấu cái
ngày mà một con người Việt Nam bắt đầu dùng thứ
chữ phong phú nhất phương Tây.
Từ bấy đến nay, ít ra cũng ngoài sáu chục năm.
Sáu chục năm người mình học chữ Pháp, tưởng đã đến
lúc thâu thái được hoàn toàn. Bây giờ các biển hàng
viết chữ Pháp chiếm đến chín phần mười trong các
biển hàng. Nhiều hàng, tuy chỉ giao thiệp với khách
hàng Việt Nam thôi, cũng để toàn chữ Pháp, cũng
như ngày xưa họ toàn dùng chữ nho.
Ngày tôi còn nhỏ, ông thầy dạy vẽ của tôi bỏ nghề
ra mở một xưởng vẽ ở phố Bờ Hồ. Ngoài cửa hàng treo
một cái biển vẽ một cái gái rất xinh chỉ tay vào
mấy dòng chữ. Vì cô gái, tôi đi học về lần nào cũng
đứng lại nhìn, và vì vậy mới thuộc mấy dòng chữ
đó đế bây giờ. Mấy dòng chữ như thế này: "Ici,
il existe un dessinateur portraitiste, aquarelliste
et architecture".
Đã hơn mười năm rồi, mà mỗi lần nhớ đến câu chữ
Pháp ấy tôi cũng không khỏi buồn cười. Nhân thế
hôm nay tôi nẩy ra cái ý muốn dạo qua tất cả Ba
mươi sáu phố của chốn "nghìn năm văn vật"
này để đọc các biển hàng chữ Pháp, và xem người
mình dùng chữ Pháp đã tiến bộ đến bậc nào.
Thì quả thực đã tiến bộ rất nhiều:
Này đây những biển: Salon de coiffeur, X ... bon
coiffure, T.D. Coiffeur de Beauté, hay; M. librairie,
mercerie, relieur, M.S. Prothèse dentaire, Beauté
hygiénique de la bouche, M.S dorure et dargenture,
T.T fabricateur de pousse pousse, T.O vente et réperateur
de machine de tout sorte, D.T. Ferronnerie, quinconnerie,
H. Vanerie, O. Serée, Filets de sports. Chữ Élégant
hình như được nhiều người yêu chuộng nhất: vì tỏ
ra élégant có phải không?
P.T. Coiffeur élégant (Bạch Mai), Boulangerie élégant
(Hàng Bông), A la coupe de Paris - D.M. tailleur
élégant (Hàng Quạt), Aux paradis des élégant ...
(Lê Quý Đôn), hiệu này đâu trước là: Au gout des
élégant ... P.T. Tailleur des élégants (Hàng Quạt)
... Toàn những Élégancel à Élégance, thật xứng đáng
với (Hà thành hoa lệ).
Và tôi nhận thấy, nội trong các hiệu dùng nhiều
chữ tây nhất, và dùng một cách đáng yêu nhất là
hiệu thợ may. Có lẽ vì các ông chủ hiệu đó may quần
áo cho thiên hạ nên họ tự nghĩ như bắt buộc phải
dùng chữ Tây mới họp thời.
Một hiệu khoe các hàng: "Dernìeres nouveautés
de Paris: laine Elboeuf, laine Red Star, laine Dormeuse
..." (qui fait bien dormir - hẳn thế).
Hiệu kia: "lanine pieds de poule Prince de
gales".
Một hiệu khác tham bác cả Tây lẫn ta, và tạo nên
một cái tiếng thần tình này: Satin súp.
Nhưng đến tên các hiệu thì sự văn hóa và cầu kỳ
thực đã đến cực điểm: "Au parfait tailleur"
(Hàng Bông), "Maitre tailleur", "Paris
tailleur" (Hàng Quạt). Chữ luxe, chắc hẳn trong
trí các ông chủ hiệu thợ may, là biểu hiện của cái
tuyệt đích trong sự sang trọng, nên có đến ba ông
dùng: La Mode, tailleur de luxe, D.P.T tailleur
de luxe (Hàng Gai), Tr. tailleur de luxe (Lê Quý
Đôn), (ông này viết là luxe không có e, ý chừng
tỏ ra luxe một bậc nữa). Nhiều ông khác ưa tỏ ra
biết tiếng ngoại quốc hơn. Modern tailor (chợ Hôm),
Gentlemens modern tailor (hiệu chỉ có một cái máy
khâu cũ và tấm vải xanh che bên ngoài) và CH. R
Gents? tailor (Hàng Trống) ...
Thế cứ tưởng đã đủ rồi. Ca va, taileur! (Hàng Trống),
De la tenue, tailleur et de la frantaisie, tailleur
(Hàng Trống).
Rồi lại còn: D.T. Spécialist des chemises et des
pyjamas; T.L. Coupe incroyable aux pyjamas dirigée
par S ...
Nếu một ngày kia chúngta thấy đề: X. Tailleur,
prix, soigne, trvail impeceable, coupe modérée,
thì cũng chẳn nên ngạc nhiên tý nào.
Nhưng hòn ngọc đẹp nhất có lẽ phải dành riêng cho
hiệu này ở phố Hàng Buồm: L.S. photographe, marchande
de Chinoiserie.
Ấy là mới dạo qua một vài phố đông đúc, chúng ta
đã được đọc nhiều câu chữ Pháp lạ lùng như thế rồi.
Ở các hang cùng ngõ hẻm, đối với người tò mò, hẳn
còn tìm thấy nhiều cách áp dụng chữ Pháp một cách
thần tình hơn nữa.
Nhưng ngẫm kỹ ra thì cũng chẳng nên lấy làm lạ,
vì ở một xứ có tờ báo (nghĩa là do hạng trí thức
viết), dịch Hôtel de ville là khách sạn của thành
phố và Stars à Hollywood là dân tộc Star ở Mỹ châu,
thì các ông chủ hiệu trên kia kể còn là giỏi nhiều.
Mà, có phải không, tờ bao Phụ nữ tân văn ở trong
Nam đã treo biển "Le Journal des Dames",
và tờ Phụ nữ thời đàm ở ngoài Bắc, "La première
orange de la femme Annamite"?
Hàng Mứt, Hàng Đường, Hàng Muối Trắng Tinh
Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm. Những phố cũ, hẹp
và khuất khúc, với những nhà thò ra thụt vào, những
mái tường đi xuống từng bậc như cầu thang, những
cửa sổ gác nhỏ bé và kín đáo, đã nhường chổ cho
những phố gạch thẳng và rộng rãi, với từng dãy nhà
giống nhau đứng xếp hàng. Thẳng và đứng hàng, đó
là biểu hiện của văn minh. Khi ông cầm lái chiếc
ô tô thì ông lấy làm dễ chịu vì đường rộng, vì phố
thẳng lắm. Nhưng đối với người tản bộ đi chơi, lòng
thư thả và mải tìm sự đẹp, thì phố xá mới không
có thú vị gì. Không có những cái khuất khúc dành
cho ta nhiều cái bất ngờ, không có một ngọn cây
hoa nhô sau bức tường thấp, khiến chúng ta đoán
được cả một thửa vườn nhỏ bên trong, ở đấy biết
đâu lại không thướt tha một vài thiếu nữ khuê các
như xưa.
Chỉ còn một vài cái ngõ con ... ngõ Phất Lộc, ngõ
Trung Yên ... mấy ngọn cỏ trên mảnh tường cổng ô
Quan Chưởng, là gợi dấu vết của Hà Nội cũ. Ngày
ấy, đường hẹp, chắc hàng xóm láng giềng ăn ở với
nhau thân mật hơn. Người cùng hàng phố tự coi như
có một liên lạc cùng nhau. Bên này một cửa hàng
tạp hoá có đầy đủ quả sơn đen, có chồng giấy bản
và ống bút nho, có cô hàng thuỳ mị mà hàng phố vẫn
khen là gái đảm đang. Bên kia, nhà một ông cụ Tú,
có tiếng trẻ học vang, có cậu học trò xinh trai
đứng hầu chè thầy bên tràng kỷ.
Những nhà cũ của ta có một lối kiến trúc riêng.
Ở các phố Hà Nội hiện giờ, thỉnh thỏang cũng còn
được một vài nhà. Giữa nhà, mảnh sân vuông lộ thiên,
có bể non bộ và cá vàng, có dãy chậu lan, có bể
đựng nước, và trên tường có câu đối chữ nho. Đôi
khi đi qua, một cánh cửa hé mở, chúng ta được thoáng
nhìn vào; bóng một thiếu nữ nhẹ qua sân, hình dáng
một ông cụ giàcúi mình trên cây cảnh. Tất cả cuộc
đời của những kẻ bên trong, cuộc đời xưa, những
ý nghĩ cũ, những hy vọng và mong ước khác bây giờ.
Không còn gì của Hà Nội ngoài năm sáu mươi năm
trở về trước. Thăng Long của vua Lê, của chúa Trịnh
không còn dấu vết nào: đâu còn những cung điện ngày
xưa, những phụ đế của các bậc công hầu khanh tướng?
Thỉnh thỏang một vài tên gọi còn nhắc lại, một vài
đống đất còn ghi dấu, thế thôi. Chúng ta không biết
được mấy về dĩ vãng, về cảnh phố xá kinh kỳ hồi
cụ Lãn Ông, một túi thơ, một bồ thuốc, đi từ Bát
Tràng đến Hồ Tây để chữa cho hoàng tử.
Trong một bài báo, tôi đã nói (Hà Nội XVII ẻ sìecle)
rằng cái "nghệ thuật biển hàng" ở Hà Nội
đã mất. Ngày xưa, cái biển hàng còn là một cái gì
hơn không chỉ là một cái biển hàng mà thôi. Đó là
một bộ gì liền với cơ nghiệp và số vận của người
buôn, cái biển hiệu thực hiện của những cố công
nhẫn nại và những đức tính ngay thật của chủ hàng.
Đề biển phải chọn ngày tốt, phải xin chữ của những
người viết giỏi có tiếng, và người ta thận trọng
giữ gìn như một thứ của gia bảo ở những cái biển
cũ đã tróc sơn, mà gió mưa bao nhiêu năm đã làm
lạt cả vàng son, những nét chữ mạnh mẽ và rắn rỏi
vẫn còn như nguyên mới. Tôi không khỏi bao giờ đi
qua không dừng bước lại ngắm ngía ba chữ đại. "Vạn
Thảo Đường" trên cái biển cũ kỹ của hiệu thuốc
ấy ở đầu phố Hàng Đường.
Ba chữ "Đông Hưng Viên" cũng sắc nét
và còn mới hơn. Ngày trước còn mấy chữ "Cộng
Hòa Đường" viết bằng son đỏ tươi, lối nửa chân
nửa lệ, chữ bay bướm, trông đến thích cả mắt.
Nhưng bây giờ người ta đã xóa đi để thay vào bắng
lối chữ "vuông tân thời" trong các quảng
cáo ở báo Tàu hay bằng những chữ điện tím hoa cà,
xanh lá mạ đêm đêm sáng ngời một góc trời. Tất cả
cái gì cũng thay mới người ta không những thấy có
biển hàng, người ta thấy cả bề mặt cái cửa hàng
nữa. Và sự thay đổi bề ngoài ấy đem đến cho phố
xá Hà Nội một vẻ mới riêng, hơi lạ lùng và đột ngột.
Trong đêm khuya, chúng ta thử dạo chơi các phố,
lúc đó không bị những ánh sáng và thức hàng làm
lóe mắt. Lúc đó những cửa hàng mới mẻ đã đóng cả,
và cái phố với căn nhà đều phô bày vẻ thật. Các
nhà chỉ thay đổi có phía dưới sự thay đổi ít khi
lên đến tầng trên. Và bây giờ, nếu người ta có phép
gì cắt bỏ các tầng dưới và đặt các tầng trên xuống
đất, chúng ta sẽ có một hàng phố cũ kỹ với những
hàng bát quái, mảnh gương và dơi bay một phố từa
tựa như phố của kinh kỳ xưa, chắc thế.
Có một bạn nào trông coi về vẻ đẹp của thành phố
Hà Nội không? Hình như có thì phải, tuy rằng bạn
đó không thấy làm cho người ta nói đến mình. Nhưng
cái đó không hề gì, miễn là bạn đó cứ làm việc là
đủ.
Ngày trước, ở trước cửa phủ toàn quyền, còn có
một nhóm tường mà người ta đã phá đi rồi, cách đây
đâu mười năm gì đó. Nhóm tường đó trông xa giống
như mâm xôi; ở đỉnh có những hình thù gì, tôi không
nhớ, nhưng ở phía dưới, có tượng hai người đàn bà
nằm choài ra như bơi, tóc buông xõa và lẩn mình
vào thành bể. Hai người đàn bà đó người ta bảo là
hình dung hai con sông Nhị Hà và Mêkông.
Chúng ta tưởng tượng phong cảnh hồ Hoàn Kiếm với
cái mâm xôi bằng đá lù lù ấy. May thay không biết
có ai phản đối, người ta bỏ cái dự định ấy, và đem
nhóm tường dựng ở trước cửa phủ Toàn quyền, để rồi
sau đó ít lâu phá đi.
Sự phản đối ít lợi ấy có lẽ là công việc của ủy
ban coi về vẻ đẹp của thành phố hẳn?
Sau đó ít lâu, một dạo, ngay bên cổng của đền Ngọc
Sơn, chúng ta được trông thấy đứng sừng sững và
thẳng tấp một cái cột dây điện chằng chịt và cả
đèn điện với những cái "bình tích" bằng
sứ trắng, khiến cho cái cột sắt sơn hắc ín đó như
một thứ cây già mọi rợ vụng về. Cái cây đó làm cho
vẻ đẹp của cổng đền Ngọc Sơn giảm mất đến chín phần
mười.
Nhưng lại may thay, cũng cách sau ít lâu, cái cột
đó không còn nữa. Công việc của ủy ban kia chắc
thôi.
Sau đó ít lâu nữa, cảnh đền Ngọc Sơn lại chịu phải
một sự thêm thắt xấu xa khác.
Có lẽ theo lời yêu cầu của những ai trông nom cái
đền đó, người ta đã cho bắc suốt từ ngoài cổng,
qua đầu, vào đến trong đền, những vòng sắt nền,
có những đường uốn lượn ngoằn ngoèo, cũng sơn hắc
ín, và để mắc đèn.
Mắc đèn cho sáng, cho tiện những người đi lễ đền.
Một ý tốt, rất tốt. Nhưng sao lại phải trả bằng
một cách bôi nhọ vẻ đẹp của đền thế? Muốn sáng cổng
và sáng cầu thì thiếu gì cách: mắc đèn vào những
chỗ lõm khuất khúc của cổng và của cầu: đèn để như
thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm vẻ đẹp,
không kể cái lối ánh sáng đập lại ấy dịu dàng và
làm tôn cảnh đền hơn lên.
Đằng này, mắc những võng sắt với cánh hoa hoét
rẻ tiền kia vào cái cổng đẹp đẽ có lối kiến trúc
riêng, có vẻ cổ sơ ấy, thực là một cách đập phá
mỹ thuật tai hại không gì bằng.
Cho cả đến ba chữ "Ngọc Sơn Tự" bằng
sắt dán trên một tấm lưới cũng sắt, và có hoa lá
cũng sắt nốt, cả cái biển ấy cũng chướng mắt không
kém.
Những thanh sắt ấy ở đó cũng khá lâu rồi thì phải,
mà chưa thấy cái ủy ban nào đó nếu ủy ban ấy có
làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ
những cái đó là xong.
Dạo này, người ta đã xây nhiều bóp cảnh sát phụ
ở lác đác khắp Hà Nội, Yên Phụ, Cửa Nam, Bờ Hồ,
Quan Thánh ...
Kiểu bóp như là một cái hòm vuông bốn góc thẳng
cạnh, có cửa vào (tất nhiên) và cửa sổ. Việc xây
các bóp ấy chắc là ít lợi nhiều cho việc trị an
của thành phố. Chúng tôi xin cũng nhận thế. Và chỗ
đặt bóp chắc cũng đã lựa chọn rất tiện lợi nữa.
Những bóp khác, chả nói làm gì. Duy chỉ có cái
bóp ở Quan Thánh, là làm giảm mất vẻ đẹp của ngôi
đền đẹp đẽ ấy.
Tuy rằng người ta đã cẩn thận cho cái bóp ấy đại
để vẫn hình vuông một hình dáng muốn giống chùa
chiền bằng cái mái cong cong, bằng vài cái trang
điểm theo lối cũ. Nhưng mà cái chùa giả ấy trong
đó thấy cảnh sát thay nhà sư không đánh lừa được
ai hết, nhất là người yêu mỹ thuật, yêu Hà Nội,
yêu cái vẻ cổ kính của đền chùa.
Chỉ quá một ít nữa, làm xa ra một tý nữa ở phía
đường bên kia, hay ở ngay vườn hoa đầu đường Quan
Thánh, vườn hoa Eckert nếu tôi không nhầm, thì có
phải hay biết bao không. Gia chi dĩ, những đường
vạch thẳng ngay ngắn của vườn hoa ấy lại hòa hợp
với cái hình thù vuông vắn của nhà bóp lắm.
Quà Hà Nội
Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng ngon lành và lịch
sự. Ở các thôn quê, chút "quà Hà Nội"
là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của người
cho. Con cháu ngày giỗ ky đưa về dâng cha mẹ, hay
các bà mẹ ra tỉnh mua về cho các con, và chồng đi
làm Nhà nước ngày nghỉ mua tặng cho cô vợ mới cưới
... Bao nhiêu ý tốt tình hay gửi vào trong chút
quà nơi đô hội, món quà đem đến cho khắp nơi các
vị sành và trang nhã của băm sáu phố phường.
Hàng Quà Rong
Người Hà Nội, ăn thì ngày nào cũng ăn, nhưng thường
không để ý. Nếu chúng ta về ở tỉnh nhỏ ít lâu, hay
ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết
quà ở Hà Nội ngon là chừng nào. Cũng là thứ bún
chả chẳng hạn, cũng rau ấy, thế mà sao bún chả của
Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, từ
cái nước chấm ngon đi.
Trong một ngày, không lúc nào là không có hàng
quà. Mỗi giờ là một thứ khác nhau; ăn quà cũng là
một nghệ thuật: ăn đúng cái giờ ấy và chọn người
bán ấy, mới là người sánh ăn.
Tang tảng sáng, tiếng bánh Tây đã rao, lẫn với
tiếng chổi quét đường. Đó là quà của những người
thợ đi làm sớm. Rồi, có từng độ, phố xá vang lên
tiếng rao "bánh rán nóng, trinh một, xu đôi"
của một lũ trẻ con. Cái bánh rán vừa cứng và xấu,
thật làm giảm thanh thế của quà Hà Nội, do một cửa
hàng nào đó muốn kiếm lời, cứ muốn bắt thiên hạ
ăn bánh rán lúc còn ngái ngủ.
Này đây mới là quà chính tông: bánh cuốn, ăn với
chả lợn béo, hay với đậu rán nóng. Nhưng là bánh
cuốn Thanh Trì mỏng như tờ giấy và trong như lụa.
Vị bánh thơm bột mịn và dẻo. Bánh chay thì thanh
đạm, bánh mặn đậm vì chút mỡ hành. Người bán bánh
cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu, từng tụm
năm, bảy người từ phía Lò Lợn đi vào trong phố,
dáng điệu uyển chuyển và nhanh nhẹn.
Rồi mùa nực thì hàng xôi cháo: cháo hoa quánh mùi
gạo thơm, xôi nồng mùi gạo nếp. Xôi đậu, xôi lạc,
xôi vừng mỡ và dừa. Ở, cái xôi vừng mỡ, nắm từng
nắm con, ăn vừa gậy vừa bùi. Mà có đắt gì đâu! Ăn
một, hai xu là đủ rồi. Mùa rét thì xôi nóng, hãy
còn hơi bốc lên như sương mù, ăn vừa nóng người
vừa chắc dạ.
Và có ai ngẫm nghĩ kỹ cái vị hành khô chưng mỡ
ở trong bát ngô nếp bung non; hàng giòn và thơm
phức, những hạt ngô béo rưới chút nước mỡ trong
... Ngô bung (xôi lúa) thì có nhiều hàng ngon, nhưng
ngon nhất và đậm nhất là ngô bung của một bà già
trên Yên Phụ. Cứ mỗi sáng, bà từ ô xuống phố, theo
một đường đi nhất định, đã ngoài hai mươi năm nay,
để các nhà muốn ăn cứ việc sai người ra đừng chờ.
Bà đội thúng ngô, tay thủ vào cái áo cánh bông,
và cất lên cái tiếng rao, tựa như không phải tiếng
người, một tiếng rao đặc biệt và kỳ lạ: "Eéé
...éc", "Eé ...ééc ...".
Đối với các bà, các cô đi chợ, cô hàng vải, cô
hàng rau v.v ... là những người ưa món quà gì vừa
rẻ vừa ngon, lại vừa no lâu các cô khó tính, sành
ăn và hay xét nét lắm đã có món quà của cô hàng
cơm nắm lẳng lơ với hai quang thúng bỏ chùng. Món
quà này sạch sẽ và tinh khiết, từ quà cho đến cả
quang thúng, cả cô hàng, tóc vấn gọn, áo nâu mới,
quần sồi thâm, cô hàng trông cũng ngon mắt như quà
của cô vậy.
Cơm nắm từng nắm dài, to nhỏ có, nằm trên chiếc
mẹt phủ tấm vải màu trắng tinh để che ruồi, muỗi.
Con dao cắt, sáng như nước, và lưỡi đưa ngọt như
đường phèn. Cơm cắt ra từng khoanh, cô hàng lại
cẩn thận gọt bỏ lớp ngoài, rồi lại cắt ra từng miếng
nhỏ, vuông cạnh và dài, để bày trên đĩa. Cô muốn
xơi với thứ gì? Với chả mới nhé hay giò lụa mịn
màng?
Các cô vừa ăn vừa nhai nhè nhẹ và thong thả hỏi
han thân mật cô hàng: cùng bạn làm ăn cả, một gánh
nuôi chồng nuôi con, đóng góp thì nhiều. Âu cũng
là cái phận chứ biết làm thế nào.
Đối với các bà ăn rở và thích của lạ miếng và độc
nữa đã có bà hàng tiết canh và lòng lợn. Một mâm
đầy một bát tiết canh đỏ ối, ngòng ngoèo sợi dừa
trắng, điểm xanh mấy lá húng tươi. Thế mà họ ăn
ngon lành, một lúc hai, ba bát. Rồi đánh thêm một
đĩa lòng vừa dồi, cổ hũ với tràng giòn. Ăn xong
quét miệng đứng dậy, bước đi thành chậm chạp.
Sao bằng ra đầu phố ăn một bát phở bã của anh hàng
phở áo cánh trắng, gilet đen, và tóc rẽ mượt? Nồi
nước sôi sùng sục, tỏa mùi thơm ra khắp phố. Nếu
là gánh phở ngon cả Hà Nội không có đâu làm nhiều,
thì nuớc dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát,
thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt, và hành
tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa.
Ăn xong bát thứ nhất, lại muốn ăn thêm bát thứ hai.
Và anh hàng phở chả phải gánh nặng đi đâu cả, chỉ
việc đỗ một chỗ nhất định, cũng đủ bán một ngày
hai gánh như chơi. Và người hàng phố tìm dấu hiệu
để gọi tên anh cho dễ nhớ: anh phở trọc, anh phở
Bêrê, anh phở Mũ Dạ, anh phở Cao ... và dặn thằng
nhỏ chớ mua hàng khác về "ông không ăn mà chết
đòn".
Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải
chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì ở Hà
Nội mới ngon. Đó là quà tất cả suốt ngày của tất
cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền.
Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa, và ăn phở tối.
Phở bán gánh có một vị riêng, không giống như phở
bán ở hiệu. Các gánh phở có tiếng ở Hà Nội đều được
người ta đặt tên và tưởng nhớ: phố Ga, phố Hàng
Cót, phố Ô Quan Chưởng, phố Cửa Bắc v.v ...
Bây giờ nhiều tài năng trẻ trong nghề phở mới nhóm
lên và trái lại, những danh vọng cũ trên kia không
chắc còn giữ được "hương vị xứng kỳ danh"
nữa. Có người nào thứ chịu khó đi khảo nếm lại một
lượt xem sao? Một vòng quanh Hà Nội bằng vị phở,
chắc có lắm điều mặn, chát, chua, cay đấy.
Nhưng có một nơi phở rất ngon mà không có ai nghĩ
đến và biết đến: ấy là gánh phở trong nhà thương.
Trong nhà thương vốn có một bà bán các thứ quà bánh
ở một gian hàng dựng dưới bóng cây. Cái quyền bán
hàng đó là cái quyền riêng của nhà bà, có từ khi
nhà thương mới lập. Bà là người ngoan đạo nên tuy
ở địa vị đặc biệt đó bà cũng không bắt bí mọi người
và ăn lãi quá đáng. Thức gì bán cũng ngon lành,
giá cả phải chăng. Nhưng gánh phở của bà thì tuyệt:
bát phở đầy đặn và tươm tất, do hai con gái bà làm,
trông thực muốn ăn. Nước thì trong và lúc nào cũng
nóng bỏng, khói lên nghi ngút. Rau thơm tươi, hồ
tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một
chút cà cuống, thỏang nhẹ như một nghi ngờ. Mà nhân
tâm tùy thích, nhà hàng đã khéo chiều: ai muốn ăn
mỡ gầu, có, muốn ăn nạc, có, muốn ăn nửa mỡ, nửa
nạc, cũng có saÜn sàng.
Cứ mỗi buổi sáng, từ sáu giờ cho đến bảy giờ, chỉ
trong quảng ấy thôi, vì ngoài giờ gánh phở hết,
chung quanh nồi nuớc phở, ta thấy tụm năm tụm ba,
các bệnh nhân đàn ông và đàn bà, các bác gác san,
các thầy y tá, và cả đến các học sinh trường Thuốc
nữa. Chừng ấy người đều hợp lòng trong sự thưởng
thức món quà ngon, nâng cách ăn phở lên đến một
nghệ thuật đáng kính.
Cùng một thứ quà nước và mặn như phở, Hà Nội còn
có hãng mì và mằn thắn. Hai món này chắc hẳn là
món ăn của người Tàu, cho nên hễ người Tàu làm thì
ngon hơn, cũng như họ làm ngon nhiều món khác.
Cái chí của Việt ta cũng khác: món quà bán thì
cứ muốn bán cho rẻ và nhiều, thích thế để xiêu lòng
khách còn cái phẩm có tốt hay không, không quan
tâm đến. Cho nên bát mằn thắn của người mình thì
có đủ cả rau thơm, xà xíu, đôi khi mấy miếng dồi,
và một phần chia tám quả trứng vịt. Mằn thắn thì
làm rất to bột, nặn xuề xòa để trông càng to hơn,
nhưng nhân thì hết sức kín đáo và nhỏ bé, vì được
một tí thịt chỗ bạc nhạc, mua rẻ của các hàng thịt
lậu ôi ở ngoại ô, lúc trút hàng bán rẻ. Nước cũng
rất nhiều nữa, dềnh lên như ao sau trận mưa, nhưng
nhạt ví như nước bèo. Ấy htế mà tất cả chỉ bán có
năm xu. Tưởng đắt hàng là phải.
Thế mà không: người Hà Nội ăn quà sành, nên khó
mà lấy nhiều làm hoa mắt người ta được. Có lẽ người
bán nghĩ rằng quà rao là sực tắc, hai thanh tre
gõ vào với nhau như tiếng guốc đi của một gái về
đêm, mà sực tắc chính là hai tiếng Tàu Thực đắc
mà ra. Thực đắc là ăn được, cho nên quà chỉ cốt
ăn được, không cốt gì ăn ngon.
Về thức quà này, tôi lại nhớ đến một câu chuyện
nhiều ý nghĩa, và có thể làm một bài học hay cho
người mình. Trong lúc mọi người bán hàng Việt Nam
mỏi vai lê gánh khắp phố mòn đốt tre vì tiếng gọi
mà vẫn không bán được mấy, thì bỗng nhiên một hôm
ở một phố ở Hà Nội nhỏ hẹp và đông đúc, nẩy ra một
chú khách bán hàng rất dở người. Chú ta cũng bán
mì với mằn thắn, cũng với giá năm xu, nhưng mì thì
chỉ có mì không và mằn thắn chỉ có mằn thắn trần,
đủ mười lăm cái. Nhưng nước rất trong và rất ngọt,mì
thì đậm vị và dẻo, mằn thắn thì bột mềm và mỗi cái
có nhân một con tôm. Ăn mãi vẫn ngon không thấy
chán.
Bán hàng không cần gánh đi đâu, và cũng không cần
gì bát. Ai muốn ăn thì đến hàng mà ăn, ai muốn mua
đem bát lại mua, và người nhà mang về, chứ một bậc
thang ngắn bác cũng không chịu bước lên. Bác bán
hàng cửa quyền như thế, người ta tuy tức vì cái
làm bộ kiêu kỳ của bác, chê vì quà của bác đắt hơn
quà của các hàng thường, nhưng người ta vẫn phải
mua, vì quà của bác ngon. Người mua ngày dần đông:
một bác bán không đủ, phải làm hai gánh, rồi ba,
rồi bốn, rồi năm sáu. Mỗi gánh bác phải thuê người
bán, mỗi tháng công năm đồng. Những người này bèn
cách ăn bớt: một lượng bát mì bác bán, cứ ba bó
mì thì họ lạibớt một; mười lăm cái mằn thắn thì
họ bán có mười hai.
Nhưng mắc lòng, hàng bác vẫn bán chạy. Mỗi gánh
ít nhất bác cũng được lãi ba đồng một ngày. Sáu
gánh vị chi là mười tám, một tháng lãi năm trăm
hơn. Sáu tháng sau khi bác ở Hải Phòng đặt chân
lên Hà Nội, bác đã nghiễm nhiên trở nên một người
giàu.
Thế mới biết nghề gì là không có lãi, mà cái nghề
mà chúng ta tưởng là hèn mọn ấy lại chóng làm người
ta giàu hơn chánh vạn nghề khác. Miễn là thức hàng
bán xứng với đồng tiền, đừng lừa dối người mua của
ngon thì người ta ăn, đắt rẻ không kỳ quản. Đó là
một sự thất giản dị trong nghề buôn bán, mà tiếc
thay, nhiều nhà buôn người mình không biết đến,
hoặc người mình làm tồi bán rẻ hoặc họ đánh lừa
được người muathì lấy làm sung sướng.
Tôi quên nói nốt rằng chú khách bán mằn thắn trên
kia, giá cứ giữ lối bán gánh như thế thì không sao.
Có tiền, chú lại muốn làm ông chú hiệu chú mở hàng
cao lâu to ở phía Mã Mây. Cái chí này thì không
có gì đáng trách. Nhưng chú lại muốn giống các chủ
khác ở chỗ đánh bạc chú đánh phán thán, rồi chú
thua. Ba tháng sau, chú vỡ nợ.
Nhưng đấy là tại chú, chứ không phải là tại cái
cửa hàng của chú, và cái phương pháp bán hàng của
chú vẫn giữ nguyên giá trị khiến chúng ta nên theo.
Sau khi vỡ nợ, tay trắng trở về, chú lại ghé lưng
xuống gánh lấy gánh hàng mằn thắn cũ tiếng vẫn rao
vàng, và cái miệng vẫn tươi cười như trước Đó là
một tấm gương mà chúng ta lại càng nên theo nữa
Vẫn Quà Hà Nội
Kể về các thứ quà mặn, thì Hà Nội còn nhiều: nào
bún riêu, bún chả, thang cuốn, nem chua, nào miến
lươn và bún ốc. Mỗi thứ, tất nhiên có một vị riêng,
và cả đến mỗi hàng, lại cũng có cái ngon riêng nữa.
Tôi thích nhất cô hàng bún ốc, không phải vì món
hàng cô tôi thích ăn xin thú thật rằng tôi sợ các
bác ốc lắm nhưng tôi thích nhìn người ta ăn, vì
nghe thức quà của cô là cái điểm không thể thiếu
được của một cảnh bình dân hoạt động trong các ngõ
con và trên các bờ hè. Người ta xúm lại ăn quà bún
ốc một cách mới ngon lành làm sao! Có ai buổi trưa
hay buổi đêm khuya, đi qua các nhà cô đào, và các
chị em thanh lâu, thấy họ ăn cái quà ấy một cách
chăm chú và tha thiết đến đâu không? Nước ốc chua
làm nhăn các nét mặt tàn phần và mệt lả, miếng ớt
cay làm xoa xuýt những cặp môi héo hắt, và khiến
đôi khi rõ những giọt lệ thật thà hơn cả những giọt
lệ tình.
Cô hàng ốc có một cái dụng cụ, một đầu là búa,
một đầu là dùi nhọn. Một cái gõ nhẹ, và một cái
trở tay, là con ốc nguyên cả ruột đã gọn gàng rơi
mình vào bát nước. Cô thoăn thoắt rút ốc không kịp,
trông thấy người ta ăn ngon lành, chính cô cũng
sinh thèm. Ấy cô có thú thực với tôi như thế.
Cùng họ nhà bún, riêu cua và thang cuốn vốn là
quà sở trường của các bà. (Mà nghiệm ra cái triết
lý sâu sắc này: thứ quà nào bán cho các bà bao giờ
cũng đắt hàng, vì hai lẽ: một là vì các bà nội trợ
bao giờ cũng saÜn tiền, hai là các bà ăn quà đã
thành tục ngữ, ca dao). Lạ có một điều: nhà mình
làm lấy, dù bà vợ khéo tay đến đâu, ăn cũng không
thấy ngon bằng mua các hàng rong, nhất là hai thứ
thang riêu. Tại sao vậy? Có ai tìm ra cái lẽ triết
lý thứ ba không?
Miến lươn là thức quà ăn bổ âm, nhiều người bảo
thế. Đàn ông thì không hay tin, nhưng đàn bà thì
dễ tin lắm. Thế cho nên đã thấy nhiều ông chồng
không thích ăn lươn, mà vẫn bị các bà vợ ép cho
ăn dù tiền các bà ấy trả lấy. Tình nghĩa đằm thắm
của vợ chồng đôi khi có thể lấy nhiều ít miến lươn
mà đo được.
Ấy, suýt nữa đi khỏi các thứ quà cốt bún, mà tôi
quên không nói đến thứ quà bún quang trọng và đặc
điểm nhất của Hà Nội băm sáu phố phường: đó là thức
quà bún chả.
Phải, cái thức quà tầm thường đó, sáu tỉnh đường
trong, bốn tỉnh đường ngoài, chẳng có đâu ngon bằng
kinh đô. Ai cũng phải công nhận như thế, hay ít
ra những người sành thưởng thức. Một ông đồ cuồng
chữ ở nhà quê, một hôm khăn gói, ô lên Hà Nội, đã
phải ứng khẩu đặt hai câu thơ như thế này, khi ngửi
thấy mùi khói chả:
Ngàn năm bửu vật đất Thăng Long
Bún chả là đây có phải không?
Mà cảm hứng thế thì chí phải. Khi ngồi cuống chiều
gió, đói bụng mà đón lấy cái khói chả thơm, thì
ngài dễ thành thi sĩ lắm. Khói lam cuộn như sương
mờ ở sườn núi, giọt mỡ chả xèo trên than hồng như
một tiếng thở dài và tiếng quạt khẽ đập như cành
cây rung động, quà bún chả có nhiều cái quyến rũ
đáng gọi là mê hồn, nếu không là mê bụng.
Những thứ rất là tầm thường, rất là giản dị mà
đi gần nhau sao lại sinh ra được mùi vị riêng như
thế? Ai là người đầu tiên đã nghĩ ra bún chả? Người
đó đáng được chúng ta nhớ ơn và kính trọng ngang,
hay là hơn với người tạo nên được tác phẩm văn chương
... Có lẽ người kia còn làm ít cho nhân loại hơn
là người này nữa. Tiếc thay tên người tài tử đó
thất truyền, để không liệt kê vào cái sổ vàng của
những danh nhân "thực vi đạo".
Thứ bún để ăn bún chả, sợi mành và cuộn từng lá
mỏng, khác với các thứ bún thường. Chả phải thịt
ba chỉ, mà phải dùng cặp tre tươi nướng mới ngon.
Quái, sao cái nước chấm của các hàng bún chả hàng
ngon thế! Có lẽ là họ dùng nước mắm hạng vừa, nghĩa
là không quá chua, cho nên thành ngon chăng? Nước
chấm ấy mà điểm thêm mấy giọt chanh vào thì tuyệt:
có thể thấm nhuần cả bún, cả rau, cả chả mà không
mặn, không gắt như nước chấm của nhà.
Nhưng bún chả Hà Nội đặc biệt có lẽ vì cái rau
húng Láng. Vì chỉ có rau húng ở Láng là có mùi vị
húng, đem trồng chỗ đất khác, sớm chậm cũng đổi
ra mùi bạc hà Viết đến đây tôi lại nhớ đến bác Tú
Mỡ thường mời bạn hữu ăn và thường khoe mình là
ẩn dật ngay trong rừng húng Thế cho nên bún chả
thì phải là bún chả Hà Nội mới đủ vị cho người thưởng
thức và phải là bún chả xưa vẫn ngồi trước đến Bạch
Mã, Hàng Buồn, mới là bán hàng ngon. (Tất nhiên
có nhiều các hàng khác ở phố cũng ngon chẳng kém,
nhưng tiếng tăm chưa nổi đó thôi).
Phụ Thêm Vào Phở
Nói về phở, tôi còn quên không nhắc tới những
sự thay đổi mới đây ở cái quà đặc biệt đó.
Nghĩ rằng thay đổi là tiến bộ, có người
đã bỏ phở cũ là vị phở gà. Nhưng sự cải
cách ấy hình như không được hoan nghênh.
Có người khác rụt rè hơn, chỉ thay đổi một
vài thứ gia vị người thì thêm vị húng lìu
(như gánh phở phố Mới hồi năm 1928), kẻ thì
thêm dầu vừng và đậu phụ. Họ mệnh danh cái
phở như thế là phở cải lương.
Như cái thứ phở thực cũng như bản tuồng,
chèo. Để nguyên tuồng chèo cổ thì hay, chứ
đã pha cải lương vào thì hỏng bét. Có chăng
muốn cải cách thì để nguyên vị, mà cách
làm tinh vi hơn lên. Cái nội dung và thể tài
vẫn cũ, mà tinh thần thì ngày một sắc sảo
thêm vào.
Kẻ viết bài này vẫn trung thành với lối
phở cổ điển cũng như ưa nghe tuồng chèo giữ
đúng điệu xưa.
Bổ Khuyết
Tôi đã toan chấm hết cái bài nói về quà
bún, thì một bà hẳn cũng là một người sành
ăn đến trách rằng: Anh nói đến quà bún mà
không quên nói đến quà bún bung thì hẳn ra
là một sự bất công. Vì bún bung là một thứ
quà ngon lắm, mà lại là một món quà rất
Việt Nam.
Tôi biểu đồng tình, và vội vàng bổ vào
chỗ khuyết điểm ấy, để khỏi phụ lòng những
bà sành ăn bún, và khỏi phụ công những cô
hàng sớm gánh nồi bún nóng đi rao khắp phố
phường. Tôi còn nhớ rõ trên đầu lưỡi, tê như
một lượt rùng mình nhẹ, cái vị đậm ngọt
và hơi ngưa ngứa của những miếng dọc sơn hà.
Cái thứ rau này, sao mà đi với bún hay thế!
Tựa như trời sinh ra để nấu bún, và cái hòa
hợp dịu dàng không ở đâu là không có, trong
một tác phẩm văn chương cũng giống như trong
một nồi bung nấu khéo.
Cây sơn hà (cây mùng) vốn là những giống
tựa như cây khoai mà lá to, cù thì nhỏ và
tròn như quả trứng, luộc lên ăn cũng ngon.
Dọc cây, người ta tước vỏ và chẻ nhỏ, nấu
kỹ cho rõ nhừ. Một vài miếng đầu mẩu sườn
để lấy nướng ngọt, một ít nghệ để nhuộm
thức ăn ấy một màu vàng đầm ấm như màu vàng
của ráng chiều những ngày mùa hạ. Thêm dăm
quả cà chua đỏ, một vài miếng đu đủ xắt
vuông, màu trong mỡ như ngọc quý. Chừng thứ
ấy mà có sợi bún trắng vắt qua, như một
cái dây liên lạc những thức thực xa nhau, mà
vì sự sành ăn của loài người bỗng chốc nên
gần gụi. Thế là bát bún bung không biết bao
nhiêu vị điểm lẫn cho nhau như các tiếng của
bản đàn. Nếu ngài lại thích ăn cay nữa, thì
mấy nhát quả ớt chỉ thiên, đủ khiến chi vị
quà thêm cái nóng rực rỡ và thắm màu của
những gia vị lạ nơi Ấn Độ.
Bún Sườn Và Canh Bún
Lại một vị khác hẳn, ấy là hai thứ bún
sườn và canh bún. Bún sườn thì hiền lành
thôi, về sắc sảo chẳng có gì. Cứ quý hồ
nước cho ngọt, bún cho dẻo là được rồi. Người
ta ăn bún sườn như đọc những tiểu thuyết ngon
ngọt, thích thôi chứ không dám mê. Không có
người ghét nhưng cũng không có người tha thiết
quá. Cái gì cũng ở nửa chừng.
Canh bún thì cao hơn một bậc vì có rau cần,
sánh và gắt, và nhất là có cá rô con, lạng
từng miếng một, cũng có nơi nấu với cải,
nhưng không ngon bằng. Thịt rô ấy đem lại cho
thức ăn một vị đậm ngọt khác thường, không
hiền lành, bởi vì chỉ ngon trong một độ nào
đó, khiến người ăn có cái cảm tưởng đi gần
một vị ghê lợm ở đầu này và ở đầu kia,
và bởi thế, càng khiến cho thức quà ngon
hơn, có cái ngon của sự chênh vênh và lo sợ
... Thực vậy; canh bún để nguội thì tanh mà
đun già nóng quá thì nồng ruỗng. Ấy chỉ
lúc nóng vừa đổ miệng, ăn phải xuýt xoa.
Và người ta cho hồ tiêu vào, để thêm cái cay
nóng có mực thước.
Còn Quà Hà Nội
Trong một bài trước, tôi đã nói đến thứ bánh
cuốn Thanh Trì, là thứ quà Hà Nội. Nhưng
đây là thứ bánh không nhân, tuy cũng gọi là
bánh cuốn, mà không cuốn gì hết. Hà Nội
còn thứ bánh cuốn khác nữa, mấy lần bánh
mỏng lấy nhiều vị làm nhân mà gần đây được
người hàng phố hoan nghênh đặc biệt.
Chắc nhiều người còn nhớ hương vị của những
chiếc bánh cuốn "hai mươi bốn gian".
Thuở ấy, Hai mươi bốn gian còn là một xóm
thịnh vượng của cô đầu, mà sự hoạt động
vui vẻ còn kéo dài mãi đến đêm khuya. Trước
cửa những nhà hát ấy, về phía bên này đường
xe điện, có một chiếc nhà lá bé con, ẩn
núp dưới bóng cây xoan xanh tốt. Trong cái
nhà nghèo nàn ấy tự mười hai giờ đêm cho
tới sáng, một bà già và hai cháu nhỏ cúi
mình trên một cái nồi con bí mật làm ra những
chiếc bánh cuốn nóng sốt và ngon lành. Khách
chơi đêm khi lách nhìn qua cửa liếp vào, đã
ngửi thấy mùi hành thơm phi mỡ, và trông thấy
làn khói trắng bốc lên ở chiếc nồi.
Của đáng tội, bành cuốn của bà cụ, cứ
kể về giá trị riêng thì cũng không lấy gì
làm ngon lắm. Nhưng người ta ăn thấy ngon, vì
phải tìm tòi đến mà ăn, phải chờ đợi từng
chiếc một. Vì đêm khuya, sau những cuộc hành
lạc còn để lại như vị đắng trên đầu lưỡi,
người ta thèm được nếm cái vị cay chua của
nước chấm, quất mạnh như chiếc roi vào cái
chán nản của sự chơi bời.
Sau đó, khi xóm cô đầu dọn đi chỗ khác, thì
bà cụ cùng hai đứa cháu cũng không bán hàng
nữa, có lẽ không biết bán cho ai. Và cái
món bánh cuốn cũng hình như không được ưa
chuộng nữa.
Cho đến gần đây, các hiệu bánh cuốn mớilại
thi nhau mở. Hiệu bánh cuốn Hàng Đồng, hiệu
bánh cuốn phố Nhà Thờ, hiệu bánh cuốn phố
Mã Mây. (Hồi đó là hồi thang cuốn khởi đầu
được hoan nghênh, cùng với hiệu phở Bình Dân).
Người ta bán khắp cả đủ các hạng từ một
xu cho đến một hào một chiếc, không kể những
hàng bánh cuốn rong, mỗi tối lại làm vang
phố phường Hà Nội với cái tiếng rao lanh
lảnh và kéo dài.
Không kể mấy anh hàng bánh cuốn lập dị và
có vẻ đôi chút thượng lưu, đáng lẽ đội thúng
thì họ gánh một gánh như gánh phở: một bên
đựng thùng bánh cuốn lúc nào cũng bốc hơi.
Rồi họ đặt ra một thứ tiếng rao kỳ lạ lốc
bểu. Nghĩa là gì? Tôi chịu không biết hai
nguồn gốc của hai tiếng đó ra sao?
Nhưng cái đó không cần lắm: điều cần là
thức hàng họ ăn ngon. Tiếc thay, lại ít khi
được như thế lắm. Bột bánh của họ phần nhiều
thô không được mịn, còn nhân cũng không phải
là thứ thịt ngon.
Bánh cuốn muốn ngon thì phải nhà làm lấy.
Cách làm như thế này, và tôi trình bày ở
đây các phương pháp bí truyền làm bánh cuốn,
đã nẩy ra trong óc tôi một ngày đáng ghi nhớ
ở trên bờ hồ Tây. (Tại sao lại hồ Tây, xin
xem qua xuống dưới sẽ biết).
Cốt bánh để bọc thì dùng bánh cuốn Thanh
Trì, là thứ mà bột dẻo và thơm hơn hết.
Như vậy, đã được công xay bột và tráng bánh,
và vị tất làm đã ngon bằng. Còn nhân thì
một ít thịt vai nửa nạc nửa mỡ thật tốt,
mấy cái nấm hương, vài lá mộc nhĩ và một
ít tôm tươi hồ Tây, bóc vỏ và thái miếng.
Tôm hồ Tây, của những thuyền siết mang lên
bán vào khỏang mười hai, một giờ trưa, là
thứ tôm ăn ngậy và ngọt vị.
Chừng ấy thứ, thêm mấy nhát hành, chút nước
mắm ngon, hồ tiêu bắc xào qua với mỡ trên
chảo nóng. Rồi lấy bánh cuộn nhân vào; công
việc nàu nên để tay mềm mại và khéo léo
của các bà làm, để nâng niu cái màng bột
mỏng cho khỏi rách. Xong, bỏ vào nồi hấp.
Lúc ăn chấm nước mắm Phú Quốc, chanh, ớt
và cà cuống nguyên chất hồ Tây; tùy thích
có thể kèm them đậu rán nóng; một miếng
ăn là một sự khoái lạc cho khứu quan và đầu
lưỡi, và chúng ta cảm ơn Thượng Đế đã dành
riêng cho loài người những thứ vị ngon.
Tôm là cái nhân cốt cần cho nhiều thứ bánh:
bánh cuốn, bún cuốn, chả rán, thang ... Cho
nên một thứ bánh bột cũng ngon là thứ bánh
ít nhân tôm (nhưng mà nhiều).
Sáng sớm, thường có một vài ba hàng đội
cái thúng trên đầu đi bán; họ bán một thứ
gọi là bánh tôm và một thứ kêu là bánh ít.
Bánh trên là những cái chén bằng bột trắng
nho nhỏ, thứ bột ăn giòn. Khi bán họ múc
vào cái thứ chén ấy, một ít tôm khô tơi vụn,
tẩm vào một ít mỡ rất trong. Thứ quà trông
tựa như một thứ hoa lạ, dài trắng và nhị
hồng.
Còn bánh ít thì lần bột chín trong để cho
người ta đoán thấy cái màu đỏ của lưng tôm,
và màu đen của mộc nhĩ. Họ trình bày chiếc
bánh như những hòn tròn, cứ trượt trơn dưới
đũa. Tôi ưa thích hơn cái hình thù bánh bao,
bánh bẻ của những nhà sang trọng ngày giỗ
Tết. Trong cách nặn bánh theo hình thể thanh
thanh, người cảm thấy cái hoa tay mềm mại
của các cô thiếu nữ; cái tìm tòi nghệ thuật
ấy giúp cho bánh ngon thêm nhiều lắm. Không
cứ phải có của ngon, còn cần phải nâng niu
kính trọng nữa.
Hết mặn, lại đến ngọt ... Có lẽ một độc
giả nào đó không thích cái mục Hà Nội ...
phố phường, sẽ nói thế khibắt đầu đọc bài
này. Nhưng tôi không thể bỏ qua những quà rong
Hà Nội, mà lại không nói đến các thứ quà
ngọt, ở Hà Nội, cũng nhiều bằng quà mặn,
và nếu người ta ưa mặn lắm, thì người ta
ưa ăn ngọt cũng không phải không nhiều.
Nhưng mà tôi cũng chỉ nói sơ qua mà thôi.
Vì các thứ quà ngọt ở Hà Nội cũng không
có gì là đặc sắc, nhất là quà nước.
Đêm đêm các phố vẫn vang động tiếng rao của
người bán hàng lục tầu xá và người bán
chè sen.
Quà trên là một thứ chè đậu xanh, ngọt đậm
từ thứ nấu cả vỏ đến thứ bỏ vỏ, từ thứ
đặc sệt như bột của phần nhiều người bán
Việt Nam, đến thứ loãng hơn và sặc mùi vỏ
quýt của chú Khách vẫn bán kèm với "chí
mã phù" ở các ngõ Quãng Lạc và Hàng
Buồm. Còn chè sen thì chỉ người ta bán, mà
bao giờ người bán hàng cũng là một đàn ông
đứng tuổi, mặc áo cánh nâu và quần nâu. Nhưng
cái thứ chè của bác ta ngọt quá, và đắc
nữa. Một xu thường chỉ được bốn, năm nhân
hạt sen. Thứ quà của bác người ta không ăn
luôn, chỉ để mời mấy ông cụ nhà quê ra chơi
tỉnh, hoặc để cho bà trưởng giả nuông chiều
mấy cậu non yếu dạ dày.
Cùng một thứ quà nước ngọt và nóng ấy,
thỉng thỏang ở Hà Nội, tôi còn nghe thấy
cái tiếng rao là lạ "Sa cốc mày".
Lầu đầu nghe, tôi tưởng là một thứ quà ngon
lắm, ít ra cũng có một vị lạ như cái tên
gọi nửa Tàu, nửa Mán kia. Tôi gọi mua ăn.
Nhưng hóp được vài hóp, thì miếng quà trở
nên khó nuốt và ngán như lúc phải nói hết
một câu hài mình thấy là nhạt rồi. Nó có
gì đâu: chẳng qua là một thứ bột viên nhỏ
và tròn, nấu với nước đường.
Sao bằng mát ruột và lạnh hơn lúc đương nực,
ăn một xu chè đậu đen của cô hàng đòn gánh
cong ở sau phố Sinh Từ? Trong buổi đêm mùa
hạ, khi các hè phố ngổn ngang những người
nằm ngồi hóng mát, từ viên công chức cho đến
bác thợ thuyền, thì các cô qua lại luôn luôn
bật ra cái tiếng rao: "Ai cháo đậu xanh,
chè đậu đen ra", lanh lảnh và kéo dài
như một luồng gió mát.
Giờ tôi nói đến mấy thứ quà nước ngọt có
lẽ chỉ riêng Hà Nội mới có. Mà cũng không
phải là phố nào các hàng quà ấy cũng đi
qua. Các thứ ấy chỉ bán quanh quẩn trong mấy
đường lối gần Hàng Buồm và phố Mã Mây, phần
nhiều trong các gõ tối tăm. Bán cho ai? Cho
những người hút thuốc phiện nghiện hay không
là những người vừa thích ăn của ngọt, lại
của ngọt mát để có nhuận tràng, và đủ cầu
kỳ đề ưa những món quà phiền phức ấy.
Khi ngài say thuốc rồi, muốn ăn thư quà ngọt
để hãm dư vị của Phù Dung, nóng để khỏi
giã sự say sưa, và rẻ để đủ no với vài xu
nữa, thì xin gọi mua một bát "Súi ỉn"
(hay dủyn, sùi din, hoặc tương tự) của chú
Khách trọc đầu ngồi bán ngoài cửa tiệm.
(Tiện đây nói rằng chú ưa ngồi đấy, một là
để bán hàng,mà hai nữa cũng là để hịt lấy
mùi hương khói). Đó là thứ bánh trôi nước,
bột bọc nhân vừng, dừa và đường, thả lềnh
bềnh trong một thứ nước cũng đường. Thứ quà
rất nóng hỏi, vô ý cắn vào thì buốt răng.
Quà ấy có ngon không? Tôi chịu không biết được.
Và theo như lời một đồ đệ lão luyện của
Phù Dung Tiên Tử, muốn thưởng thức được hoàn
toàn cái hương vị của cái quà ấy, thì phải
ăn lúc bụng đói và sau khi đã say sưa. Nhưng
có một điều chắc là thức quà đó hẳn khó
tiêu.
Hút thuốc hay ráo cổ. Thì có khó gì. Đã
có thứ mía ngọt, nhưng mà hâm nóng, luộc
trong một thứ nước riêng, có những vị gì
tôi không biết, vì mấy lần hỏi, chú bán hàng
cứ giữ bí mật của nhà nghề. Khấu mía và
chén nước ấy, người ta rao bốn tiếng lạ lùng
là: "Mạo cán chè, sủi!".
Nếu ông lại muốn vừa đỡ khát, vừa bổ âm,
bổ tì hay bổ vị nữa, thì gọi mua một chén
nước nóng "Bát bảo lường xà". Bát
bảo là tám của quý, tám vị thảo mộc trong
thuốc bắc, chú khách bán hàng đã cẩn thận
phơi bã ở trên ria mép cái bình, để tỏ ý
muốn hàng chân thật. Cái thứ nước ngon ngọt
lờ lợ ấy đã suýt làm tôi buồn nôn. Nhưng
nhiều người uống ngon lành lắm, hứng từng
giọt cho đến cặn.
Giờ ông muốn được tiêu và nhuận tràng thì
lại xin ăn một bát chè khoai. Khoai là khoai
thường, cách nấu cũng rất thường, nhưng người
ta gọi bằng ba tiếng nghe rất có vẻ Tàu:
"Phán sì thoòng".
Tất cả những tiếng rao Tàu ấy, đêm khuya
văng vẳng trong những gõ tối quanh co hòa với
tiếng reo của nhĩ tẩu, với khói thơm của
Phù Dung, đã tạo nên một không khí riêng cho
Hà Nội, có lẽ không đâu có.
Những Thứ Chuyên Môn
Những thứ quà đặc biệt riêng của từng vùng,
ngày trước ta có nhiều Ninh Giang có bánh
gai, Yên Viên có bánh giò, Lim có bánh lam,
Ghềnh có bánh dài và chả nướng, Quán Gánh
có bánh giầy tròn, Nam Định có bánh bàng,
Hải Dương có bánh đậu ... Những thứ quà ấy
nơi thì còn giữ được vị ngon như cũ, nơi thì
chỉ có cái tiếng không. Người sành ăn bây
giờ mỗi ngày một ít, người ưa chuộng của
tốt cũng không còn có nhiều. Người ta bây
giờ chỉ ham cái sự rẻ, và chỉ cần có cái
mầu mỡ bên ngoài. Sự giả dối, điêu ngoa, và
luộm thuộm, thay thế cho sự thật thà, cẩn
thận. Không cứ gì trong các thức ăn, cả đến
những sản phẩm khác cũng vậy.
Nhà đạo đức thì lấy thế làm lo riêng cho
cái tinh thần của nước nhà, nhưng người sành
ăn thì lo riêng cho cái vị ngon của những thức
quà đáng quý. Cái nọ không phải là không
có liên lạc đến cái kia: biết ăn, tức đã
là một điều tiến bộ lớn trong các điều tiến
bộ, nếu không phải là trong hàng những điều
quan trọng nhất.
Những ý nghĩ về thế đạo trên này không khỏi
lôi kéo chúng ta đi xa quá.
Vậy thì, nếu nơi nào có thức "chuyên
môn" riêng của nơi ấy thì Hà Nội cũng
có thức chuyên môn riêng của ba mươi sáu phố
phường.
Một người Hà Nội về thăm quê, muốn đem ít
quà thật là đặc biệt, thì người ấy lựa
chọn những thứ gì?
Bánh cốm hàng Than ... Một thứ bánh ngon
mà cũng không đắt, một thứ bánh gợi cho ta
những kỷ niệm rất nhiều màu. Bánh cốm chính
là thứ bánh cưới, trao đi đổi lại trong những
mùa thu, để chứng nhận cho cái sung sướng
của cặp vợ chồng mới, và cái vui mừng của
họ hàng. Vuông vắn như quyển sách vàng, bọc
lá chuối xanh buộc lạt đỏ; cái dây lạt đỏ
như sợi dây tơ hồng buộc chặt lấy những cái
ái ân. Nhân đậu xanh giã nhuyễn, vương mấy
sợi dừa, và đường thì ngọt đậm. Có lẽ chúng
ta có quyền phàn nàn rằng cái thứ bánh ấy
và nhiều thức bánh khác của ta nữa, phần
nhiều ngọt quá, ăn hay chóng chán. Nhưng bánh
mừng đám cưới lại nhạt ư? Cho nên họ làm
ngọt, hết sức ngọt, để tận tình dung cái
đằm thắm của cặp vợ chồng (cũng vì thế
mà tình yêu chóng chán).
Bánh cốm thường đi đôi với bánh xu xê. Cái
tên kỳ khôi này ở đâu mà ra? Thứ bột vàng
và trong như hổ phách ấy, dẻo và quánh dươi
hàm răng, là một thứ bánh rất ngon. Dù sao,
cũng là một thứ bột thẳng thắn, vì nó dễ
cho ta đoán trước để mà thèm thuồng những
cái ngon ngọt hơn ẩn náu bên trong. Qua cái
màu vàng óng ánh ấy, màu trắng của sợi
dừa và màu vàng nhạt của đậu thêm một sắc
nóng ấm và thân mật. Tôi bao giờ cũng ưa thức
ăn nào có một hình sắc đẹp đẽ cái đẹp lúc
trông ngắm giúp nhiều cho cái thưởng thức
lúc ăn lắm.
Hai thứ bánh cốm và bánh xu xê của Hàng
Than Hà Nội, có thể nói là đã là nổi tiếng
khắp Bắc Kỳ, từ kẻ chợ cho đến thôn quê.
Ở Hàng Than, chỉ có hai nhà là chín hiệu.
Ngày xưa, tên người làm bánh cũng bất tử
liền theo với thứ bánh họ làm ra. Cái danh
tiếng của cả một gia đình ghi trên nền lá
chuối và tôi tưởng cô con gái của gia đình
ấy chắc hẳn là đắt chồng. Bây giờ, cái tên
hiệu được ghi nhớ hơn. Nhà bánh cốm "Nguyên
Ninh" tôi tưởng là một nhà làm bánh cốm
cũng đã lâu đời, cùng với nhiều nhà khác.
Họ biết giữ cho cái vị bánh được ngon đều,
và điều này cần nhất, biết thay đổi trong
cách trình bày và trang điểm cho thứ quà
được lịch sự và trang trọng thêm lên.
(Một nồi cốm thắng đường, lúc lấy ra, thế
nào cũng còn lại ít nhiều chỗ cháy. Cái
thứ cháy cốm ấy, ngọt sắc và dẻo cũng như
"mè xửng", người ta bán năm xu một
miếng cho những người ít tiền dùng, nhất
là những người nghèo mà lại đánh bạn với
ả Phù Dung, là những người tìm được cái
ngon bất cứ ở thứ quà gì).
Một nhà khác ở phố Hàng Giấy mà tôi không
còn nhớ số nhà hiện giờ làm những bánh
cộng cũng khá ngon. Đó là một thứ bánh vuông
và nhỏ, bột xanh thẫm như là mảnh cộng, tất
nhiên, ăn mềm và thơm. Tôi không rõ họ có làm
bánh gấc nữa không: hai thứ bánh ấy vốn đi
đôi với nhau, một thứ xanh, một thứ đỏ. Người
ta vẫn ăn, nhưng chỉ ăn thỉnh thỏang. Vì các
thứ bánh bột của ta đều phải một tật là
chất bột nặng quá. Nếu làm cách nào làm
cho thứ bộ "nhẹ" hơn, thì những thứ
bánh ấy mới có thể bán nhiều được.
Bánh Đậu
Chắc nhiều bạn đọc còn nhớ cái thứ bánh
đậu Hải Dương, đã nổi tiếng, mà ngày bé,
chúng ta thường nhận được do tay bà mẹ đã
đi đâu một chuyến xa về? Cái thứ bánh đậu
khô, bột nhỏ như phấn, đóng hình vuông, có
in dấu một hai chữ triện. Thuở nhỏ, chúng
ta thích ăn thức quà ấy lắm, nhưng nếu chúng
ta mắc bệnh ho, thì không khỏi lắm lúc bực
mình. Miếng bánh vừa bỏ mồm chưa kịp nuốt,
một cơn ho đã làm bật ra ngoài như làn khói
... Mắt chỉ còn tiếc ngẩn ngơ nhìn.
Bây giờ là thứ bánh đậu Hải Dương ấy không
còn nữa. Có lẽ người ta thấy cái bất tiện
của bột khô cho các trẻ bé và cho các ông
cụ già. Ở Hà Nội, người ta làm một thứ
bánh đậu ngon hơn, đó là một thứ bánh đậu
ướt, thứ bánh đậu có mỡ. Một thứ bánh để
ăn trong khi uống chè tàu, cái vị béo ngọt
của bánh rất ăn với cái vị đắng của nước
chè.
Đó là thức bánh rất hợp dùng trong lúc
thưởng thức ấm chè ngon và tôi lấy làm tiếc
rằng sao người ta lại không nghĩ chế ra một
vài thứ bánh tương tự như thế nữa; để có
đủ bánh mà đặt ra cái lệ "chè bánh"
vào quãng năm giờ chiều, như thói tục người
Anh. Một tục lệ đáng quý, khiến một ngày
đầy đủ hơn, và sau cùng sự là bánh trái
cũng khéo léo và tinh khiến hơn. Cũng là
một công việc đáng làm, như sự khuyến khích
các mỹ thuật khác trong nước. Bánh đậu ướt
ngon nhất là bánh đậu của Hàng Bạc và Hàng
Gai. Bây giờ hai phố vẫn cạnh tranh nhau để
lấy tiếng, và thêm vào cuộc tranh giành, còn
có phố Hàng Đào và phố Hàng Đường nữa.
Nào hiệu Ích Nguyên Hàng Gai, hiệu Giu Nguyên
và Thanh Hiên Hàng Đường, ... Mỗi hiệu đều
trình bày một thứ bánh với một hương vị
riêng. Ai chiếm giải quán quân bánh đậu? Thật
là khó giải quyết. Tôi lần lượt dùng hết
chừng ấy thứ, đã ngẫm nghĩ và suy xét nhiều
về cái vị ngon trước một chén chè tầu bốc
khói. Tôi không có cái kiêu vọng bắt buộc
người khác phải theo cái quyết định của mình.
Nhưng tôi không khỏi cái sở thích riêng trong
việc đó.
Bánh đậu của Ích Nguyên thì thẳng thắn và
thực thà, mịn vì đậu ngon nguyên chất. Bánh
của Thanh Quang nhiều hương thơm vani, nhưng đường
dùng hay loạn soạn, của Giu Nguyên thì ướt
vì nhiều mỡ quá; của Cự Hương thì nhạt vị,
của Việt Hương thì dẻo quá; tựa như đậu trắng,
của Ngọc Anh thì hơi khô khan, của Thanh Hiên
thì hơi cứng mình ... Kể về vị ngon, thì
mỗi thứ của một hiệu đều có một đặc sắc
riêng, đủ để cho người ta chuộng. Nhưng tôi
thì ưa thích thứ bánh đậu của Hàng Gai hơn,
vì giản dị và mộc mạc. Đậu thì nguyên chất
đậu, và hương thơm cũng chỉ là hương riêng
của bột đậu xanh. Cho nên bỏ vào mồm thì
tan đều, ăn ngẫm nghĩ rồi mới thấy béo, suy
xét rồi mới thấy thơm. Cái ông cụ già làm
bánh ở hiệu đó có nói chuyện rằng: trước
kia, vì theo thời, ông cũng cho thêmhương vani
vào bánh. Nhưng các khách hàng quen, trong
số đó có vài ông khách hàng già ở ngoại
ô, đều yêu cầu nên giữ nguyên hương vị đậu
xanh như xưa, và nhà hàng từ đó cứ theo như
thế. Đấy thật là một ý kiến hay
Bánh Khảo, Kẹo Lạc
Về bánh khảo, hoặc nhân hạt sen, đậu sen
hay đậu xanh, thì hiệu Cự Hương là nhất. Ngày
trước, hiệu Ngọc Anh có tiếng khắp kẻ chợ
thôn quê; như từ ngày Cự Hương ở tỉnh Đông
dồn lên, thì ngôi bá chủ đã thay người. Trong
khi Cự Hương mỗi ngày một tiến bộ trong cách
tìm tòi khiến cho bột bánh được mềm dẻo,
nhân đậu được nhuyễn trong, và cách trình
bày được sạch sẽ tinh thơm, thì Ngọc Anh nằm
ngủ trên cái danh vọng cũ của mình, uể ỏai
bán hàng cho khách. Hiệu đó hình như giàu
rồi mà lại ... Mà người Việt Nam mình phần
nhiều giàu có rồi thì không hay cố nữa. (Đó
là cái tật chung của người mình, khiến cho
không có một công cụ nào được phát đạt lâu
dài, cả từ trong cách buôn bán cho đến những
công nghệ khác). Thế mà Ngọc Anh còn thứ
kẹo lạc ngon, ngon vì mùi vani cho vừa phải,
vì cái rải vừng vừa chín không hăng sống
và cũng không khét cháy, và nhất là đường
của kẹo không dính răng ... Cái ngon đó tôi
cho cũng là một sự tình cờ, ngay chính nhà
hàng bán có lẽ cũng không biết rằng hàng
của mình ngon hơn hàng khác. Vì ta thử vào
mua ở hiệu đó mà xem; chẳng có ai săn đón
mời chào khách, nhà hàng thản nhiên và dửng
dưng như không cần bán, mua hay không, đều tỏ
ý không cần. Nếu ta giục lắm, bấy giờ mới
có hai cậu nhỏ quần vải, áo nâu, quệt tay
vào tà áo, rồi thò vào lọ bốc kẹo, gói
vào mảnh nhật trình cũ, nếu ta mua có năm
xu hay một hào. Ấy là hồi giấy còn rẻ, chứ
bây giờ ...
Thật là đàng tiếc. Ồ, sao sự cố gắng ở
nước này không được lâu bền nhỉ? Hiệu Cự
Hương phát đạt một độ, giờ xem ra hình như
cũng đã có những triệu chứng tuy chưa rõ
rệt của một sự mệt mỏi, chểnh mảng rồi.
Mà tài làm bánh của người mình không phải
là kém cỏi. Cái thứ bánh dẻo Trung thu của
Cự Hương không kém gì bánh của Tàu, và các
thứ bánh kem của Việt Hương không thua gì bánh
của Tây. Ta chỉ còn thua cái chí, cái cố
gắng nữa mà thôi: nghĩa là còn thua nhiều,
nhiều lắm.
Cho nên ngày tết Trung thu, thấy người Việt
Nam xô nhau đến mua bánh nướng của đông Hưng
Viên, chen đẩy nhau như họp chợ, và chịu khó
chờ đợi hàng giờ, nghe những câu vô lễ và
nhìn cái vẻ không cần của mấy chú bán hàng,
chúng ta chớ nên lấy làm lạ vội. Người Việt
Nam mình nghĩa là ông với tôi nhẫn nhục và
kiên nhẫn cũng nhiều lắm.
Một Thứ Quà Của Lúa Non: Cốm
Cơn gió mùa thu hạ lướt qua vùng sen trên hồ,
nhuần thấm cái hương thơm của lá, như báo
trước mùa về của một thức quà thanh nhã
và tinh khiết. Các bạn ngửi thấy, khi đi qua
những cánh đồng xanh, mà hạt thóc nếp đầu
tiên làm trĩu thân lúa còn tươi, ngửi thấy
cái mùi thơm mát của bông lúa non không? trong
cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm,
phản phất hươnh vị mùi hoa cỏ. Dưới ánh nắng,
giọt sữa dần dần đông lại, bông lúc càng
ngày càng cong xuống, nặng vì cái chất quý
trong sạch của Trời.
Đợi đến lúc vừa nhất, mà chỉ riêng những
người chuyên môn mới định được,người ta gặt
mang về. Rồi đến một loạt cách chế biến,
những cách thức làm, truyền tự đời này sang
đời khác, một sự bí mật trân trọng và khe
khắt giữ gìn, các cô gái Vòng làm ra thứ
cốm dẻo và thơm ấy. Tất nhiên là nhiều nơi
cũng biết cách thức làm cốm, nhưng không có
đâu làm được cốm dẻo, thơm và ngon được ở
làng Vòng, gần Hà Nội. Tiếng cốm Vòng đã
lan khắp tất cả ba kỳ, và đến mùa cốm, các
người ở Hà Nội 36 phố phường vẫn thường
ngóng trông cô hàng cốm xinh xinh, áo quần
gọn ghẽ, với cái dấu hiệu đặc biệt là cái
đòn gánh hai đầu cong vút lên như chiếc thuyền
rồng ...
Cốm là thức quà đặc biệt riêng của đất
nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa
bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái
mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng
quê nội cỏ Việt Nam. Ai nghĩ đầu tiên dùng
cốm để làm quà siêu tết? Không có gì hợp
hơn với sự vương vít của tơ hồng, thức quà
trong sạch, trung thành như các việc lễ nghi.
Hồng cốm tốt đôi ... Và không bao giờ có hai
màu lại hòa hợp hơn nữa: màu xanh tươi của
cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của
hồng như ngọc lựu già. Một thứ thanh đạm,
một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để
hạnh phúc được lâu bền. (Thật đáng tiếc khi
chúng ta thấy những tục lệ tốt đẹp ấy mất
dần, và những thức quý của đất mình thay
dần bằng những thức bóng bẩy hào nháng và
thô kệch bắt chước nước ngoài: những kẻ mới
giàu vô học có biết đâu thưởng thức được
những vẻ cao quý kín đáo và nhũn nhặn?).
Cốm không phải là thức quà của người vội;
ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và
ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại
cả trong hương vị ấy, cái mùi thơm phức của
lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu
xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và
trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh
đạm của loài thảo mộc. Thêm vào cái mùi
hơi ngát của lá sen già, ướp lấy từng hạt
cốm một, còn giữ lại cái ấm áp của những
ngày mùa hạ trên hồ. Chúng ta có thể nói
rằng trời sinh lá sen để bao bọc cốm, cũng
như trời sinh cốm nằm ủ tronglá sen, chúng
ta thấy hiện ra từng lá cốm, sạch sẽ và
tinh khiết, không có mảy may chút bụi nào.
Hỡi các bà mua hàng! Chớ có thọc tay mân
mê thức quà thần tiên ấy, hãy nhẹ nhàng mà
nâng đỡ, chút chiu mà vuốt ve ... Phải nên
kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo léo
của người, và sự cố tiềm tàng và nhẫn nại
của thần lúa. Sự thưởng thức của các bà
sẽ được trang nhã và đẹp đẽ hơn và cái vui
cũng sẽ tươi sáng hơn nhiều lắm.
Cốm để nguyên chất ăn bao giờ cũng ngon và
nhiều vị. Tất cả những cách thức đem nấu
khác chỉ làm cho thức quà ấy bớt mùi thơm
và chất dẻo đi thôi. Tuy vậy, nhiều người
ưa cái thứ cốm xào, thắng đường rất quánh.
Thành ra một thứ quà ngọt sắc và dính răng.
Như vậy tưởng mua bánh cốm mà ăn lại còn
thú vị hơn. Ở Hà Nội, người ta còn làm một
thứ chả cốm, nhưng cái thanh đạm của vị lúa
không dễ ăn với cái béo tục của thịt, mỡ.
Tôi thích hơn thứ chè cốm, nấu vừa đường
và không đặc. Ít ra ở đây cốm cũng còn giữ
được chút ít vị thơm và chất dẻo, và chè
cốm ăn cũng mát và lạnh. Nhưng cũng chắng
gì hơn là một lá cốm Vòng tươi sạch trong
một chiếc lá sen mới hái về.
Quà ... Tức Là Người
Chúng ta đã lần lượt điểm qua các thức quà
rong ở Hà Nội, cả quà ngọt như đường mía
lẫn quà nặm như muối Trương Lẫm. Tất cả những
thứ quà đó chứng tỏ cái thay đổi lắm màu
của sự thưởng thức của người Hà Nội, cái
phong phú và cái tế nhị vô cùng. Có cả một
chút ưa thích cái quá nóng, cái rờn rợn,
thế nào nhỉ? Cả một chút tà hiếu nữa. Ớt
thì thích ớt rất cay, cà cuống thì rất hăng,
chanh thì ưa thứ chanh non cốm. Trong cái chua
dấm dứt của nước bún ốc, trong cái béo ngậy
ngọt của thịt lươn, trong cái vị khai nồng
của sứa đỏ, biết đón hưởng cái thú mình
làm ghê mình, như ăn chua với gừng, khế dấm
với nước mắm, chứ không thẳng thắn, không
thật thà như quà mộc mạc và giản dị các
nơi làm bằng gạo mới, đỗ nành những món
quà lương thiện không đánh lừa vị miệng và
dạ dày. Những người của Hà Nội ba mươi sáu
phố phường phức tạp hơn, và đáng yêu hơn cùng
vì chỗ ấy.
Ngày trước, ngày tôi còn nhỏ, đã được thưởng
thức một thứ quà rong đặc biệt gọi là bánh
bật cười. Gói quà phong giấy tựa như phong
thuốc lào, nhưng phồng hơn. Giá cũng rẻ; có
một xu hai phong. Kẻ bán hàng là một người
có tuổi, mất sắc và miệng tươi, đon đả mời
chào các cậu bé ở trường về hay thơ thẩn
chơi ở vệ hè. Ấy hình dung người đàn bà
ấy tôi chỉ có nhớ được có thế, vì không
ai được trông thấy người ấy hai lần.
Xin mãi mới được đồng xu mới, tôi vội vàng
và hí hửng ra mua thứ bánh lạ lùng ấy. Đem
về mở ra khoe với mẹ, thì chỉ thấy bay ra
...hai con ruồi. Nó bay đi mất. Tôi ôm mặt khóc,
còn cả nhà thì nổi lên cười. Nhưng tưởng
mất một xu mua được một trận cười (tuy cười
mình) tưởng cũng là không đắt và con mụ kia
thật đáng thưởng tiền vì đã biết đánh trúng
vào các lòng ham lạ của trẻ con Hà Nội.
Nhưng cái tục lệ đẹp đẽ ấy nay mất dần
đi ... Sự sành ăn và cái thưởng thức của
người nơi văn vật đã kém sắc sảo, ý nhị
rồi chăng? Có thể mới ra đời được những thứ
phục linh cấu xanh đỏ và nhây nhớt, những
thứ kem "Việt Nam" và "Hải Phòng"
và "Thượng Hải" và trăm thứ bà dằn
vừa nhạt vừa tanh, cái thứ ghê gớm "chè
trân châu! glacé"; còn có thứ kẹo rắn
như đá núi Cai Kinh của chú Khách đập hai
thỏi sắt vào nhau làm hiệu, cái thú thịt
bò khô với củ cải (hay đu đủ?) đầm đậm, chế
thêm ít phẩm đỏ, một thứ quà bẩn thỉu và
độc vô cùng mà các học trò Hà Nội hay ưa
thích ... Tôi còn tha hơn cái thứ "kẹo
vừng, kẹo bột" ngày xưa tuy nó không ngon,
nhưng ít ra cũng đem lại cho phố phường Hà
Nội cái tiếng rao kéo dài và hơi buồn của
lũ trẻ bán hàng.
Vài Thứ Chuyên Môn Nữa
Chút nữa thì tôi đi hết những thứ quà đặc
biệt của Hà Nội mà không nói đến cái bánh
tôm nóng, đã là sở ước và thú vị của suốt
một đời học sinh. Lúc bấy giờ đương là mùa
rét. Gió lạnh bấc thổi vi vu qua khe cửa nhà
trường, làm thâm tím môi và cóng tay vài chục
cậu học trò trong lớp. Càng sung sướng biết
bao khi ra ngoài cổng trường, ngồi xúm quanh
cái chảo mỡ nóng của bác hàng bánh tôm bốc
hơi trên ngọn lửa ... Rồi hồi hộp chờ đợi
bác đong cái đĩa bột trắng, để lên trên hai
ba con tôm khô, điểm thêm mấy nhát khoai thái
nhỏ, và dúng vào mỡ sèo sèo ...
Ruột hơi se lại trước, chúng tôi nhìn cái
bánh bột vàng dần, vàng dần co tôm co lại,
nhát khoai nở ra, và cái bánh hơi cong lên
như nóng nảy muốn nằm ra đĩa. Một mùi thơm
ngấy tỏa nhẹ lên không khí, mà chúng tôi hút
một cách khoan khoái cùng với cơn gió lạnh
phía Bắc về ... Chiếc kéo của bà bán hàng
thoăn thoắt cắt nhỏ ra từng miếng. Chúng tôi
không kịp so đũa, đã hỏi bác rót nước chấm
có dấm chua và ớt bột thât cay. Và chúng
tôi ăn trong lúc bánh còn nóng hôi hổi, bỏng
cả miệng, cả môi, cả lưỡi chảy nước mắt
vì ớt xông vào cổ họng, xuýt xoa cho vị bánh
đượm lâu. Ngon biết chừng nào!
Cái hăng hái, ngốn ngấu ấy, bây giờ không
còn nữa, và dẫu ta có muốn cũng không trở
lại nào. Mỗi tuổi có một cái thích khác
nhau (và không ít gì lấy ở đây ra những điều
triết lý).
Cái vị bánh tôm mạnh mẽ bao nhiêu thì cứ
bánh sau đây lại dịu dàng bấy nhiêu. Tôi muốn
nói thứ "bánh bò chê" trắng như sữa
và nhẹ như bông ... Không phải là thứ bánh
của người bán hàng nào, nhất là không phải
của các người bán hàng Việt Nam, chỉ đem
ra những cái bánh vừa nặng bột vừa chua (Một
lần nữa tôi nhận thấu cái kém của mình).
Như là thứ bánh bò của một chú Khách người
tầm thước, nếu không hơi lùn; chú chỉ quanh
quẩn trong mấy phố gần trung tâm Hà Nội: Hàng
Bè, Gia Ngư, Hàng Bạc, Hàng Buồm ...Với một
thứ tiếng rao riêng. Bánh chú bán hai xu một
chiếc: đó là bánh hình tròn, to bằng cái
đãi chén chè, và phồng hai bên tựa như chiếc
bánh đúc nhà quê.
Hình như người khách mới biết cái thuật
cho bột được nhẹ, và sốp, bằng cách men.
Cho nên chiếc bánh bò chê của chú khách trên
kia ăn rất nhẹ nhàng, với một cảm tưởng rất
dễ tiêu, vì bánh hơi ngon ngọt, thơm ngon, bột
dẻo và bông như sợi tơ. Có thể cắn một miếng
to, nhưng rút lại vẫn vừa miệng, và đủ nóng
bốc hơi để tỏa ra cái mùi gạo mới. Kể là
một thứ quà điểm tâm buổi sáng thì rất hợp,
rất thanh.
Tiện đây, tôi nhắc đến thứ cháo hoa buổi
sớm cũng có người Khách bán. Thứ cháo tên
là "bạc chúc", gạo nhỏ biến và
mịn như nhung, thỉnh thỏang lại điểm cái vị
thơm mát của ý dĩ, và cái vị bùi của thảo
quả. Hoặc ăn cháo không, hoặc ăn cháo với
"dâu chặc quây", một thứ bánh bột
mì rán vàng và phồng, mà cái béo ngấy và
sự ròn tan ra hòa hợp rất kín đáo và rất
mỹ thuật với cháo loãng. Trong thức quà buổi
sớm đó, có một cái nhỏ nhắn, tế nhị, và
thanh tao; chỉ những người nào sau một đêm
mệt nhọc, đương háo hức, mới thưởng thức
được hết.
Cũng một hàng bánh làm bằng bột có men
ấy, còn có một thứ đặc biệt, mà người Khách
rao là "chê cà cô", và người mình
gọi nôm na là "bánh bò tàu" (lại
Tàu". Phải, nó là thư bánh bò Tàu chứ
không phải bò Tây, hay bò ta. Và thế nó ngon
hơn nhiều lắm).
Cái thứ bánh ấy, lúc hấp gần chín, thì
chất men bốc hơi. Những bong bóng rất nhỏ,
và rất nhiều, từ dưới đáy đi vút lên, rồi
vở ra ở trên mảng bột. Thành thử cái mặt
bánh ấy có một hình thù kỳ lạ, lỗ chỗ
như rỗ hoa; và thân bánh rất xốp, từng sợi
ghép vào nhau, óng ánh như nhũ thách trong
một cái động đá hoa. Bánh vừa dẻo vừa ròn,
trong cái ngọt lại thỏang cái hương vị chua,
nên ăn một miếng lại muốn ăn miếng nữa.
Tuy là thứ bánh của người Tàu, nhưng chừng
không phải bất cứ người Tầu nào cũng làm
được. Thứ bánh đó, nghe đâu ở Hà Nội chỉ
có một nhà chuyên môn làm, và bán cất cho
những người đi bán hàng rong. Tôi ước ao rằng,
ở nhà đó, thứ bánh ấy sẽ do tay một thiếu
nữ Tàu inh đẹp nấu, bởi vì người đẹp mà
lại làm bánh ngon, thì đến trời cũng không
nhịn đừng ăn được.
- Thế là gần hết các thứ quà của Hà Nội.
Tôi nói gần hết bởi vì cũng còn nhiều thứ
hàng ngày chúng ta vẫn nghe rao, mà ở đây
không nói đến. Phần thường, tôi chỉ chú ý
đến những thức quà vĩnh viễn, mà có chút
gì đặc biệt, đáng yêu. Vì có nhiều thức
quà, tựa như sao băng vút qua bầu trời mùa
hạ, hiện ra rồi lại mất đi, không còn dấu
vết gì để lại. Cái đời ngắn ngủi ấy, duyên
cớ ở chỗ các thức đó chỉ hợp với cái thị
hiếu một thời: không phải chỉ ở trong y phục,
trong trang sức hay trong văn chương, mới có
những cái "mốt", những cái đua đòi
mà thôi. Cả đến trong việc ăn uống cũng vậy.
Người ta theo nhau ăn thức quà này, cũng như
người ta theo nhau mặc kiểu áo kia. Và chỉ
có những thức quà nào có những hương vị
chắc chắn và phong phú, mới có thể bền lâu
được. Cũng như một cuốn tiểu thuyết, nếu
không có cái hay tiềm tàng, mà mỗi ngày một
tỏ ra mới lạ, thì chỉ được hoan nghênh nhất
thời, hoặc dài hay ngắn. Sự bất tử ở văn
chương và ở thực phẩm thật có giống nhau.
Xét những thức quà của ta, thực có nhiều
thứ quà ngon, mùi vị rất dồi dào. Phần nhiều
là thức quà có từ xưa, đã có nề nếp, có
quy củ hẳn hoi, và mang trong hương vị cái
mùi ngon đằm thắm của đất nước nhà. Sản
phẩm của đồng ruộng, của núi sông, những
thứ quà ấy là dấu hiệu sự thưởng thức của
người mình, vừatao nhã lại vừa chân thật.
Từ ông cụ đồ nho khẽ nhắp rượu để ngẫm nghĩ
về cái vị ngon, đến bậc mệnh phụ nhà gia
thế, từ trong buồng the kín đáo và nghiêm
cẩn, truyền bảo cho cô gái tơ những bí mật
của cách đổ bột, pha đường.
Đó là những vật quý mà sự mất đi, nếu
xảy đến, sẽ khiến người sành ăn ngậm ngùi.
Người mình ham thanh chuộng lạ, đã bắt đầu
khinh rẻ những thứ đáng yêu ấy, có cái ngon
mà họ đã quên mùi vị. Một đằng khác, không
ai chịu để ý và hết sức làm cho mỗi ngày
một hoàn hảo hơn lên, cải cách cho hợp với
thời mới. Những cái gia truyền dần dần mất
đi, những cái khéo léo không còn giữ được.
Chúng ta đã khinh bỉ cái ăn, cái uống quá,
tuy không tự thú rằng những cái đó là cần,
rằng tự mình vẫn thích. Giờ đến lúc phải
nên thẳng thắn, và thành thực: Trọng cái
mình yêu và công nhận cái mình thích.
Những Chốn Ăn Chơi
Muốn biết rõ một thành phố, không cần phải
biết những lâu đài mỹ thuật, những nhà bảo
tàng, những tờ báo hay những nhà văn, nhưng
cần phải biết những chốn mà dân thành phố
ấy ăn chơi. Ăn và chơi, phải, đó là hai điều
hành động màtrong ấy người ta tỏ rõ cái
tâm tình, cái linh hồn mình một cách chân
thực nhất.
Với lại đó không phải là hai cái hành động
cốt yếu của đời ư? Trong sự ăn chơi, có cả
dấu hiệu của dân thành thị, cả những tật
xấu hay nết hay, những cái yếu hèn cũng những
cái kiêu ngạo.
Biết ăn và biết chơi, không phải là dễ dàng
như người ta tưởng. Và chính bởi từ xưa đến
nay, sự ăn chơi ở nước ta bị khinh miệt, bị
dè bỉu, nhưng người ta vẫn cứ phải chịu theo
luật lệ chặt chẽ, nên cách ăn, chơi của người
mình mới luộm thuộm, và cẩu thả, và tục
tằn, rồi ngược lại, có một ảnh hưởng xấu
xa đến tất cả cuộc đời, cả xã hội.
Ồ, nhưng mà từ nãy đến giờ tôi nói được
những gì nhỉ? Thôi, vứt bỏ quách những lời
bàn phiếm, những tư tưởng khó khăn ấy đi.
Chúng ta hãy để ý quan sát bọn người ngồi
ăn trong hiệu kia, nhận xét những cử chỉ,
những nét mặt, và những tiếng cười của họ.
Một cách cầm đũa, một cách đưa lên húp canh,
bảo cho ta biết nhiều về một hạng người hơn
là trăm pho sách. Và nhất là những thức mà
họ ăn ...Bảo cho tôi biết ăn gì, tôi sẽ nói
anh là người thế nào.
Hà Nội là động tiên nga,
Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần,
Vui nhất là chợ Đông Xuân.
Trước khi nói đến những nơi ăn chơi của Hà
Nội, tưởng cũng như dạo qua chợ Đồng Xuân,
cái "bụng" của thành phố,là nơi
mà những vật liệu cần cho các cao lâu từ
các vùng quê và ngoại ồ đến. Ở đây, chúng
ta được thấy các thực phẩm còn giữ nguyên
hình trước khi biến thành những món xào nấu
ngon lành dưới tay các đầu bếp nổi danh hay
các bà nội trợ. Tất cả của ngon vật lạ
các nơi đều đem đến đây, để hiến cho sự thưởng
thức sành sỏi của người Hà Nội.
Có lẽ tìm được nhiều cái hay, nếu chịu
khó tính xem dân Hà Nội một ngày tiêu thụ
bao nhiêu thứ, bao nhiêu thịt. Nhưng ở đây không
phải là cuộc điều tra, cũng không phải là
một bài phóng sự. Cho nên, nói đến chợ Đồng
Xuân, tôi muốn trình bày cái hình thức khác,
cái vẻ riêng tất nập, cái không khí ồn ào,
cái màu sắc đặc biệt, hơn là tính cách cùng
xấu tốt của các thức ăn kia. Chợ Đồng Xuân
là chợ của người Hà Nội, không giống các
chợ nhà quê, mà cũng không giống các chợ
Bến Thành Sài Gòn, hay Chợ Mới ở Chợ Lớn.
Bạn haÜng vào trong chợ một ngày phiên, và
đề mắt ngắm nhìn cùng nhận xét; từ người
buôn kẻ bán, cho đến những người mua; từ bác
bồi bếp, cậu nhỏ, cô sen, cho đến các bà
sành sỏi hay các cô thiếu nữ rụt rè sợ hớ,
tất cả chừng ấy người hoạt động trước mắt
ta, hìng dáng phức tạp và thu nhỏ lại của
xã hội người Phường Phố. Không có bức tranh
nào linh hoạt và thắm màu hơn.
Chợ Mát Ban Đêm
Ngày phiên chính thì chợ bắt đầu họp từ
ba giờ khuya.
Không phải là họp ở trong, nhưng là họp ở
ngoài cổng, ngay giữa đường, do những người,
tuy có thức hàng bán, mà có lẽ không bước
chân vào chợ ngày nào.
Hai ba giờ đêm, khi các đường phố của Hà
Nội đã trở lại yên tĩnh và vắng lặng, sau
khi cái hoạt động cuối cùng của những người
đi xem hát hay đi coi chớp ảnh về, thì phía
các ngoại ô, từng tốp một, các người trồng
hay bán "la gim" bắt đầu đem hàng
của họ vào. Những gánh hàng nặng trĩu và
kẽo kẹt trên vai theo cái đưa đẩy có nhịp
của buớc đi, những người ấy vội vàng và
yên lặng, không nói một lời nào. Họ không
có thì giờ. Có khi từ nơi cách xa Hà Nội
bốn, năm cây số, họ phải rảo bước đến kịp;
và cứ trông cái thân người uốn cong dưới ganh
nặng, chúng ta biết ngay những người cần lao
và chịu khó, quen đi với những côn việc nhọc
nhằn, và nhẫn nại,ít nói trên mẩu đất. Thỉnh
thỏang, vài nhà khá giả hơn tương đối mang
hàng đi trên những chiếc xe tay bánh gỗ ngày
xưa, cũ kỹ và tơ tả, lộc cộc lạch cạch theo
bước chân của một anh nhỏ kéo, gầy gò và
áo rách vai.
Những mớ rau tươi mới hái, còn ướt sũng
sương đem hay là nước mát, rỏ từng gọt xuống
đường thành một vệt dài. Đủ các thứ rau
và quả của những mảnh vườn phì nhiêu và
chăm bón ở chung quanh Hà Nội; những củ xu
hào tròn lớn và màu như ngọc thạch, những
củ cải đỏ thắm như máu tươi, những củ cà
rốt vàng thắm như màu da cam, nằm cạnh những
quả cà giái bóng và tím như men tầu, những
quả xu xu xanh ngắt, những củ radis phớt hồng
và xinh xắn, mà người ta đoán sẽ ròn tan
dưới hàm răng và những thức sau, mà cái vẻ
mặt tươi xanh tốt trông dịu mát và đỡ khát
cho thân thể; những mớ tỏi tây xếp thành chồng
cao, những bắp "sà lách" chắc chắn
và quấn quýt, những bông "cải hoa"
mềmmại và ngon lành, bên các mớ cần hay muống
mượt tươi, khiến ta nghĩ những đến ao xanh
rờn như tấm thảm ở thôn quê.
Họ gánh hàng đến và bày ra trước chợ, ngay
trên đường nhựa để đợi các người đến mua
buôn. Dưới ánh sáng đèn điện, và trong luồng
gió thỏang đêm khuya, đấy là một phiên chợ
của cái mát mẻ, non tươi, "phiên chợ xanh"
của cả Hà Nội họp mà người Hà Nội không
biết. Những thức hàng mỏng manh ấy không thể
đợi ánh sáng gay gắt của ban ngày để mà
héo úa, nên trước khi trời sáng, trước khi
phiên chợ chính thức bắt đầu họp dưới mái
tôn, thì phiên chợ xanh đã tàn. Những người
bán lại quang gánh không, đi trở ra các ngoại
ô, và những chiếc xe gỗ cũ kỹ lại lộc cộc
dắt về các đuờng đất quanh thành phố.
Bà Cụ Bán Xôi
Trong khi chợ xanh đang họp, tuy đêm khuya, mà
quang cảnh cũng không thiếu phần tấp nập.
Những người bán gọi thêm một số người mua,
cả người bán lẫn người mua lại gọi thêm một
số hàng quà. Gánh hành phở nóng trước chợ
Đông Xuân lúc ba giờ đêm cũng là gánh phở
ngon, có lẽ là trong không khí mát và lặng
ban đêm, mùi phở thom quyến rũ người ta hơn.
Rồi hàng xôi, hàng bánh cuốn nóng, hàng bánh
tây chả, vân vân, cũng tụ họp nhau để lập
thành cho đầy đủ một dãy quà ngon, nhiều
hương vị.
Nhưng các hàng quà đó chỉ có bán những
buổi phiên chợ mà thôi. Ngoài ra, có một hàng
quà bánh ban đêm, dù phiên chợ xanh có họp
hay không. Vì trước chợ Đông Xuân bao giờ cũng
lâm vào cảnh vắng lặng và tịch mịch. Bao
giờ cũng có người một vài thầy đội xếp
đến "tua" đi tuần đêm, một vài người
thích chơi khuya, hoặc ở các rạp hát hay nhà
chớp bóng về, còn vui chân lang thang mãi trên
các vỉa hè Hà Nội để nghe tiếng gót giày
của mình vang động; hoặc ở cao lâu ra, muốn
đi hóng mát cho tiêu, hoặc ở các tiệm thuốc
phiện ra cái này thì phần nhiều đã có một
vài điệu chếnh choáng trong chân, muốn đi đây,
đó, không mục đích, không cần nghĩ trở về,
và thấy đời lúc ấy dung dị dễ chịu và tàm
tạm sống được ...
Muốn thức quà no, thì lại hàng xôi, cơm của
bà cụ phố Hàng Khoai. Bà dọn hàng trước
cửa chợ đã từ lâu lắm, không biết đã mấy
năm rồi, và chỉ dọn từ lúc chín, mười giờ
tối trở đi cho đến sáng. Bà bán đủ các thứ
xôi xôi vò, ăn bùi và béo, xôi đỗ ăn đậm vị,
xôi lạc ăn vừa miệng, đôi khi cả xôi gấc đỏ
tươi, lúc xới ra, khói bốc thơm phức ... Ăn
với những miếng đậu thái vuông to, rán phồng
(tuy rất ít mỡ) và muối saÜn sàng; hay những
miếng chả trâu không ngon lành lắm người nghèo
có kỳ quản đâu! Đã lâu, bà có làm một thứ
giò sỏ, mỡ ròn và mộc nhĩ, ăn cũng thú
vị.
Khi nào đồ chừng khách hàng đã ngấy rồi,
thì bà rán cả cơm, với cái riếc rán, với
trứng gà "ôm lét" (mà tôi ngờ là
trứng vịt!) với vó bò hay giò lợn, và cả
một nồi mọc đông quánh như keo sơn, béo ngậy
như thịt đông.
Ở đây, không có gì đáng quyến rũ một người
sàng thưởng thức, quả vậy. Nhưng phải trông
các bác xe, các người phu ngồi ăn, mới hiểu
cái ngon lành có thể đến bậc nào!
Nhắp một vài chén rượu, thong thả gặm một
mảnh vó bò may có dính nhiều thịt, vo tròn
nắm xôi trong tay trước khi đưa lên miệng, họ
cáo cái sung sướng của nhà nghệ sĩ thưởng
thức án văn hay, (có lẽ họ là những nghệ
sĩ không biết). Mà nếu hôm ấy buổi xe lại
có lãi, thừa được vài hào, thì cái thú
của họ thực là vô cùng tận.
Cho nên quanh mẹt hàng của bà cụ phố Hàng
Khoai, bao giờ cũng vây một hai vòng người.
Thỉnh thỏang chúng tađược thấy một vài nhân
vật lạ; một vài người không biết ở đâu, và
sống bằng cách gì, gầy gò và rách rưới,
nhưng quần áo rách là những thứ sang trọng
trước kia. Nhìn kỹ thì biết là những người
nghiện; lắm người nghèo có kỳ quản đâu! Đã
lâu, bà có phải, mà chỉ có những người nghiện
mới biết đưa tha nhường ấy, mới biết khà
hớp rượu một cách ngon lành như vậy, mới
biết đưa tay có móng đen véo đĩa xôi một cách
chắc chiu thế kia; họ tính từng xu, thêm bớt
từng tí mỡ, và mặc cả từng khoanh giò; nhưng
cái nhắm nhía, cái lờ đờ mắt ngẫm nghĩ
đến vị miệng ăn, đủ tỏ một tâm hồn cảm giác
không thường, cùng với một sự từng trải đã
qua nhiều đau đớn.
Cái ngon ấy cũng dễ lây lắm. Cả đến chính
bà hàng cũng theo được cái nên thưởng thức.
Những lúc vắng khách, bà cũng rót một chén
rượu to để cạnh, và thong thả tự nhắm những
thức ăn chính tay mình làm ra. Có lẽ bà tự
lấy làm bằng lòng: vì mắt bà lâu dần mờ
say đi, tay bà dính thêm nhiều mỡ, và bên thúng
thêm một đống xương con ... Ít ra ở đâu mà
được người bán cùng với mua cùng là tri kỷ,
hiểu các vị một cách thấu náo như thế, và
cùng bàn chuyện về xôi, giò chả và với cái
dễ dàng thân mật của những người kính phục
lẫn nhau. Ở đâu, nếu không ở chốn Hà Nội
ba mươi sáu phố phường.
Giờ ăn đã no rồi, rượu đã làm cháy khô cuống
họng. Còn gì bằng một chén nước chè nóng,
một lá trầu tươi, một điếu thuốc lào ở cái
điếu rõ kêu? Vậy xin mời các ông sang bên "Hàng
nước cô Dần".
Hàng Nước Cô Dần
Cô Dần là một thiếu nữ hãy còn trẻ, cứ
nghe tên cô thì đủ biết (cái lối đặt tên của
cổ nhân ta nghĩ cũng thẳng thắn và thực thà
mang cái tuổi trong tên mình, không cần giấu
giếm). Tuy vậy cô là một thiếu nữ đãm đang.
Một mình cô trông nom cái cửa hàng nước ở
trước chợ Đông Xuân, bên cạnh bà cô bán hàng
xôi, và cũng như bà, cô bán hàng từ chín
giờ tối, suốt đêm cho tới sáng.
Cửa hàng của cô cũng không có gì: một vài
miếng trầu, một vài phong thuốc lào, một
bao thuốc lá bán lẻ, vài cái bát uống nước,
như cái bát uống nước ở tất cả các hàng
nước Việt Nam, đặt úp xuống mặt chõng. Nhưng
hàng cô Dần có một chút đặt biệc hơn: cô
không bán nước vối hay nước chè tươi. Cô bán
nước chè, tôi cũng không biết chè mạn hay
chè hột, chỉ biết là một thứ chè cũng dễ
uống. Và có lẽ bán cho người ở đất "văn
minh", nên cô bán nước chè uống sôi, dù
trời rét hay trời nóng, mùa đông hay mùa hạ.
Ấm chè bọc cái áo gai rất cẩn thận, dựng
bên một cái hỏa lò than cũng hồng, mang một
ấm nước bao giờ cũng reo sôi.
Ai uống nước đường thì có cốc thủy tinh,
một xu một cốc. Cô múc vào cốc một thìa
đường, tuy đường đắt mà xem ra cô cũng múc
nới tay lắm. Nghiêng bình chè rót đầy cốc,
vừa đưa lên cho khách với cái nhìn của đôi
mắt nhỏ, lanh lẹ, hai con người đen bóng loáng,
như hai con mắt của một con vật non nào.
Ăn cơm, uống rượu xong mà được một cốc nước
chè được rất nóng thì ai chả thích. Nên hàng
cô Dần đông khách lắm, có khi cô trở tay bán
không kịp. Kẻ đứng, người ngồi xúm vòng quanh,
nhưng ngồi xổm mà thôi, vì hàng nước ấy lại
còn có cái đặc biệt khác nữa là không có
ghế ngồi. Những bác phu xe đặt nón, lần túi
lấy một điếu thuốc lào, vài thầy đội xếp
uống chè từng ngụm nhỏ trên xe đạp gác ở
hè với vài khác hàng áo ngắn, còn trẻ tuổi,
hay điểm thêm vào vị nước một vài câu bông
đùa nhè nhẹ đối với cô hàng. Thỉnh thỏang,
một bác phu già, rụt rè thầm khẽ bên tai
cô hàng nước, hoặc trả tạm một vài xu ở
món nợ còn lại, hoặc nằn nì xin chịu nữa.
Cô hàng díu đôi lông mày nhỏ lại một chút,
nhưng cô dễ tính, rồi cũng bắng lòng.
Một hàng nước đắt hàng vì các thức quà
bán đã đành, nhưng đôi khi cũng đắt khách
vì cả cô hàng. Cô hàng nước Việt Nam dù ở
dưới bóng đa, bên ruộng lúa, hay ở dưới mái
hiên của đường phố, ở đâu cũng vậy, miệng
cười tươi của cô hàng là dây liên lạc khắp
cả mọi người. Cô hàng nước Việt Nam, từ xưa
đến nay đã chiếm một địa vị quan hệ trong
lịch sử, và trong văn chương: đã có nhiều
tiểu thuyết bắt đầu ở một hàng nước và
kết cục cũng ở đấy.
Ồ, nhưng mà chúng ta hãy trở lại cô hàng
nước của ba mươi sáu phố phường. Cô nhũn nhặc
lắm: cô mặc cái áo tứ thân nâu cũ, giản dị
và đảm đang như các cô gái Việt Nam. Trong
mấy ngày Tết, người ta mới thấy cô khoác
cái áo mới hơn một chút, vấn vành khăn tròn
trặn và chặt chẽ hơn. Và dưới mái tóc đen,
lúc đó mới lấp lánh mặt đá của đôi bông
hoa vàng, bà cụ đánh cho cô năm vàng còn rẻ,
làm cái vốn riêng, chắc thế.
Cô không đẹp, chỉ xinh thôi. Và tính cô, cũng
như tuổi cô, còn trẻ con lắm. Thấy khách hàng
nói một câu bông đùa, cô đã tưởng người đó
chòng ghẹo mình, díu đôi lông mày lại, và
ngoe nguẩy cái nhìn. Khách trông thấy chỉ
cười. Nhưng cô cũng không giận ai lâu: chỉ một
lát cô lại vui tính ngay.
Một hai năm nữa, lớn lên đi lấy chồng, ai
là người thay cô trông nom ngôi hàng nước của
"Hà Nội là động tiên sa"? Cô bé em
cô, hẳn vậy, sẽ ngồi bán hàng thay chị, lại
que diêm, điếu thuốc, miếng trầu, để kéo dài
mãi mãi cái phong vi bình dânvà mộc mạc của
các cô hàng nước cùng với các cô hàng xén
kĩu kịt đi chợ Đông, chợ Đoài, là cái tinh
hoa thuần túy Việt Nam từ xửa xưa đến giờ.
Các Hiệu Cao Lâu Khách
Những chốn ăn chơi của Hà Nội là nhất Bắc
Kỳ, nhất cả Đông Dương nữa, cái đó đã rành
rành, không ai chối cãi. Nhưng chúng ta phải
buồn phiền mà nhận ra rằng những hiệu cao
lâu có danh và bền vững đều là của người
Tàu. Về cách tổ chức một chốn ăn, về danh
vọng của một ngôi hàng cơm, thật quả chúng
ta không có nề nếp, tục lệ và quy củ. Hồi
Hà Nội còn là kinh đô của vua Lê, chúa Trịnh,
chắc cũng có nhiều quán rượu tươm tất do
người mình chủ trương. Nhưng giờ vết tích
còn đâu? Cái quán rượu mà cụ Nguyễn Du, lúc
còn trẻ tuổi bắt ba, bốn người bạn uống
rượu và bàn chuyện về lũ kiêu binh, cái quán
rượu ấy chẳn hạn mà còn đến bây giờ, còn
cả bộ trường kỷ mà Nguyễn Du đã ngồi thì
hẳn là một chốn đáng cho ta trọng vọng dường
nào.
Nhưng không có cái chúng ta muốn thì đành
yêu mến cái mà chúng ta có. Mà những cái
chúng ta người của ba mươi sáu phố phường
đang có thì cũng chẳng phải là không đáng
yêu: bạn chắc đã nhiều lần thưởng thức cái
món bánh gà rán, da ròn, thịt mềm vị thơm,
của Đông Hưng Viên, hoặc một buổi chiều buồn
bã, mượn cái men say của rượu Mai Quế Lộ
sánh trong chén, để nhắm nhía cái mùi béo
của những miếng phì tản trong như thạch đen,
lẫn với cái vị cay ướt của nhát gừng muối
hoặc rót một chút Thanh Mai còn nồng cái
hương chua của những quả mơ ngàn, lên trên chiếc
bánh dừa quánh nước; hoặc gọi một bát cơm
lá sen để gửi thấy mùi thơm ngát của mùa
hạ trên hồ, bạn chắc đã thưởng thức cái
mềm béo ồ, tất cả cái thú vị của thớ thịt
và của xương ròn của món chim quay hiệu Quảng
Sinh Long hoặc màu vàng óng ánh của đĩa "gà
sì dầu"; bạn đã thưởng thức cái món
thịt bò của hiệu "nhà khách cháy"
Tự Lạc Hiên, có chú bếp béo quay và cô hàng
nhí nhảnh; tất cả các món bằng thịt bò,
sào cải làn, áp chảo, mì bò nước hay khô,
mà bao giờ thịt cũng mềm, cháy sém ngoài
mà trong vẫn sung nước ngọt. Ấy là hồi năm
ngoái, năm kia, chứ bây giờ thì chủ với tớ
ở hiệu đã chia rẽ nhau rồi ông chủ Tự Lạc
vẫn ngồi gật gật cái đầu sau quầy hàng,
mà chú bếp béo thì nghiễm nhiên trở nên một
ông chủ khác của hiệu Nam Viên, còn cô khách
nhí nhảnh ngày trước thì đã đi lấy chống
...
Ở Hàng Buồm còn hiệu Mỹ Kinh, nhưng cái
ngon về món ăn thì hình như không trú chận
ở đó; Hàng Trống có hiệu cao lâu Tử Xuyên,
Hàng Bông có Vân Nam tửu gia, Tự Hưng Lâu và
Đại Á Tế Á, hiệu sang nhất là Hà Thành;
đó là những hiệu cao lâu, cũng như các phòng
ngủ, thi nhau được mọc lên như nâm sau cái hồi
dân Trung Quốc chạy loạn sang ta. Không có gì
đáng kể, người Asia mà cái sang trọng lịch
sự cũng được người ta coi trọng ngang với
cái vị ngon, và chúng ta sẽ có nhịp trở
lại sau này.
Trở lên, đấy là tất cả những cao lâu của
người Tàu ở Hà Nội, của một giống người
có lẽ hơn ai hết đã nâng việc ẩm thực lên
mực một nghệ thuật hết sức phiền toái, tỷ
mỉ và cầu kỳ. Ngủ giường phương Tây, lấy
vợ Nhật Bản, ăn thức ăn Tàu ... Có dân vừa
thanh cao trong chén rượu hâm nóng trên tuyết,
hay trong chén trà núi Vũ Di pha vào chén
sứ men như ngọc thạch, lại vừa bề bộn thừa
mứa trong những bữatiệc đầy hàng chục món,
cầu kỳ đến bắt một giống nhái ở Hồ Nam
gẩy bụng lấy nguyên miếng mỡ để nấu nước
dùng? Thật đi từ đầu nọ đến đầu kia, dùng
hết cả cảm giác quan của linh hồn và của
thân thể.
Muốn thết bạn xa, hay đãi mộtng khách quý,
hoặc trong một dịp long trọng hay đặc biệt
nào đó, người của Hà Nội chỉ biết đưa nhau
đến một trong những hiệu cao lâu ấy. Nhưng
cũng chỉ ở những trường hợp ấy thôi; có
lẽ vì ăn luôn những thức cầu kỳ và nhiều
vị ấy chóng chán, hay cũng vì giá tiền có
đôi chút hơi cao. Còn trong những lúc thường,
lúc đi chới mát vẫn vơ, hay ở các rạp tuồng,
rạp chiếu bóng đi ra, người Hà Nội ưa đến
những chốn khác hơn; những hiệu nem, hiệu
phở, hiệu cháo lòng, nho nhỏ rải rác khắp
các phố, phần nhiều của người ta trông nom;
ở đấy, với một vài hào, họ có thể có dăm
ba món để ăn, một cút rượu Văn Điển hay cút
rượu Con Hươu, vài lá rau thơm quen thuộc để
khề khà nhắm nhía các thú đi ăn hiệu. Ở
đây, mới hội họp tất cả Hà Nội, sang cũng
như hèn, đủ các hạng người, từ ông trưởng
giả giàu có đến nhà văn sĩ nghèo nàn, trong
cái hoạt động vui vẻ của cái không khí đặc
biệt của Hà Nội. ( KHONG NHO TEN TAC GIA)

|