Di Tích

Chùa Hội Tôn: Chùa được Thiền Sư Long Thiền dựng vào thế kỷ 18 tại ấp 8, xă Quới Sơn, huyện Châu Thành. Ở điện Phật có tượng Thập Điện Minh Vương bằng đồng cao 0,70 m (2.1 ft) được đúc tại Huế thế kỷ 19. Chùa đă được trùng tu vào các năm: 1805, 1884, 1947 và 1992. Năm 1805, tôn tạo tượng Phật, pháp khí và đúc đại hồng chung (chuông lớn).

Chùa Tuyên Linh: Tọa lạc ở ấp Tân Quới Đông B, xă Minh Đức, huyện Mơ Cày, chùa được dựng vào năm 1861 và có tên là chùa Tiên Linh. Năm 1907, ḥa thượng Khánh Ḥa về trụ tŕ đă cho tu sửa lớn và năm 1924 đổi tên là chùa Tuyên Linh. Đến năm 1941, ḥa thượng tổ chức trùng tu và mở rộng chùa. Năm 1983 chùa lại được trùng tu. Từ năm 1920, ḥa thượng chùa Tuyên Linh là một trong những vị chủ xướng "phong trào chấn hưng Phật giáo" lập ra trường Phật học để đào tạo tăng ni tại đây. Chùa có pho tượng hộ pháp cao 0,70 m (2.1 ft), ngoài vườn chùa có tháp tổ.

Chùa Viên Minh: Tọa lạc ở 156, đường Nguyễn Đ́nh Chiểu, thị xă Bến Tre. Chùa được dựng từ lâu. Kiến trúc chùa hiện nay được xây dựng từ năm 1951 đến 1959. Chùa hiện đặt văn pḥng ban trị sự Phật giáo tỉnh Bến Tre. Trước khuôn viên chùa có tượng Bồ Tát Quan Thế Âm.

Mộ Nguyễn Đ́nh Chiểu: Thuộc xă An Đức, trị trấn huyện Ba Tri. Nguyễn Đ́nh Chiểu là nhà thơ yêu nước nổi tiếng của miền Nam và cả nước. Ông sinh ra tại Gia Định (nay thuộc Sài G̣n). Năm 1861, Cần Giuộc thất thủ ông về Ba Tri (Bến Tre) ở ẩn và mất tại đó. Hàng năm, vào ngày 1 tháng 7 (ngày sinh), nhân dân Ba Tri và Bến Tre thay mặt đồng bào cả nước tổ chức lễ dâng hoa tưởng niệm nhà thơ một cách trong thể.

Mộ Vơ Trường Toản: Thuộc xă Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Vơ Trường Toản là nhà nho lớn ở thế kỷ 18, có kiến thức uyên bác, chí khí thanh cao, có công đào tạo được nhiều danh sĩ cho các tỉnh Nam bộ.

Mộ Phan Thanh Giản: Ở gần mộ Vơ Trường Toản, được xây dựng bằng đá ong, trên mộ là tấm bia ghi chữ Hán.

Làng Bảo Thạnh, Quận Ba Tri: Là quê ông Phan Thanh Giản, làm quan triều Tự Đức, người đậu tiến sĩ đầu tiên trong Nam, và cũng là người yêu nước như đă nói ở trên. Các tác phẩm của ông gồm có: Du kinh, Toái Cầm, Kim Đàøi thi tập. Phần văn quốc âm có tập Lương Khê thi thảo. Ngoài ra, ông c̣n soạn chung bộ sách Khâm định thông giảm cương mục.

Quận Ba Tri: Quê bà Nguyễn Thi Xuân Khuê (c̣n gọi là Nguyễn Thị Khuê) một nhà văn nữ nổi tiếng ở Bến Tre với búùt hiệu Sương Ngọc Ánh. Bà sinh năm 1864, là con gái của cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu. Bà giỏi văn thơ từ lúc bé; lập gia đ́nh năm 24 tuổi, được một gái th́ chồng qua đời. Bà ở vậy nuôi con cho đến ngày gă con đi lấy chồng. Sau con gái bà mất sớm, để lại một cháu gái và bà đă lănh đem nuôi và lên Sài G̣n làm chủ bút tờ "Nữ Giới Chung", tờ báo đầu tiên ở miền Nam. Bà mất tháng 11 năm Canh Thân (21/12/1920). Một trong những bài văn thơ nổi tiếng của bà là Chinh Phụ Thi.

Xă Cái Mơn, Quận Đơn Nhơn: Là quê Trương Vĩnh Kư, một học giả nổi tiếng trong hậu bán thế kỷ 19. Ông mồ côi cha từ thuở ấu niên, được mẹ hết ḷng nuôi dạy. Lúc năm tuổi, theo học chữ Nho, rồi học chữ Quốc ngữ. Với tư chất thông minh, ông biết rất nhiều ngoại ngữ Hán, Pháp, Xiêm, Lào, Miên, Hy Lạp, La Tinh, Anh, Nhật, Ấn Độ... Tháng 8/1869, ông trông coi bài vở cho tờ "Gia Định báo" tờ báo Việt Ngữ đầu tiên ở nước ta, với dụng ư truyền bá Quốc ngữ, trau dồi văn chương nước nhà.

Sự nghiệp văn chương của ông rất lớn, các tác phẩm của ông có thể chia làm hai loại, phần lớn là sách giáo khoa: loại sáng tác gồm có: chuyện đời xưa, bất cượng nhớ cượng làm chi, phép lịch sự, kiếp phong trần, chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi, sách dạy Quốc ngữ, sách dạy chữ Nho..., và rất nhiều sách viết bằng Pháp ngữ. Loại phiên dịch văn Nôm ra Quốc ngữ và dịch sách Hán ngữ gồm Kim Vân Kiều, Đại Nam Quốc Sử diễn ca, gia huấn ca của Trần Hy Tăng, lục súc tranh công, Phan Trần truyện, Lục Vân Tiên truyện, Đại học và Trung dung, tam tự kinh, Minh tâm bữu giám... Ông mất ngày 1/ 9/1898, thọ 61 tuổi.

Bến Tre: C̣n là quê của Trương Tấn Bửu, công thần đời Nguyễn. Tháng 3 năm Tân Tỵ (1821) năm Minh Mạng thứ hai, ông lănh chức phó tổng trấn Gia Định, thay thế Huỳnh Công Lư phạm quốc pháp bị xử trảm. Năm 1823, ông được cử đốc suất dân binh vét kinh Vĩnh Tế thay tổng trấn Lê Văn Duyệt bị bệnh. Tháng 8 cùng năm, Lê Văn Duyệt về kinh, ông kế quyền tổng trấn, nhưng chỉ ít lâu ông cáo bệnh về hưu.

Trở Về Đầu Trang