| Di Tích |
|
| |
|
Chùa Tuyên Linh: Tọa lạc ở ấp Tân Quới Đông B, xă
|
|
|
| |
|
Mộ Nguyễn Đ́nh Chiểu: Thuộc xă An Đức, trị trấn huyện
Ba Tri. Nguyễn Đ́nh Chiểu là nhà thơ yêu nước nổi tiếng của miền Nam và cả
nước. Ông sinh ra tại Gia Định (nay thuộc Sài G̣n). Năm 1861, Cần Giuộc
thất thủ ông về Ba Tri (Bến Tre) ở ẩn và mất tại đó. Hàng năm, vào ngày 1
tháng 7 (ngày sinh), nhân dân Ba Tri và Bến Tre thay mặt đồng bào cả nước
tổ chức lễ dâng hoa tưởng niệm nhà thơ một cách trong
thể. | |
|
Mộ Vơ Trường Toản: Thuộc xă Bảo Thạnh, huyện Ba Tri.
Vơ Trường Toản là nhà nho lớn ở thế kỷ 18, có kiến thức uyên bác, chí khí
thanh cao, có công đ | |
|
Mộ Phan Thanh Giản: Ở gần mộ Vơ Trường Toản, được xây
dựng bằng đá ong, trên mộ là tấm bia ghi chữ Hán. | |
|
Làng Bảo Thạnh, Quận Ba Tri: Là quê ông Phan Thanh
Giản, làm quan triều Tự Đức, người đậu tiến sĩ đầu tiên trong Nam, và cũng
là người yêu nước như đă nói ở trên. Các tác phẩm của ông gồm có: Du kinh,
Toái Cầm, Kim Đàøi thi tập. Phần văn quốc âm có tập Lương Khê thi thảo.
Ngoài ra, ông c̣n soạn chung bộ sách Khâm định thông giảm cương
mục. | |
|
Quận Ba Tri: Quê bà Nguyễn Thi Xuân Khuê (c̣n gọi là
Nguyễn Thị Khuê) một nhà văn nữ nổi tiếng ở Bến Tre với búùt hiệu Sương
Ngọc Ánh. Bà sinh năm 1864, là con gái của cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu. Bà giỏi
văn thơ từ lúc bé; lập gia đ́nh năm 24 tuổi, được một gái th́ chồng qua
đời. Bà ở vậy nuôi con cho đến ngày gă con đi lấy chồng. Sau con gái bà
mất sớm, để lại một cháu gái và bà | |
|
Xă Cái Mơn, Quận Đơn Nhơn: Là quê Trương Vĩnh Kư, một
học giả nổi tiếng trong hậu bán thế kỷ 19. Ông mồ côi cha từ thuở ấu niên,
được mẹ hết ḷng nuôi dạy. Lúc năm tuổi, theo học chữ Nho, rồi học chữ
Quốc ngữ. Với tư chất thông minh, ông biết rất nhiều ngoại ngữ Hán, Pháp,
Xiêm, Lào, Miên, Hy Lạp, La Tinh, Anh, Nhật, Ấn Độ... Tháng 8/1869, ông
trông coi bài vở cho tờ "Gia Định báo" tờ báo Việt Ngữ đầu tiên ở nước ta,
với dụng ư truyền bá Quốc ngữ, trau dồi văn chương nước nhà. | |
|
Bến Tre: C̣n là quê của Trương Tấn Bửu, công thần đời
Nguyễn. Tháng 3 năm Tân Tỵ (1821) năm Minh Mạng thứ hai, ông lănh chức phó
tổng trấn Gia Định, thay thế Huỳnh Công Lư phạm quốc pháp bị xử trảm. Năm
1823, ông được cử đốc suất dân binh vét kinh Vĩnh Tế thay tổng trấn Lê Văn
Duyệt bị bệnh. Tháng 8 cùng năm, Lê Văn Duyệt về kinh, ông kế quyền tổng
trấn, nhưng chỉ ít lâu ông cáo bệnh về
hưu. |