Liên hệ

 
 


 

 

HỌC&TÌM HIỂU CHỮ HÁN

 

Chữ Hán - Dấu ấn của Trung Nguyên tại Việt Nam
Nguồn gốc sự sáng tạo của người Việt trong vấn đề âm Hán Việt được hình thành từ thời kỳ nhà Đường ở Trung Nguyên. Những cách phát âm tiếng Hán thời kỳ này đã được cư dân Việt chủ động tiếp nhận do có những tương đồng trong ngữ âm.

Sau khi thành lập được một lãnh thổ thống nhất và mở rộng về phía Nam, khu vực Giao Châu rộng lớn được hình thành với 9 quận trải dài từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Cùng với lúc ấy, các cư dân Việt cũng vừa trải qua một giai đoạn khai phá, mở mang đất đai cư tụ, vì thế, chính quyền phương Bắc ngẫu nhiên sở hữu một địa vực tự nhiên và văn hoá vừa rộng lớn, vừa vô cùng phong phú.

Bên cạnh việc thu nhận từ vùng thực địa chiếm được những giá trị văn hoá bản địa, chính quyền đô hộ phương Bắc đã tích cực mở rộng sự ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Hoa ra những khu vực ấy. Và chữ viết cũng không nằm ngoài quy luật này, chữ Hán dần có được chỗ đứng chắc chắn tại Việt Nam. Các cư dân Việt vốn cần cù lao động, nhưng cũng chính là những người dân hiếu học vào bậc nhất. Với việc học tập được một hệ thống chữ viết tương đối hoàn thiện, các học sĩ bản địa có thể thực hiện mục đích tiếp thu tri thức từ một nền văn minh lớn nước láng giềng. Bên cạnh việc tiếp nhận những tri thức đó, người Việt Nam còn sử dụng chính những con chữ Hán để ghi chép lại các kinh nghiệm trong tập quán lao động, sinh hoạt được hình thành từ xa xưa. Và như vậy, những nhân sĩ người Việt sau giai đoạn tiếp thu chữ Hán một cách thụ động từ phương Bắc đã biết sử dụng một cách tốt nhất hệ thống văn tự này vào mục đích riêng có lợi cho mình. Cứ như vậy, chữ Hán vô tình trở thành một người bạn đồng hành với đời sống lao động, sinh hoạt văn hoá của người dân nước Việt. Thời gian về sau, chữ Hán không chỉ có vai trò trong những văn bản chính thức, trong những ghi chép thư tịch mà hệ thống văn tự này đã trở nên gần gũi với đời sống các cư dân hơn, khi nó được dùng để ghi gia phả dòng họ hay những sự kiện của một khu vực nhỏ. Việt Nam là một đất nước nông nghiệp từ xa xưa, những kinh nghiệm trồng lúa, cách chế tạo và sử dụng nông cụ của Việt Nam đã trở thành bài học quý giá cho những quốc gia khác. Và lúc này, chữ Hán lại đóng vai trò ghi chép những bài học ấy cho chính Trung Hoa, đất nước mà nông nghiệp chủ yếu là làm lúa khô. Trong các thư tịch của Trung Hoa còn giữ lại được cho đến ngày nay, đều cho thấy có những ghi chép kiểu như vậy. Người ta thuật lại việc nước Nam đã trồng lúa nước ra sao, hay những giống lúa khác vụ mà ở Trung Nguyên không có. Cùng với đó, còn có những tập tục sinh hoạt thường ngày rất đặc trưng của người Việt cũng đều được ghi lại bằng những văn bản chữ Hán.

Do tính chất tiện dụng cũng như được truyền bá rộng rãi, hệ thống văn tự Hán lúc này là loại chữ viết duy nhất có mặt trong đời sống các cư dân Việt. Tại nhiều ngôi đình ở Việt Nam, bên cạnh những đồ thờ, bức tượng, đồ vật mang tính chất tín ngưỡng thì những bức hoành phi, đại tự hay những câu đối chữ Hán là không thể thiếu. Và chữ Hán lúc này đối với cư dân Việt không đơn thuần chỉ là hệ thống văn tự. Những lớp học được tổ chức trên diện rộng nhằm truyền bá và giáo dục hệ thống Nho học nói chung và dạy chữ Hán nói riêng. Thời gian này, sự ảnh hưởng của việc dạy chữ Hán không còn giới hạn ở quận Giao Chỉ, nó lan rộng ra khắp 3 quận thuộc Việt Nam. Chữ Hán đã ăn sâu và bén rễ vào đời sống văn học cũng như đời sống của các cư dân Việt lúc bấy giờ. Các thế hệ nhà Nho Việt Nam nối tiếp nhau xuất hiện làm cơ sở cho một nền tảng tri thức của dân tộc. Giờ đây, không chỉ có những thày giáo từ Trung Nguyên tới mở lớp cho người bản xứ học, mà chính những lớp Nho sĩ ấy đã có thể dạy cho người dân nước mình cách sử dụng hệ thống văn tự Hán. Ngay cả khi chữ Hán được sử dụng rộng rãi trong các văn bản của chính quyền, trong những kỳ thi tuyển người tài thì nó vẫn đóng vai trò chỉ là một ngoại ngữ thông dụng. Bởi ngoài việc ghi chép, thì người Việt vẫn nói tiếng Việt của mình. Đặc biệt, tại những nơi sinh hoạt dân cư công cộng như chợ búa, bến sông thì những người nông dân lao động Việt Nam vẫn nói thứ tiếng mẹ đẻ, bởi thứ tiếng ấy đã hình thành từ lâu. Thời gian dần qua đủ làm cho người Việt hiểu được vai trò của chữ Hán trong đời sống, nhưng mặt khác, càng làm cho chủ nhân mảnh đất này cảm nhận rõ hơn về tiếng nói của chính dân tộc mình.

Cuộc sống lao động, cũng như sự vận động của thời cuộc đã tạo nên những thay đổi phần nào nét văn hoá của vài địa phương và ngôn ngữ cũng không phải là ngoại lệ. Tiếng Hán ở Việt Nam dần có những biến chuyển khác đi so với nguồn gốc của nó. Ví dụ như chữ mậu, vào năm 907 vua Lương vì kiêng huý nên đã ra lệnh đổi thành chữ vũ. Vậy là toàn Trung Nguyên sử dụng chữ mới này, song ở Việt Nam người ta vẫn sử dụng chữ mậu như cũ. Đây được coi là một trong những tín hiệu đầu tiên báo hiệu một xu thế mới, đó là xu thế chữ Hán dùng ở Việt Nam dần tách rời phần nào khỏi chữ Hán ở Trung Nguyên, và nó đã tạo ra một bước đi tương đối độc lập về văn tự cho người Việt Nam.

Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng của quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền được coi là cột mốc của lịch sử và cả văn hoá dân tộc Việt Nam. Vào năm 938, sau bao nhiêu năm chịu ách đô hộ của thế lực phong kiến phương Bắc, Việt Nam đã lật đổ được chính quyền cai trị nhà Nam Hán. Trận thủy chiến nổi tiếng này không chỉ đưa Việt Nam đến với độc lập tự chủ, nó còn gây sự chú ý đặc biệt từ nhiều quốc gia văn minh khác. Chiến thắng lịch sử ấy cùng lúc đã đem lại cho văn hoá Việt Nam một cơ hội khẳng định mình trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, và nền Hán học cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó. Ngay lúc này, nhà nước phong kiến đầu tiên của Việt Nam đã ra đời. Ngay sau khi giành được độc lập từ tay nhà cầm quyền Nam Hán, chính quyền phong kiến của Việt Nam đã tiến hành ngay một số biện pháp, nhằm bảo tồn và duy trì nền văn hoá được thiết lập từ xa xưa, cũng như chắt lọc những giá trị tinh hoa của Trung Nguyên được du nhập qua một thời gian dài, mà đặc biệt là hệ thống chữ viết.

Tới khi giành được độc lập, thì đời sống văn hoá của cư dân Việt Nam đã trải qua một quá trình hình thành lâu dài dưới những ảnh hưởng từ văn hoá Trung Nguyên. Người Việt lúc này sử dụng song song hai thứ tiếng nói là tiếng Việt bản địa và một số ít sử dụng tiếng Hán, nhưng chữ viết thì chỉ có duy nhất là chữ Hán. Chính vì vậy mà tất cả văn bản ghi chép từ những chính sách nhà nước, cho tới những thư tịch lịch sử, và đặc biệt là một kho tàng văn hoá Hán và Việt đều được ghi lại bằng chữ Hán. Do đó, chữ Hán thời gian này vẫn là một trong những đại diện rõ rệt nhất cho những dấu ấn của Trung Nguyên tại Việt Nam. Song, không vì thế mà người Việt Nam không có những sáng tạo của riêng mình trên phương diện này. Tiếng Hán là một sinh ngữ, nên nó có những biến đổi liên tục. Nhưng những thay đổi liên tục ấy chỉ diễn ra bên trong phạm vi Trung Nguyên, bởi lúc bấy giờ, tiếng Hán không còn có được sự ảnh hưởng trực tiếp tới đất nước Việt Nam độc lập. Và như vậy, tiếng Hán và chữ Hán ở Việt Nam lại được chính người dân bản địa tạo ra những khác biệt mới. Những khác biệt ấy bắt nguồn từ chỗ do có một thời gian dài ảnh hưởng tới ngôn ngữ ở Việt Nam, âm Hán đã phần nào thay thế những âm Việt cổ nhằm thoả mãn sự tiện lợi trong sử dụng. Một lợi thế nữa của tiếng Hán là có chữ viết nên việc phát tán cũng như gây sức ép lên một hệ thống ngôn ngữ khác trở nên có hiệu quả. Trong khi ấy, một hệ thống chữ Việt của người Việt cổ vẫn chỉ là những giả thuyết chưa được chứng minh. Do đó, tiếng Việt thời kỳ này chịu ảnh hưởng tới gần 70% âm Hán.

Nguồn gốc sự sáng tạo của người Việt trong vấn đề âm Hán Việt được hình thành từ thời kỳ nhà Đường ở Trung Nguyên. Những cách phát âm tiếng Hán thời kỳ này đã được cư dân Việt chủ động tiếp nhận do có những tương đồng trong ngữ âm. Thời gian dần trôi, với trí thông minh và ý thức sáng tạo, người Việt đã tạo thành một hệ thống âm Hán Việt hoàn chỉnh. Ví dụ như con chữ Hán được phát âm là tian, nghĩa Việt là trời, và âm Hán Việt là thiên. Còn với chữ Hán tượng hình đọc là jia, nghĩa tiếng Việt là nhà, còn âm Hán Việt đọc là gia. Tương tự thế, chữ Hán đọc là shan, nghĩa tiếng Việt là núi, còn âm Hán Việt đọc là sơn. Sự khác biệt một cách rõ rệt như vậy đã đem lại một diện mạo mới cho âm Hán được sử dụng tại Việt Nam. Những học giả người Trung Hoa về sau khi tới Việt Nam có dịp tiếp xúc với hệ thống âm này đều không hiểu được.

Xu thế tách rời âm Hán gốc ở Việt Nam thời gian này không chỉ là kết quả của sự độc lập trong văn hoá người Việt, mà nó còn là tiền đề cho sự ra đời của một hệ thống chữ viết mới ở Việt Nam, đây cũng là một sáng tạo văn hoá lớn của những học sĩ phong kiến người Việt. Lúc này, tuy chữ Hán là hệ thống chữ viết duy nhất ở Việt Nam, nhưng nó vẫn chưa đủ để ghi chép tất cả những âm của tiếng Việt. Đó chính là hạn chế lớn của chữ Hán, bởi văn hoá truyền thống của người Việt có một quá trình hình thành và phát triển từ lâu đời với những giá trị không thể phủ nhận. Ví dụ như trong âm Hán chữ huyết (nghĩa là máu) ghép lại với chữ khẩu, được đọc là hoét, một âm không có trong hệ thống chữ Hán mà chỉ người Việt mới có. Cứ như vậy, những con chữ Nôm được các học sĩ Việt Nam sáng tạo ra trên cơ sở chữ Hán, để có thể ghi được những âm mà tiếng Hán không tồn tại. Thành tựu ấy được các tầng lớp Nho sĩ người Việt sáng tạo từ những con chữ Hán gốc. Có thể nói, chữ Nôm không chỉ là một thành tựu trong học thuật từ xưa của người Vệt Nam. Chữ Nôm còn là một biểu tượng bất diệt cho tinh thần dân tộc được hình thành từ muôn đời, được hun đúc qua nhiều thế hệ và kết tinh trong tâm hồn của giới trí thức Việt Nam. Nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò của hệ thống chữ Hán trong việc tạo lập ra chữ Nôm. Ngoài việc đóng vai trò là nguyên liệu cho kết cấu của chữ Nôm. Văn tự Hán còn tạo cho những tầng lớp Nho sĩ người Việt một nền tảng sơ khai về quan niệm chữ viết, điều kiện quan trọng cho quá trình hình thành chữ Nôm. Còn chữ Nôm, sau thời gian đầu chập chững với những quy tắc, kết cấu, dần dần đã đạt được một sự thống nhất nhất định và trở thành phương tiện ghi chép mới.

Với nền tảng là một kho tàng văn hoá vốn phong phú, lại thêm quá trình giao lưu với những nền văn minh bên ngoài, chữ Nôm có được một môi trường hết sức thuận lợi cho việc hoàn thiện và phổ biến rộng rãi. Lúc này, bên cạnh những trước tác nổi tiếng được ghi bằng chữ Hán, những thư tịch của Việt Nam lại có sự góp mặt của các tác phẩm chữ Nôm, và chỉ trong một thời gian không dài, chữ Nôm đã xác định được chỗ đứng vững chắc trong đời sống sinh hoạt và hoạt động văn hoá của người dân nước Việt. Thời gian trôi đi, loại văn tự này cũng có số phận với những biến đổi trong quá trình tồn tại, và đó cũng chính là một trong những biểu hiện của văn hoá nước nhà.

Hoàng Lâm

 

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website

Âm Thanh

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS ÚC
Tin mới nhất của VOA

Văn nghệ hôm nay

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu Du Lịch |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện