| 
LỊCH
SỬ NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT: Những con đường tiếng Hán
đi vào tiếng Việt
Bởi lẽ tự nhiên là "Việt Nam Trung Hoa, núi
liền núi, sông liền sông", mà sự tiếp xúc văn
hoá - ngôn ngữ giữa hai nước Việt–Trung đã diễn
ra từ rất lâu đời và vô cùng sâu đậm. Từ những thế
kỉ trước Công nguyên cho đến thế kỉ X là thời kì
nước ta chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc,
sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt Hán chủ yếu là thông qua
"con đường khẩu ngữ".
Giới quan chức cũng như những người dân thường
(đặc biệt là thương nhân) đã sang cai trị và làm
ăn sinh sống ở đất Việt, và qua họ người Việt đã
thu nạp vào trong tiếng nói của mình không ít những
từ ngữ thông thường, mà phần nhiều vẫn còn lưu lại
cho đến ngày nay, như: buồng (房), buồm (帆), đuốc
(烛), đũa (箸), mùa (务), múa (舞)... Từ thế kỉ X trở
đi, nước ta giành được độc lập, bắt tay vào công
cuộc xây nền tự chủ. Trong bước đầu gây dựng đất
nước, từ thời Lý–Trần, cha ông chúng ta đã biết
dựa vào văn hoá Hán và chữ Hán để đào tạo nhân tài.
Trong công cuộc này, người Việt đã ít khi có dịp
tiếp xúc trực tiếp với người Trung Hoa, cho nên
"con đường khẩu ngữ" đã lùi dần vị thế
gần như độc tôn trước đây để nhường chỗ cho "con
đường sách vở". Và đây chính là lúc cách đọc
chữ Hán ở Việt Nam bắt đầu thoát ly khỏi ngữ âm
thực tế của tiếng Hán ở Trung Hoa, dần dần hình
thành hệ thống âm Hán Việt. Cũng từ thời trung đại,
tiếng Việt và tiếng Hán đều rất gần gũi nhau về
mặt loại hình: đều là ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính.
Với hai ngôn ngữ cùng chung loại hình, lại có cách
đọc Hán Việt hoàn chỉnh như vậy, thì hàng loạt các
từ ngữ tiếng Hán đi vào tiếng Việt để làm thành
một lớp từ ngữ Hán Việt khá phong phú trong tiếng
Việt là điều rất tự nhiên.
Như vậy, từ ngữ Hán Việt đi vào tiếng Việt là qua
con đường sách vở và có lẽ chỉ những người có học
mới thực sự am hiểu và thường xuyên sử dụng. Còn
đại đa số người dân thất học, những người nông dân
chân lấm tay bùn, thì họ chỉ có thể nắm biết được
một ít những từ Hán Việt đơn tiết thông thường (như:
thiên (天), địa (地), quỷ (鬼), thần(神), cúng 供, tế
(祭),...), những từ Hán Việt đã Việt hoá triệt để
đôi khi cả về mặt ngữ âm, được gọi là từ ngữ "Hậu
Hán Việt" (như: gan (胆), gương (镜), rồng (龙),
rạng (朗), vạch (划), vẽ (画), ...), những từ gốc Hán
từ trước khi hình thành âm Hán Việt, được gọi là
từ ngữ "Tiền Hán Việt" (như đã dẫn ở trên:
buồng (房), buồm (帆), đuốc (烛), đũa (箸), mùa (务),
múa (舞),...) và cả những từ đi vào tiếng Việt theo
con đường khẩu ngữ từ bà con Hoa kiều ở thời hiện
đại (như: vằn thắn, tào phớ, phá xang, tổ tôm, tài
xế, mì chính). Chỉ từ sau Cách mạng Tháng Tám, những
người nông dân mù chữ ấy mới có dịp học hành, mới
có dịp tham gia vào các sinh hoạt đoàn thể, sinh
hoạt xã hội, khi ấy họ mới có dịp tiếp xúc với những
từ Hán Việt đánh dấu cho sự khởi đầu cuộc sống mới
của họ: "Có khai hội, yêu cầu, chất vấn. Có
mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa" (như
nhà thơ Hồng Nguyên đã ghi lại trong bài Nhớ). Nhờ
vậy, từ Hán Việt chẳng những không bị bài trừ, mà
còn có cơ hội phát triển thêm lên.
Trong đời sống ngôn ngữ hôm nay ở Việt Nam, dường
như đã và đang có một xu hướng khác rất đáng ghi
nhận. Đó là ngày càng xuất hiện nhiều hơn những
từ ngữ Hán Việt tự tạo (nội sinh), tức là những
từ ngữ được chính người Việt tạo ra trên cơ sở vốn
liếng đã có từ cha ông để lại – những ngữ tố gốc
Hán đọc với âm Hán Việt. Đó là trường hợp của những
từ ngữ như: sơ tán, di tản, cư xá, tiếp viên, tiếp
thị, hội nhập, hội thảo, hội chứng, lập trình, ứng
viên, ứng xử, cư xá,.... Những từ ngữ như vậy, tuy
có thể "phiên chuyển" thành chữ Hán như:
初散,移散,接员,接市,会入,会讨,会症,立程,应员,应处,居舍... nhưng trong
một số từ điển tiếng Hán hiện đại như Từ điển Hán
ngữ hiện đại (现代汉语词典), Từ điển quy phạm Hán ngữ
hiện đại (现代汉语规范词典) đều không hề tìm thấy chúng.
Đó chính là sản phẩm của người Việt một khi họ thực
sự làm chủ cái vốn ngữ tố Hán Việt cơ bản từ lâu
đã có cuộc sống riêng trong tiếng Việt. Một đôi
khi chính những từ ngữ Hán Việt nội sinh này đã
đẩy lùi những từ ngữ Hán Việt nguyên ngữ đã một
thời vang bóng trước đây, như hội thảo đã thay thế
hẳn khai hội (开会), và phần nào thay thế cho hội
nghị (会议). Tuy nhiên, cũng không nên nghĩ rằng ngày
nay không còn dịp để mượn từ Hán Việt "nguyên
khối" từ tiếng Hán. Chẳng hạn, gần đây Bộ Giáo
dục đã cho thành lập Cục Khảo thí và Kiểm tra chất
lượng giáo dục, trong tên gọi đó có từ Hán Việt
"nguyên khối" khảo thí(考试), chứ không
phải là từ Hán Việt tự tạo thi cử.
Trong khoảng một hai chục năm gần đây, có một con
đường mới hẳn đang hình thành để từ ngữ tiếng Hán
đi vào sách báo tiếng Việt. Đó là "con đường
dùng phiên âm" dựa theo "phiên âm tự mẫu"
của tiếng Hán. "Phiên âm tự mẫu" là bộ
chữ cái Latin dùng để chú âm (phổ thông) cho chữ
Hán, được Chính phủ Trung Quốc công bố năm 1958.
Hiện nay, bộ chữ cái này đã được sử dụng rộng rãi
ở Trung Quốc cũng như trên quốc tế, khi có nhu cầu
ghi âm cho các chữ Hán, đặc biệt là dùng cho nhân
danh, địa danh, tên các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp, bộ môn, các sản phẩm và tác phẩm v.v...
Chữ Quốc ngữ của ta cũng là một thứ chữ ghi âm theo
chữ cái Latin, cho nên việc tiếp nhận các từ ngữ
Hán vào văn bản Việt dưới hình thức "phiên
âm tự mẫu" là việc quá ư thuận lợi. Qua khảo
sát bước đầu của chúng tôi trên một vài tờ báo ở
Hà Nội (báo "Thể thao và Văn hoá) và Thành
phố Hồ Chí Minh (báo "Thanh niên") trên
các số phát hành gần đây (tháng 2 và tháng 3/2006),
xin nêu một vài thí dụ như sau:
"Với số dân 60.000 người, nằm cách thành phố
Thượng Hải khoảng 130 km về phía bắc, làng Huaxi
thuộc tỉnh Giang Tô là niềm mơ ước của nhiều người.
Thứ đồ trang trí đẹp nhất, giá trị nhất cho những
con đường làng ở Huaxi chính là hình ảnh những nụ
cười rạng rỡ của người dân nơi đây..." (trong
bài "Thiên đường" ở Trung Quốc, báo Thanh
Niên, số 87, thứ ba, 28/3/2006).
"Người đề ra công thức này không ai khác
chính là vị cựu trưởng làng Wu Renbao..." (trong
bài "Thiên đường" ở Trung Quốc, báo Thanh
Niên, số 87, thứ ba ngày 28/3/2006).
"Đối với người dân Wuli, một ngôi làng ở
miền đông Trung Quốc, ô nhiễm không khí, ô nhiễm
nguồn nước chẳng phải chỉ là chuyện trên bàn giấy..."
(trong bài Làng ung thư ở Trung Quốc, báo Thanh
Niên, số 80, thứ ba, ngày 21/3/2006).
"Tây An, thành phố lịch sử nổi tiếng thuộc
tỉnh Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc, hiện đang tìm
kiếm vốn cho chu kì trùng tu mới tại khu lăng mộ
của Hoàng đế, nhà cai trị huyền thoại của Trung
Quốc, toạ lạc trên đồi Qiaoshan ở huyện Huangling..."
(trong bài "Tây An tìm tài trợ trùng tu mộ
Hoàng đế Tần Thuỷ Hoàng, báo Thể thao và Văn hoá,
số 36, thứ bảy, ngày 25/3/2006).
"Giáo sư He Weifang thuộc khoa Luật của Đại
học Bắc Kinh cho biết tình trạng trên xảy ra tại
hầu hết các đại học danh tiếng của nước này..."
(trong bài Trung Quốc: 60% tiến sĩ đạo văn, báo
Thanh Niên, số 75, thứ năm, ngày 16/3/2006).
"Trong số các quan tham bị sa lưới có cựu
giám đốc một chi nhánh của Công ti điện lực Chuanhong
ở tỉnh Tứ Xuyên, ..." (trong bài Trung Quốc:
bắt giữ hơn 400 quan tham bỏ trốn, báo Thanh Niên,
số 85, chủ nhật, ngày 26/3/2006).
"Được biết trong dịp Tết vừa qua, các thành
viên của đoàn xiếc (gồm Wang Ji Feng, Chen Dao Mei,
Jiao Shi Guo, Sun Hua Dong, Liu Jian Nan...) đã
được người xem đón nhận nông nhiệt, đặc biệt là
các khán giả nhí..." (trong bài Đoàn xiếc mô
tô bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã "đáp"
về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72,
thứ hai, ngày 13/3/2006).
"Dạ Yến sẽ nằm trong cuộc tranh đua giành
đề cử Oscar năm sau", Wang Zhonglei, Giám đốc
công ti Huayi Brothers, nơi sản xuất bộ phim, cho
biết..." (trong bài Phùng Tiểu Cương hi vọng
được đề cử giải Oscar năm sau với Dạ Yến, báo Thể
thao và Văn hoá, số 22, thứ ba, ngày 21/2/2006).
Như vậy, chỉ lướt qua gần chục bài báo có nội
dung liên quan đến Trung Quốc, thì ta đã gặp hàng
chục những từ ngữ tiếng Hán dưới dạng phiên âm bằng
chữ cái Latin. Điều này chứng tỏ rằng, tiếng Hán
đang du nhập vào tiếng Việt một cách khá "rôm
rả" qua "bộ áo" phiên âm. Vì sao
vậy? Theo chúng tôi quan sát, thì không phải bất
kì bài báo tiếng Việt nào viết về Trung Quốc cũng
có "tài liệu nguồn" là tiếng Hán, tức
là bản nguyên văn của chúng đã được viết bằng ngôn
ngữ có chữ viết Latin, như tiếng Anh, tiếng Pháp...
Nếu đã như vậy, thì dịch giả (biết hay không biết
tiếng Hán) không còn cách nào khác là "bê nguyên
xi" những cụm từ ngữ dạng phiên âm đó, vừa
thuận tiện, lại bảo đảm được độ chính xác, trung
thực của bài báo. Hay ngay cả khi "tài liệu
nguồn" được viết chính bằng tiếng Hán, và người
viết tin tiếng Việt (cũng là dịch giả) đương nhiên
là biết tiếng Hán, thì việc xuất hiện các từ ngữ
tiếng Hán dưới dạng phiên âm cũng không phải là
không phổ biến. Bởi đâu phải bất kì người dịch nào
cũng thông thạo cách đọc Hán Việt, để có thể ngay
tức khắc, phiên chuyển những danh từ tiếng Hán ấy
ra âm Hán Việt. Muốn làm được thế, họ phải mất thời
gian tra cứu, mà xem ra cũng không thực sự cần thiết.
Vậy thì, chi bằng cứ theo âm đọc mà phiên viết những
từ ngữ Hán đó sang văn bản chữ Việt, cũng rất là
thuận tiện, lại không kém phần chính xác. Nói như
vậy không có nghĩa là những danh từ riêng tiếng
Hán được viết theo âm Hán Việt đã hoàn toàn vắng
bóng trên mặt báo. Ngược lại, chúng thường xuyên
xuất hiện trên báo chí, thậm chí còn xuất hiện đồng
thời, trong cùng một bài báo, với những từ ngữ tiếng
Hán viết theo lối phiên âm. Chẳng hạn như:
"Những cảnh đấu võ và bay người trên không
trung, yếu tố cơ bản đã tạo nên thành công quốc
tế cho bộ phim Ngoạ hổ tàng long của đạo diễn Lý
An, cũng được đạo diễn Phùng vận dụng triệt để trong
Dạ Yến. Và để đạt được điều đó, ông đã phải "cậy
nhờ" tới bộ ba góp phần làm nên thành công
của Ngoạ hổ tàng long, gồm chuyên gia võ thuật Yuen
Woo Ping, nhà soạn nhạc Tan Dun và đạo diễn nghệ
thuật Tim Yip...Vai nữ chính trong phim vẫn được
giao cho Chương Tử Di..." (trong bài Phùng
Tiểu Cường hy vọng được đề cử Oscar năm sau với
Dạ Yến, báo Thể thao và Văn hoá, số 22, thứ ba,
ngày 21/2/2006).
"Liang Liang, nhà phê bình phim Đài Loan,
thì nhận định, chiến thắng của Lý An có thể sẽ là
nguồn cảm hứng cho nhiều đạo diễn châu Á muốn thử
vận may ở Hollywood,..." (trong bài Sau giải
Oscar của Lý An, Hollywood không ưu ái hơn với các
đao diễn châu Á, báo Thể thao và Văn hoá, số 29,
thứ sáu, ngày 10/3/2006).
"Những ai muốn khám phá về các màn xiếc độc
đáo của nhân vật dặc biệt Liu Jian Nan cũng như
của đoàn xiếc Vương Trung Vương có thể đến Thảo
Cầm Viên vào khoảng thời gian từ 17–22 giờ mỗi ngày
để thưởng thức." (trong bài Đoàn xiếc mô tô
bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã "đáp"
về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72,
thứ hai, ngày 13/3/2006).
Từ những thí dụ trên, ta thấy rằng, những từ ngữ
tiếng Hán được phiên ra âm Hán Việt hầu như đều
là những từ ngữ quá đỗi quen thuộc với độc giả Việt
Nam. Chẳng hạn như: Ngoạ hổ tàng long, Lý An, Chương
Tử Di,... Thượng Hải, Tây An, Thiểm Tây, Tứ Xuyên,...
Khi gặp các từ ngữ này, dù là ở dạng phiên âm trong
văn bản ngoài chữ Hán, thì dịch giả, với vốn âm
Hán Việt nào đó đã nằm lòng, vẫn thích đưa chúng
quay trở về dạng từ ngữ Hán Việt đã quen thuộc đối
với người Việt Nam. Và rõ ràng, khi tiếp xúc với
những từ ngữ Hán Việt này, độc giả Việt Nam sẽ thấy
gần gũi hơn rất nhiều so với những từ ngữ tiếng
Hán viết theo lối phiên âm tự mẫu.
Ngoài ra, có một điều cần nói thêm rằng, trong
những năm gần đây, không chỉ trên mặt báo, mà còn
trên truyền hình hay trong những câu chuyện đời
thường của người dân Việt Nam, ta vẫn thường nhìn
thấy, nghe thấy những từ ngữ tiếng Hán vô cùng quen
thuộc như wushu, sanshou, hay gần đây nhất là gongfu
(trong bộ phim võ hiệp nổi tiếng của Trung Quốc
– Gongfu – 功夫). Đây đều là những từ ngữ tiếng Hán
chỉ các bộ môn võ thuật của Trung Quốc, đó là 武术,散手,功夫.
Điều đáng chú ý là trong khi sanshou và gongfu còn
được nhắc đến cả dưới dạng âm Hán Việt là tán thủ
và công phu, thì ta không hề thấy wushu xuất hiện
dưới hình thức âm Hán Việt tương ứng với nó là võ
thuật. Nhất định phải gọi môn võ này là wushu theo
chữ cái phiên âm. Bởi lẽ, trong tiếng Việt, võ thuật
từ lâu đã là một danh từ chung dùng để chỉ các môn
phái võ nghệ, chứ không phải đặc chỉ môn phái wushu
với những đặc điểm riêng của nó. Vậy là, trong trường
hợp này, con đường du nhập của từ ngữ tiếng Hán
theo lối phiên âm tự mẫu đã phát huy thêm một tác
dụng quan trọng nữa, nó giúp ta khu biệt danh từ
chỉ một môn võ cụ thể với một danh từ chỉ võ nghệ
nói chung.
Như vậy là, từ ngữ tiếng Hán du nhập vào tiếng
Việt cho dù là bằng con đường khẩu ngữ, con đường
sách vở hay là dạng phiên âm theo tự mẫu, thì từ
thời xa xưa cho đến thời hiện đại cũng đều hết sức
mạnh mẽ và bền bỉ. Cùng với sự trôi đi của thời
gian, khi mà tình trạng cộng cư của người Hoa và
người Việt không còn vị thế nổi bật trong sinh hoạt
kinh tế thời hiện đại, khi mà tầng lớp nho sĩ am
hiểu âm Hán Việt thưa thớt dần, thì sự du nhập của
từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt theo con đường khẩu
ngữ hoặc con đường phiên âm Hán Việt sẽ không còn
đậm nét như trong quá khứ nữa. Bù lại, xu hướng
sử dụng ngữ tố Hán Việt để tạo từ mới ngày càng
được hưởng ứng, và một con đường mới mẻ cho sự du
nhập từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt – con đường
dùng "phiên âm tự mẫu" đang hình thành.
Trên con đường mới mẻ này, số phận của các từ ngữ
Hán phiên âm trong văn bản Việt sẽ ra sao? Chắc
chắn chúng sẽ vấp phải không ít khó khăn để được
tiếp nhận, song triển vọng của chúng cũng khá rõ
ràng, vì sự tiện lợi và cần thiết của chúng ở những
tình cảnh nhất định là không thể phủ nhận.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lý Hành Kiện (chủ biên). Xiandai Hanyu Guifan Cidian
(现代汉语规范词典). Nxb Ngoại ngữ Giáo học dữ Nghiên cứu
& Nxb Ngoại văn, Bắc Kinh, 2004.
Nguyễn Tài Cẩn. Nguồn gốc và quá trình hình thành
cách đọc Hán Việt (tái bản có sửa chữa). Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2002.
Nguyễn Quang Hồng. Âm tiết và loại hình ngôn ngữ
(tái bản). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
Nguyễn Quang Hồng. Giữ gìn và phát triển tiếng Việt,
ngôn ngữ chung của các dân tộc Việt Nam. Tạp chí
"Ngôn ngữ & Đời sống", số 1+2/2004.
Phòng Từ điển Viện Ngôn ngữ học Trung Quốc biên
soạn (tu đính bản). Xiandai Hanyu Cidian (现代汉语词典).
Nhà in Thương Vụ, Bắc Kinh, 1999.
Theo Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 5/2006,
trang 34–37
Tuyển tập tiểu luận liên quan
đến Nhà văn Trần Mạnh Hảo
Những
bài, tài liệu, của ( hoặc liên quan ) đến
Nhà văn Dương
Thu Hương
(Những
bản tin trên chúng tôi trích dịch từ BBC, Tân Hoa
Xã, VOA, Reuters, Fox, Vietnamnet, Thanh Niên, Tuổi
Trẻ...
Xin cám ơn các nguồn trên đã giúp chúng tôi chuyển
gửi tin tức đến độc giả HNPĐ
)

|