TÌM
HIỂU CHỮ HÁN
( Trang này đang tu sửa.
. .)

Phương
pháp vận bút song câu
Bàn tay (运笔手法 - Vận bút thủ pháp):
Khi cầm bút phải chú ý tới bốn điểm:
Thủ chỉ thực (手指实): Các ngón tay đều có lực dồn
lên thân bút, cầm bút vững vàng
Thủ tâm hư (手心虚): Lòng bàn tay trống rỗng
Thủ bối viên (手背圆): Mu bàn tay khum
Thủ chưởng tung: Bàn tay thẳng
Đường Thái Tông đã nói: " Chỉ thực tắc cân
lực bình quân, chưởng hư tắc vận dụng tiện dị"
(指实则筋力平均,掌虚则运用便易 - ngón nắm chặt thì lực nắm trải
đều, lòng tay rỗng thì vận bút linh hoạt) .
Cổ tay (运笔腕法 - Vận bút uyển pháp)
Chẩm uyển (枕腕): tỳ cổ tay xuống mặt bàn để viết,
dựa vào lực bàn tay để viết, phạm vi bút hẹp, không
hợp với việc viết đại tự
Đề uyển: Tỳ cánh tay xuống mặt bàn để viết, phạm
vi bút rộng hơn, thích hợp viết chữ có kích thước
trung bình
Huyền uyển: Cánh tay nhấc trên không, cánh tay cố
định, lấy lực bàn tay và vai để vận bút, phạm vi
khống chế của bút rộng, thích hợp viết đại tự .
Đây là cách khó nhất trong 3 cách .
Ngoài tra khi cầm bút phải vững vàng, cầm vững sẽ
bổ trợ cho việc vận bút, tư thế viết đẹp đẽ .
Cầm bút chặt hay lỏng ?
Từ xưa tới nay, có nhiều kiến giải về vấn đề này,
người cầm chặt cho rằng chỉ có như vậy chữ mới có
lực, người cầm bút lỏng cho rằng cầm chặt sẽ làm
chữ xương xẩu, lộ cốt . Thực ra hai quan điểm đó
lại gần như một, chỉ là cách luận giải khác nhau
mà thôi .
Nếu cầm bút quá lỏng, khi vận bút sẽ không khống
chế được ngòi bút, tay không có lực, tất nhiên cầm
bút sẽ không vững vàng, nhưng nếu cầm quá chặt,
sẽ vận bút khó . Lỏng, chặt vừa phải mới là cách
đúng .
Phương pháp vận bút (运笔方式):
Vận
bút là cơ sở của thư pháp, nếu không lĩnh hội được
điểm này thì dù viết chữ kiểu nào cũng hỏng cả .
Vì vâỵ, Thư pháp lấy đây là một trong những trọng
tâm . Phương pháp vận bút có 3 loại: Một là vận
bằng ngón tay (Chỉ vận pháp - 指运法), hai là vận bằng
cổ tay (Uyển vận pháp - 腕运法), ba là vận bằng cánh
tay (thốn vận pháp - 肘运法) . Nhà thư pháp Trương
Đình Tướng từng nói: " Phương pháp vận bút
có 3 loại: đó là ngón tay, cổ tay và cánh tay, chữ
nhỏ dùng ngón tay, chữ trung dùng cổ tay, chữ to
dùng cánh tay ....)
Vận bút bằng ngón tay: đặc điểm
là dùng tay trái kê dưới tay phải, cũng gọi là cách
Chẩm uyển, có thể dùng vật dày kê cũng được . Làm
như vậy, cổ tay sẽ được cố định, chỉ có các ngón
tay cử động, do đó có thể viết được các đường nét
tinh tế đặc biệt là chữ nhỏ . Nhưng nếu viết thảo
thư chữ nhỏ không nên dùng chẩm uyển vì các ngón
tay kém linh hoạt khi viết chữ sẽ không uyển chuyển
không biểu hiện được tinh thần . Tóm lại khi tập
vận bút bằng ngón tay phải giữ cổ tay cố định, đây
có thể coi là bước đầu tiên tập vận bút, sau đó
mới chuyển sang Đề uyển hay Huyền uyển sẽ dễ dàng
hơn .
Vận bút bằng cổ tay:
giữ
cho cánh tay cố định, nhấc cổ tay lên, thường gọi
đây là Đề uyển . Khi để cổ tay nhấc lên, phạm vi
khống chế lớn hơn có thể viết những chữ cỡ to và
vừa . Nhưng không thích hợp viết chữ to vì phạm
vi hoạt động bị hạn chế .
Vận bút bằng cánh tay:
Treo
tay hoàn toàn trên không, dùng cánh tay để vận bút,
thường gọi là Huyền uyển . Lấy vai làm trung tâm,
cánh tay và cổ tay không rời khỏi mặt bàn, đây là
cách vận bút linh hoạt nhất, phạm vi khống chế lớn,
dễ biểu hiện bút lực, dùng để viết chữ khải to,
hành thư và các thể chữ khác . Tóm lại, Huyền uyển
là cách vận bút ở cấp độ cao nhất, hoàn mỹ nhất
, nếu không rèn luyện nhiều thì không thể đạt được
, nếu không rèn tập Khải thư sẽ vô lực, hành thư
sẽ mất phiêu dật các thể khác đều không luyện được
.
(U cốc khách chuyển dịch)
__________________
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.

|