
Đoàn Thị Điểm
(1705 - 1748)
Nữ
sĩ Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705 tại làng Giai Phạm,
huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh)
mất năm 1748 tại tỉnh Nghệ An. Bà có tài, có sắc,
thông minh từ nhỏ, học vấn uyên bác, viết nhiều
tác phẩm bằng chữ Hán và chữ Nôm. Tác phẩm nổi tiếng
nhất của bà là bản dịch Chinh phụ ngâm (Khúc ngâm
của người vợ có chồng đi chiến trận). Khúc ngâm
này nguyên tác bằng chữ Hán của nhà thơ Đặng Trần
Côn (1715-1750) quán làng Nhâm Mục (làng Mọc) thuộc
Kinh thành Thăng Long.
Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm
để ghi nhận một hiện thực lịch sử của đất nước.
Trải bao thế kỷ, dân tộc ta phải đương đầu chống
giặc ngoại xâm, trai tráng trong nước phải tòng
quân giết giặc, những người phụ nữ phải đảm nhiệm
công việc gia đình, đồng ruộng. Và kiên trì chờ
đợi ngày về của người lính chiến. Tình trạng ấy
cũng diễn ra trong đời sống của tác giả và dịch
giả là thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nạn binh hỏa
liên miên không dứt.
Dịch Chinh phụ ngâm từ thơ chữ Hán
sang thơ tiếng Việt, Đoàn Thị Điểm không làm công
việc chuyển dịch bình thường. Bà đã tạo nên một
công trình văn học dịch có giá trị cao, không những
sát với nguyên tác mà có phần còn vượt nguyên tác.
Tâm tư và cảnh ngộ của bà giống hệt tâm tư cảnh
ngộ của người vợ trong khúc ngâm. Vì vậy, tuy là
dịch thơ mà bà đã "dịch" chính đời mình
ra thơ:
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Đời bà vất vả thế. Ba mươi tám tuổi
lấy chồng (ông tiến sĩ Nguyễn Kiều). Lấy chồng được
một tháng, chồng đi sứ ba năm. Cảnh tiễn biệt:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai rầu hơn ai?
Chồng đi vắng, vợ ở nhà vừa làm
nhiệm vụ con trai nuôi mẹ vừa làm nhiệm vụ người
cha dạy con:
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ
thân
Nay một thân nuôi già dạy trẻ
Nỗi quan hoài mang mẻ xiết bao
Sau thời gian đi sứ, ông Nguyễn
Kiều về. Sum họp chẳng được bao lâu, ông được lệnh
vào trị nhậm ở Nghệ An. Bà đi cùng với ông. Mới
vào đến Nghệ An, chẳng may bà bị bệnh, mất đột ngột,
không thực hiện được câu thơ:
Liên ngâm, đối ẩm đòi phen
Cùng chàng lại kết mối duyên đến
già
Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình
Đoàn Thị Điểm cùng với Bà Huyện
Thanh Quan và Hồ Xuân Hương là ba nhà thơ nữ kiệt
xuất trong văn học Việt Nam xưa, góp phần làm vẻ
vang cho văn học Việt Nam nói chung và văn học nữ
giới Việt Nam nói riêng. Bản dịch Chinh phụ ngâm
của Đoàn Thị Điểm đã phổ biến sâu rộng, được rất
nhiều người yêu thích và ngâm nga truyền miệng như
văn học dân gian.
Ðình
tiền thiếu nữ khuyến tân lang
Năm
bà Ðoàn thị Ðiểm 25 tuổi (1730) thì thân phụ mất
ở nơi dạy học. Bà cùng mẹ và anh đưa linh cửu về
quê mai táng; rồi đó ba mẹ con lại tới ngụ cư ở
làng Võ Ngại, huyện Ðường Hào (Mỹ Hào) tỉnh Hưng
Yên.
Bấy
giờ, bà Ðiểm thường thay anh trong việc thù tiếp
các tân khách. Bà vốn là cô gái tài sắc, lại giỏi
về khoa giao tiếp, nên tiếng tăm bà lừng lẫy khắp
nơi. Người ta đồn rằng: khi bà Ðiểm giúp anh tiếp
khách, tuy "dâng rau muối mà hơn cả trân tu".
Do đó khách đến thăm anh bà đã nhiều, mà những khách
"phong lưu công tử" đến để dòm ngó bà
cũng lắm.
Khi
ấy có hoàng giáp Vũ Diệm, người làng Thổ Vượng (Hà
tĩnh) với các bạn là tiến sĩ Nhữ Ðình Toản ở xã
Hoạch Trạch (Hải dương) và tiến sĩ Nguyễn Công Thái
ở làng Kim Lũ (Hà Ðông) cùng kéo nhau đến nhà bà
Ðiểm. Các "thầy giám" được bà Ðiểm tiếp
đãi rất lịch sự, bà cho người bưng khay trầu ra
mời, trên khay có để một bức hoa tiên viết một câu
đối:
Ðình
tiền thiếu nữ khuyến tân lang.
Hai
chữ thiếu nữ ở đây có hai nghĩa: "gió nhẹ"
hoặc "cô gái". Hai chữ tân lang là "cây
cau" thì đồng âm với hai chữ tân lang là "chàng
rể". Bởi vậy, vế đối cũng có thể hiểu theo
hai nghĩa. Một là: trước sân có gió thoảng phất
cây cau. Một là: trước sân có cô gái mời chàng rể.
Các
thầy đọc xong vế đối, rồi sáu mắt ngó nhau, chẳng
ai đối lại được. Thế là trầu cũng chẳng kịp ăn,
ý định chòng ghẹo cũng tiêu tan hết; các thầy đành
nhã nhặn gửi lời chào bà chủ rồi vội vã rút lui...
Đặng
Trần Côn
Đặng
Trần Côn tiên sinh người làng Nhân Mục (tục gọi
làng Mọc) huyện Thanh Trà, tỉnh Hà Đông.
Tiên
sinh sinh đời Lê Dụ Tông, trong buổi Trịnh Cương
xưng chúa, cầm quyền, phong tước An Đô Vương. Lúc
bấy giờ trong thành Thăng Long thường có hỏa hoạn
có lệnh cấm lửa. Nhưng tiên sinh hiếu học là người
hiếu học nên phải đào hầm chong đèn mà học suốt
canh khuya.
Tiên
sinh ưa ngâm vịnh, nghe bà Đoàn Thị Điểm hay chữ,
hay thơ, bèn làm một bài thơ đến yết kiến bà. Bà
xem thơ, cười mà bảo rằng: nên học thêm sẽ làm thơ.
Tiên sinh lấy làm thẹn, về ra sức nghiên tinh đàn
tứ. Về sau tiên sinh thi đỗ chức Hương Cống (cử
nhân) và vẫn chăm học, tay không hề rời quyển sách.
Đời
niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) đời Hậu Lê gặp buổi
binh cách, lính thú đi chinh thú nhiều nơi, đã diễn
nên lắm nỗi biệt ly đau đớn, tiên sinh xúc cảm làm
bài "Chinh Phụ Ngâm", theo thể thơ xưa
(Cổ nhạc phủ) từ điệu thanh tao và phiêu dật lâm
ly. Tiên sinh đem đưa ông Ngô Th́i Sĩ. Ông Sĩ đọc
xong rất thán phục mà nói rằng: "Như bài này
th́ đă áp đảo được lăo Ngô này rồi".
Sau
tiên sinh lại đưa cho bà Đoàn Thị Điểm xem. Bà khen
hay và đem diễn Nôm, điệu song thất lục bát. Làm
xong, bà đưa cho tiên sinh xem. Tiên sinh tỏ ra
kính phục tài miệng gấm ḷng thêu của bà, chịu tôn
bà làm bậc sư bá.
Bài
"Chinh Phụ Ngâm" truyền tụng khắp trong
nước, lan đến bên Tàu, cũng phải khen tài thanh-nghệ-luật
của tiên sinh. Quả thật như vậy, thơ tiên sinh cổ
thể, cận thể đă học đúng đủ các phép, cho nên thi
phái đời Hâu Lê nhờ tiên sinh d́u dắt mà chấn hưng
nhiều.
Về
sau tiên sinh làm chức Huấn Đạo rồi lần hồi thăng
đến chức Ngự Sử Đài. Tính tiên sinh rất khoáng dật,
thích ngao du với trăng gió rượu trà. Ngoài bài
"Chinh Phụ Ngâm", c̣n lắm bài thơ phú
khác, như "Tiêu Tương Bát Cảnh", "Trương
Hàn Tư Thuần Lư", "Trương Lương Bố Y",
"Khấu Môn Thanh",...
Mời
đọc lại CHINH PHỤ NGÂM
Giới
thiệu Tác phẩm :Nữ Trung Tùng Phận

|