| |
I
天 地 風 塵
Thiên địa phong trần
紅 顏 多 屯
Hồng nhan đa truân
悠 悠 彼 蒼 兮 誰 造 因
Du du bỉ thương hề
thuỳ tạo nhân
鼓 鼙 聲 動 長 城 月
Cổ bề thanh động
Trường Thành nguyệt
烽 火 影 照 甘 泉 雲 |
| 5 |
Phong hỏa ảnh chiếu
Cam Tuyền vân
九 重 按 劍 起 當 席
Cửu trùng án kiếm khởi
đương tịch
半 夜 飛 檄 傳 將 軍
Bán dạ phi hịch truyền
tướng quân
清 平 三 百 年 天 下
Thanh bình tam bách niên thiên hạ
從 此 戎 衣 屬 武 臣
Tùng thử nhung y thuộc
vũ thần
使 星 天 門 催 曉 發 |
| 10 |
Sứ tinh thiên môn thôi hiểu
phát
行 人 重 法 輕 離 別
Hành nhân trọng pháp khinh ly
biệt
弓 箭 兮 在 腰
Cung tiễn hề tại
yêu
妻 孥 兮 別 袂
Thê noa hề biệt khuyết
獵 獵 旌 旗 兮 出 塞 愁
Liệp liệp tinh kỳ
hề xuất tái sầu
喧 喧 簫 鼓 兮 辭 家 怨 |
| 15 |
Huyên
huyên tiêu cổ hề từ gia
oán
有 怨 兮 分 攜
Hữu oán hề phân huề
有 愁 兮 契 闊
Hữu sầu hề khế
khoát
*
Đại
ý: Đoạn trên là lời chinh phụ
kể ngọn nguồn: Cơn
gió bụi của trời đất
khiến kẻ má hồng chịu
nỗi lao đao. Rồi tác giả
mượn lời nàng mà tả
cảnh giặc giã ở biên cương,
sự truyền hịch, việc
xuất chinh, và cảnh biệt
ly giữa vợ chồng. |
| 001
002
003
004
005
006
007
008
009
010
011
012
013
014
015
016 |
Thuở
trời đất nổi cơn
gió bụi
Khách
má hồng nhiều nỗi truân
chuyên
Xanh
kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai
gây dựng cho nên nỗi này
Trống
Trường Thành lung lay bóng nguyệt
Khói
Cam Tuyền mờ mịt thức
mây
Chín
tầng gươm báu trao tay
Nửa
đêm truyền hịch định
ngày xuất chinh
Nước
thanh bình ba trăm năm cũ
Áo nhung
trao quan vũ từ đây
Sứ
trời sớm giục đường
mây
Phép
công là trọng, niềm tây sá nào
Ðường
giong ruổi lưng đeo cung
tiễn
Buổi
tiễn đưa lòng bận
thê noa
Bóng
cờ tiếng trống xa xa
Sầu
lên ngọn ải, oán ra cửa
phòng |
| |
II
良 人 二 十 吳 門 豪
Lương nhân nhị thập
Ngô môn hào
投 筆 硯 兮 事 弓 刀
Đầu bút nghiên hề
sự cung đao
直 把 連 城 獻 明 聖 |
| 20 |
Trực bả liên thành hiến
minh thánh
願 將 尺 劍 斬 天 驕
Nguyện tương xích
kiếm trảm thiên kiêu
丈 夫 千 里 志 馬 革
Trượng phu thiên lý chí
mã cách
泰 山 一 擲 輕 鴻 毛
Thái Sơn nhất trịch
khinh hồng mao
便 辭 閨 閫 從 征 戰
Tiện từ khuê khổn
tùng chinh chiến
西 風 鳴 鞭 出 渭 橋 |
| 25 |
Tây phong minh tiên xuất Vị
kiều
渭 橋 頭 清 水 溝
Vị kiều đầu
thanh thuỷ câu
清 水 邊 青 草 途
Thanh thuỷ biên thanh thảo
đồ
送 君 處 兮 心 悠 悠
Tống quân xứ hề
tâm du du
君 登 途 兮 妾 恨 不 如 駒
Quân đăng đồ
hề thiếp hận bất
như câu
君 臨 流 兮 妾 恨 不 如 舟 |
| 30 |
Quân lâm lưu hề thiếp
hận bất như chu
清 清 有 流 水
Thanh thanh hữu lưu thuỷ
不 洗 妾 心 愁
Bất tẩy thiếp tâm
sầu
青 青 有 芳 草
Thanh thanh hữu phương
thảo
不 忘 妾 心 憂
Bất vong thiếp tâm ưu
語 復 語 兮 執 君 手 |
| 35 |
Ngữ phục ngữ hề
chấp quân thủ
步 一 步 兮 牽 君 襦
Bộ nhất bộ hề
khiên quân nhu
妾 心 隨 君 似 明 月
Thiếp tâm tuỳ quân tự
minh nguyệt
君 心 萬 里 千 山 箭
Quân tâm vạn lý Thiên Sơn
tiễn
擲 離 杯 兮 舞 龍 泉
Trịch ly bôi hề vũ
Long Tuyền
橫 征 槊 兮 指 虎 穴 |
| |
| 40 |
Hoành chinh sáo hề chỉ
hổ huyệt
云 隨 介 子 獵 樓 蘭
Vân tuỳ Giới Tử
liệp Lâu Lan
笑 向 蠻 溪 談 馬 援
Tiếu hướng Man Khê
đàm Mã Viện
君 穿 壯 服 紅 如 霞
Quân xuyên trang phục hồng
như hà
君 騎 驍 馬 白 如 雪
Quân kỵ kiêu mã bạch như
tuyết
驍 馬 兮 鸞 鈴 |
| 45 |
Kiêu mã hề loan linh
征 鼓 兮 人 行
Chinh cổ hề nhân hành
須 臾 中 兮 對 面
Tu du trung hề đối
diện
頃 刻 裡 兮 分 程
Khoảnh khắc lý hề
phân trình
*
Đại
ý: Chinh phụ tả thân thế của
chồng, rồi tả nỗi
lòng mình từ khi vợ chồng
chia ly vì chinh chiến. |
| 017
018
019
020
021
022
023
024
025
026
027
028
029
030
031
032
033
034
035
036
037
038
039
040
041
042 |
Chàng
tuổi trẻ vốn giòng hào
kiệt
Xếp
bút nghiên theo việc đao cung
Thành
liền mong tiến bệ rồng
Thước
gươm đã quyết chẳng
dung giặc trời
Chí làm
trai dặm nghìn da ngựa
Gieo
Thái Sơn như tựa hồng
mao
Giã nhà
đeo bức chiến bào
Thét
roi cầu Vị, ào ào gió thu
Ngòi
đầu cầu nước
trong như lọc
Ðường
bên cầu cỏ mọc còn non
Ðưa
chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ
khôn bằng ngựa, thủy khôn
bằng thuyền
Nước
trong chảy lòng phiền chẳng
rửa
Cỏ
xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ
rồi tay lại trao liền
Bước
đi một bước lại
vin áo chàng
Lòng
thiếp tựa bóng trăng theo
dõi
Dạ
chàng xa ngoài cõi Thiên San
Múa gươm
rượu tiễn chưa tàn
Chỉ
ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
Săn
Lâu Lan, rằng theo Giới Tử
Tới
Man Khê, bàn sự Phục Ba
Áo chàng
đỏ tựa ráng pha
Ngựa
chàng sắc trắng như là
tuyết in
Tiếng
nhạc ngựa lần chen tiếng
trống
Giáp
mặt rồi phút bỗng chia
tay |
| |
III
分 程 兮 河 梁
Phân trình hề hà lương
徘 徊 兮 路 旁 |
| 50 |
Bồi hồi hề lộ
bàng
路 旁 一 望 兮 旆 央 央
Lộ bàng nhất vọng
hề bái ương ương
前 車 兮 北 細 柳
Tiền xa hề Bắc Tế
Liễu
後 騎 兮 西 長 楊
Hậu kỵ hề Tây Trường
Dương
騎 車 相 擁 君 臨 塞
Kỵ xa tương ủng
quân lâm tái
楊 柳 那 知 妾 斷 腸 |
| 55 |
Dương liễu na tri
thiếp đoạn trường
去 去 落 梅 聲 漸 遠
Khứ khứ lạc mai
thanh tiệm viễn
行 行 征 旆 色 何 忙
Hành hành chinh bái sắc hà mang
望 雲 去 兮 郎 別 妾
Vọng vân khứ hề
lang biệt thiếp
望 山 歸 兮 妾 思 郎
Vọng sơn quy hề thiếp
tư lang
郎 去 程 兮 濛 雨 外 |
| 60 |
Lang khứ trình hề mông
vũ ngoại
妾 歸 處 兮 昨 夜 房
Thiếp quy xứ hề
tạc dạ phòng
歸 去 兩 回 顧
Quy khứ lưỡng hồi
cố
雲 青 兮 山 蒼
Vân thanh hề sơn thương
郎 顧 妾 兮 咸 陽
Lang cố thiếp hề
Hàm Dương
妾 顧 郎 兮 瀟 湘 |
| 65 |
Thiếp cố lang hề
Tiêu Tương
瀟 湘 煙 阻 咸 陽 樹
Tiêu Tương yên trở
Hàm Dương thụ
咸 陽 樹 隔 瀟 湘 江
Hàm Dương thụ cách
Tiêu Tương giang
相 顧 不 相 見
Tương cố bất
tương kiến
青 青 陌 上 桑
Thanh thanh mạch thượng
tang
陌 上 桑 陌 上 桑 |
| 70 |
Mạch thượng tang
mạch thượng tang
妾 意 君 心 誰 短 長
Thiếp ý quân tâm thuỳ
đoản trường
*
Đại
ý: Phút chia ly, chinh phụ ngổn ngang tâm
sự và ngập tràn nhung nhớ. |
| 043
044
045
046
047
048
049
050
051
052
053
054
055
056
057
058
059
060
061
062
063
064 |
Hà Lương
chia rẽ đường này
Bên đường,
trông bóng cờ bay ngùi ngùi
Quân
trước đã gần ngoài
doanh Liễu
Kỵ
sau còn khuất nẻo Tràng Dương
Quân
đưa chàng ruổi lên đường
Liễu
dương biết thiếp đoạn
trường này chăng?
Tiếng
địch trổi nghe chừng
đồng vọng
Hàng
cờ bay trong bóng phất phơ
Dấu
chàng theo lớp mây đưa
Thiếp
nhìn rặng núi ngẩn ngơ
nỗi nhà
Chàng
thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp
lại về buồng cũ gối
chăn
Ðoái
trông theo đã cách ngăn
Tuôn
màu mây biếc, trải ngần
núi xanh
Chốn
Hàm Dương chàng còn ngảnh
lại
Bến
Tiêu Tương thiếp hãy trông
sang
Khói
Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm
Dương cách Tiêu Tương
mấy trùng
Cùng
trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy
xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn
dâu xanh ngắt một mầu
Lòng
chàng ý thiếp ai sầu hơn
ai? |
| |
IV
自 從 別 後 風 沙 隴
Tự tùng biệt hậu
phong sa lũng
明 月 知 君 何 處 宿
Minh nguyệt tri quân hà xứ
túc
古 來 征 戰 場
Cổ lai chinh chiến trường
萬 里 無 人 屋 |
| 75 |
Vạn lý vô nhân ốc
風 熬 熬 兮 打 得 人 顏 憔
Phong ngao ngao hề đả
đắc nhân nhan tiều
水 深 深 兮 怯 得 馬 蹄 縮
Thuỷ thâm thâm hề khiếp
đắc mã đề súc
戍 夫 枕 鼓 臥 龍 沙
Thú phu chẩm cổ ngọa
Long sa
戰 士 抱 鞍 眠 虎 陸
Chiến sĩ bão yên miên hổ
lục
今 朝 漢 下 白 登 城 |
| 80 |
Kim triêu Hán há Bạch Đăng
thành
明 日 胡 窺 青 海 曲
Minh nhật Hồ khuy Thanh
Hải khúc
青 海 曲 青 山 高 復 低
Thanh Hải khúc thanh sơn
cao phục đê
青 山 前 青 溪 斷 復 續
Thanh sơn tiền thanh khê
đoạn phục tục
青 山 上 雪 蒙 頭
Thanh sơn thượng tuyết
mông đầu
青 溪 下 水 沒 腹 |
| 85 |
Thanh khê hạ thuỷ một
phúc
可 憐 多 少 鐵 衣 人
Khả liên đa thiểu
thiết y nhân
思 歸 當 此 愁 顏 蹙
Tư quy đương thử
sầu nhan xúc
錦 帳 君 王 知 也 無
Cẩm trướng quân vương
tri dã vô
艱 難 誰 為 畫 征 夫
Gian nan thuỳ vị họa
chinh phu
料 想 良 人 經 歷 處 |
| 90 |
Liệu tưởng lương
nhân kinh lịch xứ
蕭 關 角 瀚 海 隅
Tiêu Quan giác hãn hải ngung
霜 村 雨 店虎 落 蛇 區
Sương thôn vũ điếm,
hổ lạc xà khu
風 餐 露 宿 雪 脛 冰 鬚
Phong xan lộ túc, tuyết
hĩnh băng tu
登 高 望 雲 色
Đăng cao vọng vân
sắc
安 復 不 生 愁 |
| 95 |
An phục bất sinh sầu
*
Đại ý:
Chinh phụ kể lể sự
vất vả gian nan của chồng
tại biên cương và nỗi
nhớ nhà của chàng. |
| 065
066
067
068
069
070
071
072
073
074
075
076
077
078
079
080
081
082
083
084
085
086
087
088 |
Chàng
từ đi vào nơi gió cát
Ðêm trăng
này nghỉ mát phương nao?
Xưa
nay chiến địa dường
bao
Nội
không muôn dặm xiết bao dãi
dầu
Hơi
gió lạnh, người rầu
mặt dạn
Dòng
nước sâu, ngựa nản
chân bon
Ôm yên,
gối trống đã chồn
Nằm
vùng cát trắng, ngủ cồn
rêu xanh
Nay Hán
xuống Bạch Thành đóng lại
Mai Hồ
vào Thanh Hải dòm qua
Hình
khe, thế núi gần xa
Dứt
thôi lại nối, thấp đà
lại cao
Sương
đầu núi buổi chiều
như giội
Nước
lòng khe nẻo suối còn sâu
Não người
áo giáp bấy lâu
Lòng
quê qua đó mặt sầu chẳng
khuây
Trên
trướng gấm thấu hay
chăng nhẽ
Mặt
chinh phu ai vẽ cho nên?
Tưởng
chàng giong ruổi mấy niên
Chẳn
nơi Hãn Hải thì miền Tiêu
Quan
Ðã trắc
trở đòi ngàn xà hổ
Lại
lạnh lùng những chỗ sương
phong
Lên cao
trông thức mây lồng
Lòng nào là chẳng động
lòng bi thương! |
| |
V
自 從 別 後 東 南 徼
Tự tùng biệt hậu
Ðông Nam kiếu
東 南 知 君 戰 何 道
Đông Nam tri quân chiến
hà đạo
古 來 征 戰 人
Cổ lai chinh chiến nhân
性 命 輕 如 草
Tính mệnh khinh như thảo
鋒 刃 下 溫 溫 挾 纊 主 恩 深 |
| 100 |
Phong nhận hạ ôn ôn hiệp
khoáng chủ ân thâm
時 刻 中 歷 歷 橫 戈 壯 士 夭
Thời khắc trung lịch
lịch hoành qua tráng sĩ yểu
祈 山 舊 塚 月 茫 茫
Kỳ sơn cựu trủng
nguyệt mang mang
淝 水 新 墳 風 裊 裊
Phì thuỷ tân phần phong
niểu niểu
風 裊 裊 空 吹 死 士 魂
Phong niểu niểu không
xuy tử sĩ hồn
月 茫 茫 曾 照 征 夫 貌 |
| 105 |
Nguyệt mang mang tằng
chiếu chinh phu mạo
征 夫 貌 兮 誰 丹 青
Chinh phu mạo hề thuỳ
đan thanh
死 士 魂 兮 誰 哀 弔
Tử sĩ hồn hề
thuỳ ai điếu
可 憐 爭 鬪 舊 江 山
Khả lân tranh đấu
cựu giang sơn
行 人 過 此 情 多 少
Hành nhân quá thử tình đa
thiểu
古 來 征 戰 幾 人 還 |
| 110 |
Cổ lai chinh chiến kỷ
nhân hoàn
班 超 歸 時 鬢 已 斑
Ban Siêu quy thời mấn
dĩ ban
料 想 良 人 馳 騁 外
Liệu tưởng lương
nhân trì sính ngoại
三 尺 劍 一 戎 鞍
Tam xích kiếm nhất nhung
yên
秋 風 沙 草
Thu phong sa thảo
明 月 關 山 |
| 115 |
Minh nguyệt quan san
馬 頭 鳴 鏑
Mã đầu minh đích
城 上 緣 竿
Thành thượng duyên can
功 名 百 忙 裏
Công danh bách mang lý
勞 苦 未 應 閒
Lao khổ vị ưng nhàn
勞 與 閒 誰 與 言 |
| 120 |
Lao dữ nhàn thuỳ dữ ngôn
君 在 天 涯 妾 倚 門
Quân tại thiên nhai, thiếp
ỷ môn
*
Đại
ý: Chinh phụ tả hoàn cảnh gian nan
khôn xiết của chồng đang
chinh chiến nơi biên cương. |
| 089
090
091
092
093
094
095
096
097
098
099
100
101
102
103
104
105
106
107
108
109
110
111
112 |
Chàng
từ sang Ðông Nam khơi nẻo
Biết
nay chàng tiến thảo nơi
đâu?
Những
người chinh chiến bấy
lâu
Như
xem tính mệnh như màu cỏ
cây
Nức
hơi mạnh, ơn dày từ
trước
Trải
chốn nghèo, tuổi được
bao nhiêu?
Non Kỳ
quạnh quẽ trăng treo
Bến
Phì gió thổi đìu hiu mấy
gò
Hồn
tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt
chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh
phu tử sĩ mấy người
Nào ai
mạc mặt, nào ai gọi hồn?
Dấu
binh lửa, nước non như
cũ
Kẻ
hành nhân qua đó chạnh thương
Phận
trai già cõi chiến trường
Chàng
Siêu mái tóc điểm sương
mới về
Tưởng
chàng trải nhiều bề nắng
nỏ
Ba thước
gươm, một cỗ nhung
yên
Xông
pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo
đầu ngựa, giáo lan mặt
thành
Áng công
danh trăm đường rộn
rã
Những
nhọc nhằn nào đã nghỉ
ngơi
Nỗi
lòng biết ngỏ cùng ai
Thiếp
trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây |
| |
VI
倚 門 固 妾 今 生 分
Ỷ môn cố thiếp kim
sinh phận
天 涯 豈 君 平 生 魂
Thiên nhai khởi quân bình sinh
hồn
自 信 相 隨 魚 水 伴
Tự tín tương tuỳ
ngư thuỷ bạn
那 堪 相 隔 水 雲 村 |
| 125 |
Na kham tương cách thuỷ
vân thôn
妾 身 不 想 為 征 婦
Thiếp thân bất tưởng
vi chinh phụ
君 身 豈 學 為 王 孫
Quân thân khởi học vi
vương tôn
何 事 江 南 與 江 北
Hà sự giang Nam dữ giang
Bắc
令 人 愁 曉 更 愁 昏
Linh nhân sầu hiểu cánh
sầu hôn
一 個 是 風 流 少 年 客 |
| 130 |
Nhất cá thị phong lưu
thiếu niên khách
一 個 是 深 閨 少 年 婚
Nhất cá thị thâm khuê
thiếu niên hôn
可 堪 兩 年 少
Khả kham lưỡng niên
thiếu
千 里 各 寒 暄
Thiên lý các hàn huyên
憶 昔 與 君 相 別 時
Ức tích dữ quân tương
biệt thời
柳 條 猶 未 囀 黃 鸝 |
| 135 |
Liễu điều do vị
chuyển hoàng ly
問 君 何 日 歸
Vấn quân hà nhật quy
君 約 杜 鵑 啼
Quân ước đỗ
quyên đề
杜 鵑 已 逐 黃 鸝 老
Đỗ quyên dĩ trục
hoàng ly lão
青 柳 樓 前 語 鷾 鴯
Thanh Liễu lâu tiền ngữ
ý nhi
憶 昔 與 君 相 別 中 |
| 140 |
Ức tích dữ quân tương
biệt trung
雪 梅 猶 未 識 東 風
Tuyết mai do vị thức
Ðông phong
問 君 何 日 歸
Vấn quân hà nhật quy
君 指 桃 花 紅
Quân chỉ đào hoa hồng
桃 花 已 伴 東 風 去
Đào hoa dĩ bạn Ðông
phong khứ
老 梅 江 上 又 芙 蓉 |
| 145 |
Lão mai giang thượng hựu
phù dung
與 我 約 何 所
Dữ ngã ước hà sở
乃 約 隴 西 岑
Nãi ước Lũng Tây sầm
日 中 兮 不 來
Nhật trung hề bất
lai
墜 葉 兜 我 簪
Trụy diệp đâu ngã
trâm
竚 立 空 涕 泣 |
| 150 |
Trữ lập không thế
khấp
荒 邨 喧 午 禽
Hoang thôn huyên ngọ cầm
與 我 約 何 所
Dữ ngã ước hà sở
乃 約 漢 陽 橋
Nãi ước Hán Dương
kiều
日 晚 兮 不 來
Nhật vãn hề bất
lai
谷 風 吹 我 袍 |
| 155 |
Cốc phong xuy ngã bào
竚 立 空 涕 泣
Trữ lập không thế
khấp
寒 江 起 暮 潮
Hàn giang khởi mộ trào
*
Đại
ý: Chinh phụ kể lể nỗi lòng
đau xót khi nàng luôn tựa cửa
ngóng trông chồng nơi chiến
địa xa xôi. Và nàng mơ ước
một ngày đoàn tụ sum vầy. |
| 113
114
115
116
117
118
119
120
121
122
123
124
125
126
127
128
129
130
131
132
133
134
135
136
137
138
139
140 |
Trong
cửa này đã đành phận
thiếp
Ngoài
mây kia há kiếp chàng vay?
Những
mong cá nước sum vầy
Nào ngờ
đôi ngả nước mây cách
vời
Thiếp
chẳng tưởng ra người
chinh phụ
Chàng
há từng học lũ vương
tôn
Cớ
sao cách trở nước non
Khiến
người thôi sớm thôi hôm
những sầu
Khách
phong lưu đương chừng
niên thiếu
Sánh
nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ
nào đôi lứa thiếu niên
Quan
sơn để cách, hàn huyên bao
đành
Thuở
lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi
ngày về, ước nẻo
quyên ca
Nay quyên
đã giục, oanh già
Ý nhi
lại gáy trước nhà líu lo
Thuở
đăng đồ, mai chưa
dạn gió
Hỏi
ngày về, chỉ độ đào
bông
Nay đào
đã quyến gió Ðông
Phù dung
lại đã bên sông bơ sờ
Hẹn
cùng ta: Lũng Tây nham ấy
Sớm
đã trông, nào thấy hơi tăm?
Ngập
ngừng, lá rụng cành trâm
Buổi
hôm nghe dậy tiếng cầm
xôn xao
Hẹn
nơi nao, Hán Dương cầu
nọ
Chiều
lại tìm, nào thấy tiêu hao?
Ngập
ngừng gió thổi chéo bào
Bãi
hôm tuôn dẫy nước trào
mênh mông |
| |
VII
昔 年 寄 信 勸 君 回
Tích niên ký tín khuyến quân
hồi
今 年 寄 信 勸 君 來
Kim niên ký tín khuyến quân
lai
信 來 人 未 來
Tín lai nhân vị lai
楊 花 零 落 委 蒼 苔 |
| 160 |
Dương hoa linh lạc
ủy thương đài
蒼 苔 蒼 苔 又 蒼 苔
Thương đài thương
đài hựu thương đài
一 步 閒 庭 百 感 催
Nhất bộ nhàn đình
bách cảm thôi
昔 年 回 書 訂 妾 期
Tích niên hồi thư đính
thiếp kỳ
今 年 回 書 訂 妾 歸
Kim niên hồi thư đính
thiếp quy
書 歸 人 未 歸 |
| 165 |
Thư quy nhân vị quy
紗 窗 寂 寞 轉 斜 暉
Sa song tịch mịch chuyển
tà huy
斜 暉 斜 暉 又 斜 暉
Tà huy tà huy hựu tà huy
十 約 佳 期 九 度 違
Thập ước giai kỳ
cửu độ vi
試 將 去 日 從 頭 數
Thí tương khứ nhật
tùng đầu sổ
不 覺 荷 錢 已 三 鑄 |
| 170 |
Bất giác hà tiền dĩ
tam chú
最 苦 是 連 年 紫 塞 人
Tối khổ thị liên
niên tử tái nhân
最 苦 是 千 里 黃 花 戍
Tối khổ thị thiên
lý hoàng hoa thú
黃 花 戍 誰 無 堂 上 親
Hoàng hoa thú thuỳ vô đường
thượng thân
紫 塞 人 誰 無 閨 中 婦
Tử tái nhân thuỳ vô khuê
trung phụ
有 親 安 可 暫 相 離 |
| 175 |
Hữu thân an khả tạm
tương ly
有 婦 安 能 久 相 負
Hữu phụ an năng cửu
tương phụ
君 有 老 親 鬢 如 霜
Quân hữu lão thân mấn
như sương
君 有 嬰 兒 年 且 孺
Quân hữu anh nhi niên thả
nhụ
老 親 兮 倚 門
Lão thân hề ỷ môn
嬰 兒 兮 待 哺 |
| 180 |
Anh nhi hề đãi bộ
供 親 餐 兮 妾 為 男
Cung thân xan hề thiếp
vi nam
課 子 書 兮 妾 為 父
Khóa tử thư hề thiếp
vi phụ
供 親 課 子 此 一 身
Cung thân khóa tử thử
nhất thân
傷 妾 思 君 今 幾 度
Thương thiếp tư
quân kim kỷ độ
思 君 昨 日 兮 已 過 |
| 185 |
Tư quân tạc nhật
hề dĩ quá
思 君 今 年 兮 又 暮
Tư quân kim niên hề hựu
mộ
君 淹 留 二 年 三 年 更 四 年
Quân yêm lưu nhị niên tam
niên cánh tứ niên
妾 情 懷 百 縷 千 縷 還 萬 縷
Thiếp tình hoài bách lũ
thiên lũ hoàn vạn lũ
安 得 在 君 邊
An đắc tại quân biên
訴 妾 衷 腸 苦 |
| 190 |
Tố thiếp trung trường
khổ
妾 有 漢 宮 釵
Thiếp hữu Hán cung thoa
曾 是 嫁 時 將 送 來
Tằng thị giá thời
tương tống lai
憑 誰 寄 君 子
Bằng thuỳ ký quân tử
表 妾 相 思 懷
Biểu thiếp tương
tư hoài
妾 有 秦 樓 鏡 |
| 195 |
Thiếp hữu Tần lâu kính
曾 與 郎 初 相 對 影
Tằng dữ lang sơ tương
đối ảnh
憑 誰 寄 君 子
Bằng thùy ký quân tử
照 妾 今 孤 另
Chiếu thiếp kim cô lánh
妾 有 鉤 指 銀
Thiếp hữu câu chỉ
ngân
手 中 時 相 親 |
| 200 |
Thủ trung thời tương
thân
憑 誰 寄 君 子
Bằng thuỳ ký quân tử
微 物 寓 慇 懃
Vi vật ngụ ân cần
妾 有 搔 頭 玉
Thiếp hữu tao đầu
ngọc
嬰 兒 年 所 弄
Anh nhi niên sở lộng
憑 誰 寄 君 子 |
| 205 |
Bằng thuỳ ký quân tử
他 鄉 幸 珍 重
Tha hương hạnh trân
trọng
*
Đại
ý: Nàng vẫn kể lể nỗi lòng
khi chia ly, thư gởi cho chồng
mà chẳng có hồi âm. Vắng
chồng, nàng đảm đương
mọi việc trong nhà, phụng
dưỡng mẹ và dạy con,
đồng thời nàng mong gởi
những vật thân quý đến
chồng để bày tỏ tình
nhớ thương. |
| 141
142
143
144
145
146
147
148
149
150
151
152
153
154
155
156
157
158
159
160
161
162
163
164
165
166
167
168
169
170
171
172
173
174
175
176 |
Tin thường
lại, người không thấy
lại
Gốc
hoa tàn đã trải rêu xanh
Rêu xanh
mấy lớp chung quanh
Sân đi
một bước, trăm tình
ngẩn ngơ
Thư
thường tới, người
không thấy tới
Bức
rèm thưa lần dãi bóng dương
Bóng
dương mấy buổi xuyên
ngang
Lời
sao mười hẹn, chín thường
đơn sai
Thử
tính lại diễn khơi ngày
ấy
Tiền
sen này đã nẩy là ba
Xót người
lần lữa ải xa
Xót người
nương chốn Hoàng Hoa dặm
dài
Tình
gia thất nào ai chẳng có
Kìa lão
thân, khuê phụ nhớ thương
Mẹ
già phơ phất mái sương
Con thơ
măng sữa, vả đương
phù trì
Lòng
lão thân buồn khi tựa cửa
Miệng
hài nhi chờ bữa mớm cơm
Ngọt
bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy
con đèn sách thiếp làm phụ
thân
Nay một
thân nuôi già dạy trẻ
Nỗi
quan hoài mang mể biết bao!
Nhớ
chàng trải mấy sương
sao
Xuân
từng đổi mới, Ðông
nào còn dư
Kể
năm đã ba tư cách diễn
Mối
sầu thêm nghìn vạn ngổn
ngang
Ước
gì gần gũi tấc gang
Giãi
niềm cay đắng để
chàng tỏ hay
Thoa
cung Hán thuở ngày xuất giá
Gương
lầu Tần dấu đã soi
chung
Cậy
ai mà gửi tới cùng?
Ðể
chàng thấu hết tấm lòng
tương tư
Nhẫn
đeo tay mọi khi ngắm nghía
Ngọc
cài đầu thuở bé vui tươi
Cậy
ai mà gửi tới nơi
Ðể chàng trân trọng dấu
người tương thân. |
| |
VIII
昔 年 音 信 有 來 時
Tích niên âm tín hữu lai thời
今 年 音 稀 信 亦 稀
Kim niên âm hy tín diệc hy
見 雁 枉 然 思 塞 帛
Kiến nhạn uổng nhiên
tư tái bạch
聞 霜 漫 自 製 綿 衣 |
| 210 |
Văn sương mạn
tự chế miên y
西 風 欲 寄 無 鴻 便
Tây phong dục ký vô hồng
tiện
天 外 憐 伊 雪 雨 垂
Thiên ngoại liên y tuyết
vũ thuỳ
雪 寒 伊 兮 虎 帳
Tuyết hàn y hề hổ
trướng
雨 冷 伊 兮 狼 幃
Vũ lãnh y hề lang vi
寒 冷 般 般 苦 |
| 215 |
Hàn lãnh ban ban khổ
天 外 可 憐 伊
Thiên ngoại khả lân y
錦 字 題 詩 封 更 展
Cẩm tự đề thi
phong cánh triển
金 錢 問 卜 信 還 疑
Kim tiền vấn bốc
tín hoàn nghi
幾 度 黃 昏 時
Kỷ độ hoàng hôn thời
重 軒 人 獨 立 |
| 220 |
Trùng hiên nhân độc lập
幾 回 明 月 夜
Kỷ hồi minh nguyệt
dạ
單 枕 鬢 斜 攲
Đơn chẩm mấn
tà khi
不 關 酖 與 酣
Bất quan trầm dữ
hàm
惛 惛 人 似 醉
Hôn hôn nhân tự tuý
不 關 愚 與 惰 |
| 225 |
Bất quan ngu dữ nọa
懵 懵 意 如 癡
Mộng mộng ý như si
簪 斜 委 鬌 髼 無 奈
Trâm tà uỷ đoả bồng
vô nại
裙 褪 柔 腰 瘦 不 支
Quần thối nhu yêu sấu
bất chi
晝 沈 沈 午 院 行 如 墜
Trú trầm trầm ngọ
viện hành như truỵ
夕 悄 悄 湘 簾 捲 又 垂 |
| 230 |
Tịch tiêu tiêu tương
liêm quyển hựu thuỳ
簾 外 窺 日 出 枝 頭 無 鵲 報
Liêm ngoại khuy nhật xuất
chi đầu vô thước báo
簾 中 坐 夜 來 心 事 只 燈 知
Liêm trung tọa dạ lai
tâm sự chỉ đăng tri
燈 知 若 無 知
Đăng tri nhược
vô tri
妾 悲 只 自 悲
Thiếp bi chỉ tự
bi
悲 又 悲 兮 更 無 言 |
| 235 |
Bi hựu bi hề cánh vô ngôn
燈 花 人 影 總 堪 憐
Đăng hoa nhân ảnh
tổng kham lân
咿 喔 雞 聲 通 五 夜
Y ốc kê thanh thông ngũ
dạ
披 拂 槐 陰 度 八 磚
Phi phất hòe âm độ
bát chuyên
愁 似 海 刻 如 年
Sầu tự hải, khắc
như niên
強 燃 香 花 魂 消 檀 炷 下 |
| 240 |
Cưỡng nhiên hương
hoa hồn tiêu đàn chú hạ
強 臨 鏡 玉 筋 墜 菱 花 前
Cưỡng lâm kính ngọc
cân trụy lăng hoa tiền
強 援 琴 指 下 驚 停 鸞 鳳 柱
Cưỡng viện cầm
chỉ hạ kinh đình loan phượng
trụ
強 調 瑟 曲 中 悲 遏 鴛 鴦 絃
Cưỡng điều sắt
khúc trung bi yết uyên ương
huyền
此 意 春 風 若 肯 傳
Thử ý xuân phong nhược
khẳng truyền
千 金 借 力 寄 燕 然 |
| 245 |
Thiên kim tá lực ký Yên Nhiên
燕 然 未 能 傳
Yên Nhiên vị năng truyền
憶 君 迢 迢 兮 路 如 天
Ức quân thiều thiều
hề lộ như thiên
*
Đại
ý: Chinh phụ than thở niềm cô đơn
khi cách xa chồng và không có tin
tức gì của chàng. Chàng dãi
dầu sương tuyết lạnh
giá nơi biên cương, còn nàng
thì khuê phòng quạnh quẽ. Nàng
muốn gởi thư và áo lạnh
cho chồng nhưng không biết
gởi đi đâu. |
| 177
178
179
180
181
182
183
184
185
186
187
188
189
190
191
192
193
194
195
196
197
198
199
200
201
202
203
204
205
206
207
208
209
210
211
212 |
Trải
mấy thu, tin đi tin lại
Tới
xuân này tin hãy vắng không
Thấy
nhàn, luống tưởng thư
phong
Nghe
hơi sương, sắm áo bông
sẵn sàng
Gió tây
nổi không đường hồng
tiện
Xót cõi
ngoài tuyết quyến mưa sa
Màn mưa
trướng tuyết xông pha
Nghĩ
thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi
ngoài
Ðề
chữ gấm, phong thôi lại
mở
Gieo
bói tiền tin dở còn ngờ
Trời
hôm tựa bóng ngẩn ngơ
Trăng
khuya nương gối bơ
phờ tóc mai
Há như
ai, hồn say bóng lẫn
Bỗng
thơ thơ thẩn thẩn
hư không
Trâm
cài, xiêm giắt thẹn thùng
Lệch
làn tóc rối, lỏng vòng lưng
eo
Dạo
hiên vắng thầm gieo từng
bước
Bức
rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài
rèm thước chẳng mách tin
Trong
rèm dường đã có đèn
biết chăng?
Ðèn có
biết, dường bằng
chẳng biết
Lòng
thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn
rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn
kia với bóng người khá
thương!
Gà eo
óc gáy sương năm trống
Hoè phất
phơ rủ bóng bốn bên
Khắc
giờ đằng đẵng
như niên
Mối
sầu dằng dặc tựa
miền bể xa
Hương
gượng đốt, hồn
đà mê mải
Gương
gượng soi, lệ lại
chứa chan
Sắt
cầm gượng gảy ngón
đàn
Dây uyên
kinh đứt, phím loan ngại
chùng
Lòng
này gửi gió đông có tiện
Nghìn
vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên
dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm
đường lên bằng trời |
| |
IX
天 遠 未 易 通
Thiên viễn vị dị
thông
憶 君 悠 悠 兮 思 何 窮
Ức quân du du hề tứ
hà cùng
懷 人 處 傷 心 胸 |
| 250 |
Hoài nhân xứ thương
tâm hung
樹 葉 青 霜 裡
Thụ diệp thanh sương
lý
蛩 聲 細 雨 中
Cùng thanh tế vũ trung
霜 斧 殘 兮 楊 柳
Sương phủ tàn hề
dương liễu
雨 鋸 損 兮 梧 桐
Vũ cứ tổn hề
ngô đồng
鳥 返 高 舂 |
| 255 |
Điểu phản cao thung
露 下 低 叢
Lộ há đê tùng
寒 垣 候 虫
Hàn viên hậu trùng
遠 寺 曉 鐘
Viễn tự hiểu chung
蟋 蟀 數 聲 雨
Tất suất sổ thanh
vũ
芭 蕉 一 院 風 |
| 260 |
Ba tiêu nhất viện phong
風 裂 紙 窗 穿 帳 隙
Phong liệt chỉ song xuyên
trướng khích
月 移 花 影 上 簾 櫳
Nguyệt di hoa ảnh thướng
liêm lung
花 前 月 照 月 自 白
Hoa tiền nguyệt chiếu
nguyệt tự bạch
月 下 花 開 花 自 紅
Nguyệt hạ hoa khai hoa
tự hồng
月 花 花 月 兮 影 重 重 |
| 265 |
Nguyệt hoa hoa nguyệt
hề ảnh trùng trùng
花 前 月 下 兮 心 忡 忡
Hoa tiền nguyệt hạ
hề tâm xung xung
千 般 懶 萬 事 慵
Thiên ban lãn, vạn sự
dung
慵 女 工 錦 軸 恥 拋 鴛 對 偶
Dung nữ công cẩm trục
sỉ phao uyên đối ngẫu
慵 婦 巧 金 針 羞 刺 蝶 雌 雄
Dung phụ xảo kim châm
tu thích điệp thư hùng
慵 粧 對 曉 空 施 粉 |
| 270 |
Dung trang đối hiểu
không thi phấn
慵 語 終 朝 悶 倚 窗 倚 窗
Dung ngữ chung triêu muộn
ỷ song
倚 窗 復 倚 窗
Ỷ song ỷ song phục
ỷ song
郎 君 去 兮 誰 為 容
Lang quân khứ hề thuỳ
vi dung
誰 為 容 兮 空 盤 桓
Thuỳ vi dung hề không
bàn hoàn
郎 君 去 兮 隔 重 關 |
| 275 |
Lang quân khứ hề cách
trùng quan
何 啻 天 帝 孫
Hà thí Thiên đế tôn
冷 落 泣 銀 渚
lãnh lạc khấp Ngân Chử
何 啻 姮 娥 婦
Hà thí Hằng Nga phụ
凄 凉 坐 廣 寒
thê lương tọa Quảng
Hàn
藉 愁 兮 為 枕 |
| 280 |
Tạ sầu hề vi chẩm
煮 悶 兮 為 餐
Chử muộn hề vi xan
欲 將 酒 制 愁
Dục tương tửu
chế sầu
愁 重 酒 無 力
Sầu trọng tửu vô
lực
欲 將 花 解 悶
Dục tương hoa giải
muộn
悶 壓 花 無 顏 |
| 285 |
Muộn áp hoa vô nhan
愁 悶 總 為 愁 悶 誤
Sầu muộn tổng vi
sầu muộn ngộ
悶 愁 化 作 九 泉 灘
Muộn sầu hóa tác cửu
tuyền than
*
Đại ý:
Vẫn là nỗi sầu muộn
và nhớ nhung của chinh phụ. |
| 213
214
215
216
217
218
219
220
221
222
223
224
225
226
227
228
229
230
231
232
233
234
235
236
237
238
239
240
241
242
243
244 |
Trời
thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi
nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh
buồn người thiết
tha lòng
Cành
cây sương đượm,
tiếng trùng mưa phun
Sương
như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết
dường cưa xẻ héo cành
ngô
Giọt
sương phủ bụi chim
gù
Sâu tường
kêu vẳng, chuông chùa nện khơi
Vài tiếng
dế nguyệt soi trước
ốc
Một
hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
Lá màn
lay ngọn gió xuyên
Bóng
hoa theo bóng nguyệt lên trước
rèm
Hoa giãi
nguyệt, nguyệt in một
tấm
Nguyệt
lồng hoa, hoa thắm từng
bông
Nguyệt
hoa, hoa nguyệt trùng trùng
Trước
hoa, dưới nguyệt, trong
lòng xiết đau
Ðâu xiết
kể, muôn sầu nghìn não
Từ
nữ công, phụ xảo đều
nguôi
Biếng
cầm kim, biếng đưa
thoi
Oanh
đôi thẹn dệt, bướm
đôi ngại thùa
Mặt
biếng tô, miệng càng biếng
nói
Sớm
lại chiều, dòi dõi nương
song
Nương
song luống ngẩn ngơ lòng
Vắng
chàng điểm phấn trang hồng
với ai?
Biếng
trang điểm, lòng người
sầu tủi
Xót nỗi
chàng, ngoài cõi trùng quan
Khác
gì ả Chức, chị Hằng
Bến
Ngân sùi sụt, cung trăng chốc
mòng
Sầu
ôm nặng, hãy chồng làm gối
Buồn
chứa đầy, hãy thổi
làm cơm
Mượn
hoa, mượn rượu giải
buồn
Sầu làm rượu nhạt,
muộn làm hoa ôi |
| |
X
試 瓊 笙 兮 不 成 響
Thí quỳnh sanh hề bất
thành hưởng
抱 銀 箏 兮 不 忍 彈
Bão ngân tranh hề bất
nhẫn đàn
思 遠 塞 兮 行 路 難 |
| 290 |
Tư viễn tái hề hành
lộ nan
念 征 夫 兮 囊 索 單
Niệm chinh phu hề nang
tác đơn
鵑 聲 啼 落 關 情 淚
Quyên thanh đề lạc
quan tình lệ
樵 鼓 敲 殘 帶 憊 肝
Tiều cổ xao tàn đái
bại can
不 勝 憔 悴 形 骸 軟
Bất thăng tiều tụy
hình hài nhuyễn
始 覺 睽 離 滋 味 酸 |
| 295 |
Thủy giác khuê ly tư vị
toan
滋 味 酸 兮 更 辛 酸
Tư vị toan hề toan
cánh tân
酸 辛 端 的 為 良 人
Toan tân đoan đích vị
lương nhân
為 良 人 兮 雙 妾 淚
Vị lương nhân hề
song thiếp lệ
為 良 人 兮 隻 妾 身
Vị lương nhân hề
chích thiếp thân
妾 身 不 到 君 征 帳 |
| 300 |
Thiếp thân bất đáo
quân chinh trướng
妾 淚 不 到 君 征 巾
Thiếp lệ bất đáo
quân chinh cân
惟 有 夢 魂 無 不 到
Duy hữu mộng hồn
vô bất đáo
尋 君 夜 夜 到 江 津
Tầm quân dạ dạ đáo
giang tân
尋 君 兮 陽 台 路
Tầm quân hề Dương
Đài lộ
會 君 兮 湘 水 濱 |
| 305 |
Hội quân hề Tương
thuỷ tân
記 得 幾 番 歡 會 處
Ký đắc kỷ phiên hoan
hội xứ
無 非 一 枕 夢 中 春
Vô phi nhất chẩm mộng
trung xuân
此 身 反 恨 不 如 夢
Thử thân phản hận
bất như mộng
隴 水 函 關 與 子 親
Lũng Thuỷ, Hàm Quan dữ
tử thân
夢 去 每 憎 驚 更 斷 |
| 310 |
Mộng khứ mỗi tăng
kinh cánh đoạn
夢 回 又 慮 幻 非 真
Mộng hồi hựu lự
huyễn phi chân
惟 有 寸 心 真 不 斷
Duy hữu thốn tâm chân
bất đoạn
未 嘗 頃 刻 少 離 君
Vị thường khoảnh
khắc thiểu ly quân
心 不 離 君 未 見 君
Tâm bất ly quân vị kiến
quân
凭 高 幾 度 望 征 輪 |
| 315 |
Bằng cao kỷ độ
vọng chinh luân
望 君 何 所 見
Vọng quân hà sở kiến
江 洲 滿 白 蘋
Giang châu mãn bạch tần
燕 草 披 青 縷
Yên thảo phi thanh lũ
秦 桑 染 綠 雲
Tần tang nhiễm lục
vân
南 來 井 邑 半 兵 塵 |
| 320 |
Nam lai tỉnh ấp bán binh
trần
落 日 平 沙 鷺 一 群
Lạc nhật bình sa lộ
nhất quần
望 君 何 所 見
Vọng quân hà sở kiến
官 路 短 長 亭
Quan lộ đoản trường
đình
雲 間 吳 樹 暗
Vân gian Ngô thọ ám
天 際 蜀 山 青 |
| 325 |
Thiên tế Thục sơn thanh
北 來 禾 黍 半 荒 城
Bắc lai hoà thử bán hoang
thành
微 雨 江 樓 笛 一 聲
Vi vũ giang lâu địch
nhất thanh
*
Đại
ý: Nàng vẫn cô đơn và nhung nhớ;
trông ngoại cảnh càng thêm buồn;
chỉ biết tìm chàng trong giấc
mộng. |
| 245
246
247
248
249
250
251
252
253
254
255
256
257
258
259
260
261
262
263
264
265
266
267
268
269
270
271
272
273
274
275
276
277
278
279
280 |
Gõ sanh
ngọc mấy hồi không tiếng
Ôm đàn
tranh mấy phím rời tay
Xót người
hành dịch bấy nay
Dặm
xa mong mỏi hết đầy
lại vơi
Ca quyên
ghẹo, làm rơi nước
mắt
Trống
tiều khua, như đốt
buồng gan
Võ vàng
đổi khác dung nhan
Khuê
ly mới biết tân toan dường
này
Nếm
chua cay tấm lòng mới tỏ
Chua
cay này, há có vì ai?
Vì chàng
lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng
thân thiếp lẻ loi một
bề
Thân
thiếp chẳng gần kề
dưới trướng
Lệ
thiếp nào chút vướng bên
khăn
Duy còn
hồn mộng được
gần
Ðêm đêm
thường đến Giang Tân
tìm người
Tìm chàng
thuở Dương Ðài lối
cũ
Gặp
chàng nơi Tương Phố
bến xưa
Sum vầy
mấy lúc tình cờ
Chẳng
qua trên gối một giờ mộng
Xuân
Giận
thiếp thân lại không bằng
mộng
Ðược
gần chàng bến Lũng, thành
Quan
Khi mơ
những tiếc khi tàn
Tình
trong giấc mộng, muôn vàn cũng
không!
Duy có
một tấm lòng chẳng dứt
Vốn
theo chàng giờ khắc nào nguôi
Lòng
theo song chửa thấy người
Lên cao
mấy lúc trông vời bánh xe
Trông
bến Nam, bãi che mặt nước
Cỏ
biếc um, dâu mướt ngàn
xanh
Nhà thôn
mấy xóm chông chênh
Một
đàn cò đậu trước
ghềnh chiều hôm
Trông
đường Bắc, đôi
chòm quán khách
Rườm
rà xanh cây ngất núi non
Lúa thành
thoi thóp bên cồn
Nghe
thôi địch ngọc véo von
bên lầu |
| |
XI
望 君 何 所 見
Vọng quân hà sở kiến
崆 山 葉 做 堆
Không sơn diệp tố
đôi
自 飛 青 野 雉 |
| 330 |
Tự phi thanh dã trĩ
自 舞 隔 江 梅
Tự vũ cách giang mai
東 去 煙 嵐 慘 不 開
Đông khứ yên lam thảm
bất khai
西 風 飄 薄 鳥 聲 哀
Tây phong phiêu bạc điểu
thanh ai
望 君 何 所 見
Vọng quân hà sở kiến
河 水 曲 如 鉤 |
| 335 |
Hà thủy khúc như câu
長 空 數 點 雁
Trường không sổ điểm
nhạn
遠 浦 一 歸 舟
Viễn phố nhất quy
châu
西 去 松 楸 接 斷 蕪
Tây khứ tùng thu tiếp
đoạn vu
行 人 微 沒 隔 蒼 洲
Hành nhân vi một cách thương
châu
望 盡 天 頭 又 地 頭 |
| 340 |
Vọng tận thiên đầu
hựu địa đầu
幾 日 登 樓 更 下 樓
Kỷ nhật đăng
lâu cánh há lâu
凍 雲 阻 盡 相 思 眼
Đống vân trở tận
tương tư nhãn
何 處 玉 關 征 戰 陬
Hà xứ Ngọc quan chinh
chiến tưu
恨 無 長 房 縮 地 術 |
| 345 |
Hận vô trường phòng
súc địa thuật
恨 無 仙 子 擲 巾 符
Hận vô tiên tử trịch
cân phù
有 心 誠 化 石
Hữu tâm thành hóa thạch
無 淚 可 登 樓
Vô lệ khả đăng
lâu
回 首 長 堤 楊 柳 色
Hồi thủ trường
đề dương liễu
sắc
悔 教 夫 婿 覓 封 侯 |
| 350 |
Hối giao phu tế mịch
phong hầu
不 識 離 家 千 里 外
Bất thức ly gia thiên
lý ngoại
君 心 有 似 妾 心 不
Quân tâm hữu tự thiếp
tâm phầu
君 心 倘 與 妾 心 似
Quân tâm thảng dữ thiếp
tâm tự
妾 亦 於 君 何 怨 尤
Thiếp diệc ư quân
hà oán vưu
妾 心 如 花 常 向 陽 |
| 355 |
Thiếp tâm như hoa thường
hướng dương
只 怕 君 心 如 流 光
Chỉ phạ quân tâm như
lưu quang
流 光 一 去 不 復 照
Lưu quang nhất khứ
bất phục chiếu
花 為 流 光 黃 又 黃
Hoa vị lưu quang hoàng
hựu hoàng
花 黃 更 向 誰 邊 笑
Hoa hoàng cánh hướng thuỳ
biên tiếu
流 光 不 肯 一 迴 照 |
| 360 |
Lưu quang bất khẳng
nhất hồi chiếu
黃 花 卻 為 流 光 老
Hoàng hoa khước vi lưu
quang lão
黃 花 老 兮 落 滿 墻
Hoàng hoa lão hề lạc mãn
tường
花 落 如 今 經 幾 霜
Hoa lạc như kim kinh kỷ
sương
*
Đại
ý: Nhớ nhung lắm thì sinh ngờ, nàng
phân vân không biết chồng còn
thương yêu nàng không, và có nhớ
nàng như nàng hằng nhớ
chàng không. |
| 281
282
283
284
285
286
287
288
289
290
291
292
293
294
295
296
297
298
299
300
301
302
303
304
305
306
307
308 |
Non Ðông
thấy lá hầu chất đống
Trĩ
xập xoè, mai cũng bẻ bai
Khói
mù nghi ngút ngàn khơi
Con chim
bạt gió lạc loài kêu thương
Lũng
Tây thấy nước dường
uốn khúc
Nhạn
liệng không, sóng giục thuyền
câu
Ngàn
thông chen chúc khóm lau
Cách
ghềnh thấp thoáng người
đâu đi về
Trông
bốn bề chân trời mặt
đất
Lên xuống
lầu thấm thoát đòi phen
Lớp
mây ngừng mắt ngại nhìn
Biết
đâu chinh chiến là miền
Ngọc Quan?
Gậy
rút đất dễ khôn học
chước
Khăn
gieo cầu nào được
thấy tiên
Lòng
này hóa đá cũng nên
E không
lệ ngọc mà lên trông lầu
Lúc ngảnh
lại ngắm màu dương
liễu
Thà khuyên
chàng đừng chịu tước
phong
Chẳng
hay muôn dặm ruổi giong
Lòng
chàng có cũng như lòng thiếp
chăng?
Lòng
chàng ví cũng bằng như thế
Lòng
thiếp đâu dám nghĩ gần
xa
Hướng
dương lòng thiếp như
hoa
Lòng
chàng lẩn thẩn e tà bóng dương
Bóng
dương để hoa vàng chẳng
đoái
Hoa để
vàng bởi tại bóng dương
Hoa vàng
hoa rụng quanh tường
Trải xem hoa rụng đêm
sương mấy lần |
| |
XII
庭 蘭 兮 已 摘
Đình lan hề dĩ trích
江 藻 兮 又 芳 |
| 365 |
Giang tảo hề hựu
phương
攝 衣 步 前 堂
Nhiếp y bộ tiền
đường
仰 目 觀 天 章
Ngưỡng mục quan thiên
chương
纖 雲 時 彷 彿
Tiêm vân thời phảng phất
北 斗 忽 低 昂
Bắc đẩu hốt
đê ngang
河 水 翻 明 滅 |
| 370 |
Hà thuỷ phiên minh diệt
參 躔 乍 現 藏
Sâm triền sạ hiện
tàng
月 照 兮 我 床
Nguyệt chiếu hề
ngã sàng
風 吹 兮 我 牆
Phong xuy hề ngã tường
玉 顏 隨 年 削
Ngọc nhan tuỳ niên tước
丈 夫 猶 他 方 |
| 375 |
Trượng phu do tha phương
昔 為 形 與 影
Tích vi hình dữ ảnh
今 為 參 與 商
Kim vi Sâm dữ Thương
君 邊 雲 擁 青 絲 騎
Quân biên vân ủng thanh ty kỵ
妾 處 苔 生 嚮 屧 廊
Thiếp xứ đài sinh
Hưởng điệp lang
廊 內 春 風 日 將 歇 |
| 380 |
Lang nội xuân phong nhật
tương yết
可 憐 誤 盡 良 時 節
Khả lân ngộ tận
lương thời tiết
良 時 節 姚 黃 魏 紫 嫁 東 風
Lương thời tiết
Diêu hoàng Nguỵ tử giá Ðông
phong
良 時 節 織 女 牛 郎 會 明 月
Lương thời tiết
Chức nữ Ngưu lang hội
minh nguyệt
昨 日 未 笄 西 家 娘
Tạc nhật vị kê Tây
gia nương
今 年 已 歸 東 鄰 倩 |
| 385 |
Kim niên dĩ quy Ðông lân thiến
可 怜 兔 守 一 空 房
Khả linh thố thủ
nhất không phòng
年 年 誤 盡 良 時 節
Niên niên ngộ tận lương
thời tiết
良 時 節 兮 忽 如 梭
Lương thời tiết
hề hốt như thoa
人 世 青 春 容 易 過
Nhân thế thanh xuân dung dị
qua
況 復 是 春 悶 未 消 秋 恨 續 |
| 390 |
Huống phục thị xuân
muộn vị tiêu thu hận tục
況 復 是 合 歡 更 少 別 愁 多
Huống phục thị hợp
hoan cánh thiểu biệt sầu
đa
別 愁 秋 恨 兩 相 磨
Biệt sầu thu hận
lưỡng tương ma
蒲 柳 青 青 能 幾 何
Bồ liễu thanh thanh năng
kỷ hà
空 嘆 惜 淚 咨 嗟
Không thán tích lệ tư ta
只 怕 白 到 文君 頭 空 嘆 惜 |
| 395 |
Chỉ phạ bạch đáo
Văn Quân đầu không thán
tích
只 恐 花 到 潘 郎 鬢 浪咨 嗟
Chỉ khủng hoa đáo
Phan lang mấn lãng tư ta
嘆 惜 何 以 為 顏 色 猶 紅 如 嫩 花
Thán tích hà dĩ vi Nhan sắc
do hồng như nộn hoa
咨 嗟 何 以 為
Tư ta hà dĩ vi
光 陰 一 擲 無 回 戈 |
| 400 |
Quang âm nhất trịch vô
hồi qua
咨 命 薄 惜 年 花
Tư mệnh bạc tích
niên hoa
紛 紛 少 婦 幾 成 皤
Phân phân thiếu phụ kỷ
thành bà
香 閣 重 懷 陪 笑 臉
Hương các trùng hoài bồi
tiếu kiểm
花 樓 尚 記 解 香 羅
Hoa lâu thượng ký giải
hương la
恨 天 不 與 人 方 便 |
| 405 |
Hận thiên bất dữ
nhân phương tiện
底 事 到 今 成 坎 坷
Để sự đáo kim
thành khảm kha
坎 坷 坎 坷 知 奈 何
Khảm kha khảm kha tri
nại hà
為 妾 嗟 兮 為 君 嗟
Vị thiếp ta hề vị
quân ta
*
Đại
ý: Nàng lo sợ nhan sắc chóng tàn trong lúc
chưa tái ngộ chồng. |
| 309
310
311
312
313
314
315
316
317
318
319
320
321
322
323
324
325
326
327
328
329
330
331
332
333
334
335
336
337
338
339
340
341
342
343
344
345
346
347
348
349
350
351
352 |
Chồi
lan nọ trước sân đã
hái
Ngọn
tần kia bên bãi đưa hương
Sửa
xiêm dạo bước tiền
đường
Ngửa
trông xem vẻ thiên chương
thẫn thờ
Bóng
Ngân Hà khi mờ khi tỏ
Ðộ
Khuê Triền buổi có buổi
không
Thức
mây đòi lúc nhạt hồng
Chuôi
sao Bắc Ðẩu thôi Ðông lại
Ðoài
Mặt
trăng tỏ thường soi
bên gối
Bừng
mắt trông sương gội
cành khô
Lạnh
lùng thay, bấy nhiêu thu
Gió
may hiu hắt trên đầu tường
vôi
Một
năm một nhạt mùi son phấn
Trượng
phu còn thơ thẩn miền khơi
Xưa
sao hình ảnh chẳng rời
Bây
giờ nỡ để cách vời
Sâm Thương
Chàng
ruổi ngựa dặm trường
mây phủ
Thiếp
dạo hài lầu cũ rêu in
Gió
Xuân ngày một vắng tin
Khá
thương lỡ hết mấy
phen lương thì
Xảy
nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy
Trước
gió xuân vàng tía sánh nhau
Nọ
thì ả Chức chàng Ngâu
Tới
trăng thu lại bắc cầu
sang sông
Thương
một kẻ phòng không luống
giữ
Thời
tiết lành lầm lỡ đòi
nau
Thoi
đưa ngày tháng ruổi mau
Người
đời thấm thoắt qua
màu xuân xanh
Xuân
thu để giận quanh ở
dạ
Hợp
ly đành buồn quá khi vui
Oán
sầu nhiều nỗi tơi
bời
Vóc
bồ liễu dễ ép nài chiều
xuân
Kìa
Văn Quân mỹ miều thuở
trước
E
đến khi đầu bạc
mà thương
Mặt
hoa nọ gã Phan Lang
Sợ
khi mái tóc điểm sương
cũng ngừng
Nghĩ
nhan sắc đương chừng
hoa nở
Tiếc
quang âm lần lữa gieo qua
Nghĩ
mệnh bạc, tiếc niên hoa
Gái
tơ mấy chốc xảy ra
nạ giòng
Gác
nguyệt nọ mơ màng vẻ
mặt
Lầu
hoa kia phảng phất mùi hương
Trách
trời sao để nhỡ nhàng
Thiếp rầu thiếp
lại rầu chàng chẳng quên |
| |
XIII
君 不 見 野 外 雙 鴛 鴦
Quân bất kiến dã ngoại
song uyên ương
甘 心 不 忍 兩 分 張 |
| 410 |
Cam tâm bất nhẫn lưỡng
phân trương
又 不 見 樑 間 雙 燕 燕
Hựu bất kiến lương
giang song yến yến
白 首 何 曾 忘 眷 戀
Bạch thủ hà tằng
vong quyến luyến
鶼 鶼 也 無 情
Kiêm kiêm dã vô tình
比 翼 相 隨 過 一 生
Tỷ dực tương
tuỳ quá nhất sinh
蛩 蛩 也 無 知 |
| 415 |
Cùng cùng dã vô tri
並 驅 到 老 不 相 違
Tịnh khu đáo lão bất
tương vi
路 柳 曾 傳 連 理 處
Lộ liễu tằng truyền
liên lý xứ
池 蓮 亦 有 並 頭 時
Trì liên diệc hữu tịnh
đầu thời
負 蟨 兮 駏 驉
Phụ quyết hề cự
hư
抱 蘿 兮 菟 絲 |
| 420 |
Bão la hề thố ty
何 人 生 之 相 違
Hà nhân sinh chi tương vi
嗟 物 類 之 如 斯
Ta vật loại chi như
tư
安 得 在 天 為 比 翼 鳥
An đắc tại thiên
vi tỷ dực điểu
在 地 為 連 理 枝
Tại địa vi liên lý
chi
寧 甘 死 相 見 |
| 425 |
Ninh cam tử tương
kiến
不 忍 生 相 離
Bất nhẫn sinh tương
ly
雖 然 死 相 見
Tuy nhiên tử tương
kiến
曷 若 生 相 隨
Hạt nhược sinh tương
tuỳ
安 得 君 無 老 日
An đắc quân vô đáo
lão nhật
妾 常 少 年 |
| 430 |
Thiếp thường thiếu
niên
願 為 影 兮 隨 君 邊
Nguyện vi ảnh hề
tuỳ quân biên
君 有 行 兮 影 不 遠
Quân hữu hành hề ảnh
bất viễn
君 依 光 兮 妾 如 願
Quân y quang hề thiếp
như nguyện
願 君 許 國 心 如 丹
*
Đại
ý: Nàng so bì với các loài có đôi có bạn
trong trời đất, tự
hỏi sao nàng phải lẻ loi.
Nhưng rồi nàng hồi tâm
vì nghĩ chồng đang thi hành
nghĩa vụ nam nhi trong thời
ly loạn. Rồi nàng nguyện
làm tròn bổn phận và giữ
vẹn lòng chờ chàng trở
về. |
| 353
354
355
356
357
358
359
360
361
362
363
364
365
366
367
368
369
370
371
372 |
Chàng
chẳng thấy chim uyên ở
nội
Cũng
dập dìu, chẳng vội phân
trương
Chẳng
xem chim yến trên rường
Bạc
đầu không nỡ đôi đường
rẽ nhau
Kìa loài
sâu đôi đầu cùng cánh
Nọ
loài chim chắp cánh cùng bay
Liễu,
sen là thức cỏ cây
Ðôi hoa
cũng dính, đôi dây cũng liền
Ấy
loài vật tình duyên còn thế
Sao kiếp
người nỡ để
đấy đây?
Thiếp
xin về kiếp sau này
Như
chim liền cánh, như cây liền
cành
Ðành
muôn kiếp chữ tình đã vậy
Theo
kiếp này hơn thấy kiếp
sau
Thiếp
xin chàng chớ bạc đầu
Thiếp
thì giữ mãi lấy màu trẻ
trung
Xin làm
bóng theo cùng chàng vậy,
Chàng
đi đâu cũng thấy thiếp
bên
Chàng
nương vầng nhật, thiếp
nguyền
Mọi
bề trung hiếu, thiếp xin
vẹn tròn |
| |
XIV
Nguyện quân hứa quốc
tâm như đan
願 君 庇 民 身 如 鐵 |
| 435 |
Nguyện quân tỳ dân thân
như thiết
饑 來 吞 下 月 氏 頭
Cơ lai thôn hạ Nhục
Chi đầu
渴 來 飲 下 單 于 血
Khát lai ẩm hạ Thiền
Vu huyết
何 幸 期 門 鋒 刃 中
Hà hạnh Kỳ môn phong nhẫn
trung
老 天 著 意 護 英 雄
Lão thiên trước ý hộ
anh hùng
護 英 雄 百 戰 功 |
| 440 |
Hộ anh hùng bách chiến
công
長 驅 駟 馬 靜 關 東
Trường khu tứ mã
tịnh Quan Ðông
關 東 關 北 休 傳 箭
Quan Đông Quan Bắc hưu
truyền tiễn
山 尾 山 頭 早 掛 弓
Sơn vĩ sơn đầu
tảo quải cung
捷 色 旌 旗 辭 塞 月
Tiệp sắc tinh kỳ
từ tái nguyệt
凱 歌 將 士 背 邊 風 |
| 445 |
Khải ca tướng sĩ
bối biên phong
勒 詩 兮 燕 然 石
Lặc thi hề Yên Nhiên thạch
獻 馘 兮 未 央 宮
Hiến quắc hề Vị
Ương cung
未 央 宮 兮 向 天 朝
Vị Ương cung hề
hướng thiên triều
挽 銀 河 兮 洗 刀 弓
Vãn Ngân hà hề tẩy đao
cung
詞 人 刪 下 平 淮 頌 |
| 450 |
Từ nhân san hạ Bình Hoài
Tụng
樂 府 歌 傳 入 漢 謠
Nhạc phủ ca truyền
nhập Hán dao
凌 煙 閣 兮 秦 叔 寶
Lăng Yên các hề Tần
Thúc Bửu
麒 麟 台 兮 霍 嫖 姚
Kỳ Lân đài hề Hoắc
Phiêu Diêu
天 長 地 久 茅 苴 券
Thiên trường địa
cửu mao thư khoán
子 蔭 妻 封 爵 祿 標 |
| 455 |
Tử ấm thê phong tước
lộc tiêu
有 愁 兮 此 日
Hữu sầu hề thử
nhật
得 意 兮 來 時
Đắc ý hề lai thời
*
Đại
ý: Nàng đem điều chính nghĩa thầm
khuyên chồng, mong chàng hãy gắng
sức giúp nước cứu
dân, và cầu mong cho chàng chiến
thắng khải hoàn. |
| 373
374
375
376
377
378
379
380
381
382
383
384
385
386
387
388
389
390
391
392 |
Lòng
hứa quốc tựa son ngăn
ngắt
Sức
tý dân dường sắt trơ
trơ
Máu Thuyền
Vu, quắc Nhục Chi
Ấy
thì bữa uống, ấy thì bữa
ăn
Mũi
đòng vác đòi lần hăm
hở
Ðã lòng
trời gìn giữ người
trung
Hộ
chàng trăm trận nên công
Buông
tên ải Bắc, treo cung non Ðoài
Bóng
kỳ xí giã ngoài quan ải
Tiếng
khải ca trở lại Thần
Kinh
Ðỉnh
non kia, đá đề danh
Triều
thiên vào trước cung đình
dâng công
Nước
Ngân Hán vác đòng rửa sạch
Khúc
nhạc từ réo rắt lừng
khen
Tài so
Tần, Hoắc vẹn tuyền
Tên ghi
gác Khói, tượng truyền
đài Lân
Nền
huân tướng nên công rạng
vẻ
Chữ
đồng hưu bia thẻ nghìn
đông
Ơn
trên: tử ấm thê phong
Phần
vinh thiếp cũng đượm
chung hương trời |
| |
XV
妾 非 蘇 家 癡 心 婦
Thiếp phi Tô gia si tâm phụ
君 亦 洛 陽 好 男 兒
Quân diệc Lạc dương
hảo nam nhi
歸 來 倘 佩 黃 金 印 |
| 460 |
Quy lai thảng bội hoàng
kim ấn
肯 學 當 年 不 下 機
Khẳng học đương
niên bất há ky
願 為 君 兮 解 征 衣
Nguyện vi quân hề giải
chinh y
願 為 君 兮 捧 霞 巵
Nguyện vi quân hề bổng
hà chi
為 君 梳 櫛 雲 鬟 髻
Vi quân sơ trất vân hoàn
kế
為 君 粧 點 玉 臙 脂 |
| 465 |
Vi quân trang điểm ngọc
yên chi
取 君 看 兮 舊 淚 帕
Thủ quân khan hề cựu
lệ phạ
訴 君 聽 兮 舊 情 詞
Tố quân thính hề cựu
tình từ
舊 情 詞 兮 換 新 聯
Cựu tình từ hề hoán
tân liên
語 新 話 舊 兮 酒 杯 前
Ngữ tân thoại cựu
hề tửu bôi tiền
淺 斟 兮 慢 慢 |
| 470 |
Thiển châm hề mạn
mạn
底 唱 兮 連 連
Đê xướng hề
liên liên
斟 不 斟 兮 蒲 城 釀
Châm bất châm hề Bồ
thành nhưỡng
唱 不 唱 兮 紫 騮 篇
Xướng bất xướng
hề Tử lưu thiên
願 斟 九 醞 兮 唱 雙 聯
Nguyện châm cửu uấn
hề xướng song liên
與 君 整 頓 兮 舊 姻 緣 |
| 475 |
Dữ quân chỉnh đốn
hề cựu nhân duyên
交 頸 成 雙 到 老 天
Giao kỉnh thành song đáo
lão thiên
償 了 功 名 離 別 債
Thường liễu công
danh ly biệt trái
相 憐 相 守 太 平 年
Tương liên tương
thủ thái bình niên
太 平 年 願 君 止 戈 置
Thái bình niên nguyện quân chỉ
qua trí
若 然 此 別 妾 何 淚 |
| 480 |
Nhược nhiên thử biệt
thiếp hà lệ
將 會 之 期 將 寄 言
Tương hội chi kỳ
tương ký ngôn
嗟 乎 丈 夫 當 如 是
Ta hồ trượng phu
đương như thị.
*
Đại
ý: Chinh phụ mơ ước chồng
chiến thắng khải hoàn,
chiến công hiển hách, quyền
cao lộc cả, gia đình đoàn
tụ, vui hưởng cảnh
thái bình trọn đời. |
| 393
394
395
396
397
398
399
400
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412 |
Thiếp
chẳng dại như người
Tô Phụ
Chàng
hẳn không như lũ Lạc
Dương
Khi về
đeo quả ấn vàng
Trên
khung cửi dám rẫy ruồng
làm cao
Xin vì
chàng xếp bào cởi giáp
Xin vì
chàng giũ lớp phong sương
Vì chàng
tay chuốc chén vàng
Vì chàng
điểm phấn đeo hương
não nùng
Mở
khăn lệ, chàng trông từng
tấm
Ðọc
thơ sầu, chàng thẩm từng
câu
Câu vui
đổi với câu sầu
Rượu
khà cùng kể trước sau mọi
lời
Sẽ
rót vơi lần lần từng
chén
Sẽ
ca dần ren rén từng thiên
Liên
ngâm đối ẩm đòi phen
Cùng
chàng lại kết mối duyên
đến già
Cho bõ
lúc xa sầu, cách nhớ
Giữ
gìn nhau vui thuở thanh bình
Ngâm
nga mong gửi chữ tình
Dường
này âu hẳn tài lành trượng
phu! |