| 
Cao Bá Quát - nhà
thơ lớn thế kỷ 19
Cao Bá Quát (1808 - 1855) là nhà thơ xuất sắc
của Việt Nam thế kỷ 19. Ông tự Chu Thần, hiệu Mẫn
Hiên, Cúc Đường, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm,
tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). Cao Bá Quát cùng
người anh song sinh là Cao Bá Đạt nổi tiếng thông
minh, học giỏi từ nhỏ. Thân sinh của hai ông là
Cao Cửu Chiếu, một nhà nho hay chữ, có ước vọng
khi lớn lên, các con mình sẽ trở thành quan đại
thần của triều đình nên lấy tên của hai hiền sĩ
đời Chu cũng là hai anh em sinh đôi để đặt tên cho
hai con.
Ngay từ nhỏ, Cao Bá Quát đă có giọng văn hùng hồn,
ý tứ mạnh mẽ, thể hiện ý chí của người tài hoa.
Lưu truyền rằng Cao Bá Quát thường nói: Trong thiên
hạ có bốn bồ chữ, mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi
và bạn tôi, Nguyễn Văn Siêu, chiếm một bồ, còn bồ
thứ tư chia cho thiên hạ. Khi theo học ở trường
Bắc Ninh, danh tiếng của Cao Bá Quát đă lừng lẫy.
Năm 1832, ông đi thi Hương, đỗ á nguyên tại trường
thi Hà Nội, sau đó về kinh đô (Huế) thi Hội, nhưng
thi mãi không đỗ (truyền rằng do các quan chấm thi
ghét ông kiêu ngạo nên đánh hỏng). Năm 1841, nhờ
sự tiến cử của quan tỉnh Bắc Ninh, Cao Bá Quát được
vào kinh đô nhậm chức Hành tẩu Bộ Lễ. Tuy làm quan,
cuộc sống của ông cũng hàn vi, không thay đổi.
Tháng 8-1841, ông được cử làm sơ khảo trường thi
Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy.
Ông cùng người bạn lấy muội đèn chữa giúp. Việc
bị phát giác, đáng lẽ ông bị xử chém, nhưng sau
được xét lại chỉ bị cách chức, bị tù ba năm, phát
phối đi Đà Nẵng. Về sau nhân có Đào Tri Phủ đi sứ
sang Indonesia, ông được tha và được cử theo phái
đoàn phụ tá công việc. Trở về nước, ông được khôi
phục chức cũ, một thời gian rồi bị thải. Năm 1847,
Cao Bá Quát được gọi vào làm việc ở Viện Hàn Lâm,
sưu tầm văn thơ. Hồi ấy, Tùng Thiện Cộng lập ra
Mạc Vân thi xã, được nhiều quan văn trong triều
tham gia, hưởng ứng. Giai thoại kể rằng có lần Cao
Bá Quát được xem những bài thơ của "Mạc Vân
thi xã" đã lắc đầu, bịt mũi ngâm:
"Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An"
(ví thơ của thi xã như mùi thuyền chở nước mắm
Nghệ An). Hai vị công khanh Tùng Thiện Công, Tuy
Lý Công chẳng những không giận vì thái độ của Cao
Bá Quát mà còn nhún mình đến kết giao. Thấy nhà
ông thanh bần, hai vị cọ̀n giúp đỡ vật chất. Cảm
kích thái độ của hai vị công khanh, Cao Bá Quát
gia nhập Mạc Vân thi xã. Trong thời gian này, ông
đã xướng họa nhiều bài hay nổi tiếng, đến đỗi vua
Tự Đức, một người giỏi và chuộng văn chương phải
khen ngợi văn tài của ông là một trong bốn tay cự
phách của Mạc Vân thi xã:
"Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"
(Văn của Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát có thể hơn
thời tiền Hán, thơ của Tùng Thiện Vương, Tuy Lý
Vương lấn át ngay cả thơ đời thịnh Đường). Cọ̀n
người đương thời thì tôn gọi ông là Thánh Quát (cùng
với Nguyễn Văn Siêu là Thần Siêu, Thánh Quát). Vì
hay châm biếm vua và triều đình nên ông bị đẩy khỏi
kinh đô (1850) ra làm giáo thụ ở Quốc Oai, Sơn Tây,
một vùng heo hút, nghèo nàn.
Tại đây, chứng kiến những nỗi cơ cực của nhân dân,
thông cảm với sự bất bình của đại chúng, ông đă
bí mật kết giao với nhiều bạn bè, dựng cờ khởi nghĩa
ở đất Mỹ Lương (1854). Nghĩa quân lấy danh nghĩa
phù Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, Cao Bá Quát
làm quốc sư, chống lại triều đình. Song cuộc khởi
nghĩa chỉ kéo dài được mấy tháng thì bị dập tắt.
Cao Bá Quát bị viên suất đội Đinh Thế Quang bắn
chết giữa lúc ông đang ở trận tiền. Nhà Nguyễn đã
trả thù, tru di ba họ của ông. Các tác phẩm của
ông đều bị cấm tàng trữ, thu hồi và đốt hết.
Tuy nhiên, tác phẩm của Cao Bá Quát vẫn sống mãi
trong lọ̀ng người. Những cố gắng sưu tầm sau này
đã thu thập được trên một nghìn bài thơ, phú bằng
chữ Hán và chữ Nôm của ông. Thư viện Khoa học Xă
hội Việt Nam hiện có trên 12 tập mang tên Cao Chu
Thần thi tập, Mẫn hiên thi loại, Cúc Đường thi thảo,
v.v. Nhiều bài thơ chữ Hán, thơ ca trù và bài phú
Tài tử đa cùng của ông, được nhiều thế hệ thuộc
lọ̀ng. Qua các sáng tác đó, Cao Bá Quát hiện ra
là một nhà thơ có bản lĩnh. Tâm hồn ông bao trùm
thiên nhiên, gắn bó với quê hương đất nước. Ông
ca ngợi các anh hùng dân tộc: Phù Đổng Thiên vương,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi; trân trọng các nhà chí sĩ
Chu Văn An, Nguyễn Trãi. Ông cũng rất quan tâm đến
số phận của người dân lao động lầm than. Đặc biệt,
một số bài chứng tỏ ông có tầm nhìn xa rộng, khác
với những nhà nho, nhà thơ đương thời. Ông phàn
nàn về lối học từ chương "nhai văn nhá chữ",
ông cảm thấy cái nguy cơ xâm lược của bọn thực dân
phương Tây (như trong bài Hồng mao hỏa thuyền ca).
Nổi bật lên là một niềm ưu ái lo đời, khắc khoải
vì không có cách gì làm cho thiên hạ thái bình:
Thái bình vô nhất lược,
Lộc lộc sĩ vi nho
(Không có kế gì cho thiên hạ thái bình,
Thẹn mình là anh nhà nho kém cỏi).
Trước đây, nhiều người cho rằng Cao Bá Quát là
một người khinh bạc, kiêu ngạo và nhất là có giấc
mộng đế vương. Nhưng tác phẩm của ông, không hề
thấy một tư tưởng hay một phong cách nào như thế!
Nói đến tình quê hương, tình bè bạn, nghĩa vợ chồng,
Cao Bá Quát lúc nào cũng chân tình tha thiết. Có
những chuyện nói ông xấc láo với Minh Mệnh, Tự Đức
hay chửi bới bọn quan lại là "thượng hạ giai
cẩu" v.v. Thực ra chỉ là những hư cấu, mượn
ông để đả kích bọn cầm quyền. Cả những câu thơ như
"Ba hồi trống giục mồ cha kiếp v.v." Ba
vòng dây sắt bước thì vương v.v. cũng đều là những
câu chuyện gán ghép vì sẵn mối cảm tình với ông
mà tưởng tượng ra.

|