Chương 8
CAO BÁ QUÁT
(?-1855)
Chương 8
CAO BÁ QUÁT
(?-1855)
-Cao Bá Quát là một nhà thơ lỗi lạc đồng thời là một lănh tụ của phong
trào nông dân khởi nghĩa ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ
XIX.
-Cao Bá Quát sinh vào khoảng 1808-1810 và mất năm 1855.
-Cao Bá Quát tự là Chu Thần (bậc thần tử của nhà họ Chu), hiệu là Cúc
Đường, Mẫn Hiên. Ông người làng Phú Thọ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh.
- Cao Bá Quát xuất thân trong một gia đ́nh nhà nho nghèo. Thân sinh của
ông sống vào thời kỳ Lê mạt, xă hội loạn lạc nên ông không đi thi để ra làm quan
mà chỉ sống bằng nghề dạy học. Nhưng ḍng họ Cao là một ḍng họ có truyền thống
về thi phú và khoa bảng.
-Ngay từ nhỏ, ông đă là một người thông minh, học giỏi và bản lĩnh. Tương
truyền năm 14 tuổi ông đă lều chơng đi thi nhưng không đỗ, chín năm sau (1831)
ông mới đỗ thứ hai kỳ thi hương (đỗ á nguyên, sau giải nguyên, đỗ cử nhân thứ
hai nhưng sau bộ Lễ xếp lại đánh tuộtt xuống cuối bảng). Sau đó nhiều lần Cao Bá
Quát đi thi hội ở kinh đô nhưng không đậu, trượt măi (chắc không phải v́ bất tài
mà v́ ông là người cương trực nên bị bọn quan lại ghen ghét). Mặt khác ông vốn
là người tự do, phóng túng nên không chịu viết văn theo khuôn phép trường
thi.
-Đậu cử nhân từ năm 1831 nhưng măi đến năm 1841 ông mới được bổ làm một
chức quan nhỏ mọn: chức hành tẩu bộ Lễ (bộ Lễ: nơi làm việc của quan văn có
nhiều chức, chức hành tẩu là nhỏ nhất chỉ là chân thư kư). Thời gian này ông
được cử làm sơ khảo kỳ thi hương ở trường thi Thừa Thiên. Thấy một số bài thi
xuất sắc nhưng phạm húy, ông đă cùng một người bạn chữa lỗi cho những bài thi đó
để lấy đậu nhưng bị phát giác. Ông bị khép vào tội chết, sau triều đ́nh xét
lại chỉ cách chức và đày vào Đà
Nẵng. Sau ba năm bị giam, ông được cử đi phục dịch một đoàn sứ bộ của triều đ́nh
đi công cán ở Xinhgapo để lập công chuộc tội (gọi là đi dương tŕnh hiệu
lực).
-Ở nước ngoài về, ông được giữ chức cũ một thời gian rồi lại bị thải, ông
trở về sống với vợ con ở Thăng Long.
-1847, ông lại nhận được chiếu chỉ của nhà vua bổ vào làm việc ở Viện Hàn
Lâm (sưu tầm, sắp xếp các bài thơ cho nhà vua ngâm vịnh). Nhưng vốn là một con
người có tài.và cương trực cho nên Cao Bá Quát trở thành cái gai trong mắt bọn quan
lại ở triều đ́nh, v́ thế chúng đă t́m cách đẩy ông đi xa.
-!852, ông bị đẩy đi làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây (chức quan trông coi việc học hành ở một vùng). Nơi này là một vùng hẻo lánh, ít người đi học. Đối với ông, đó là một việc đày ải thực sự nên càng làm cho ông bất b́nh. Năm ấy mùa màng lại bị châu chấu tàn phá, nhân dân vô cùng đói khổ, nhất là ở vùng Sơn Tây. Bị đẩy đến bước đường cùng, họ đă đứng lên chống bọn địa chủ, quan lại để giành sự sống. Cao Bá Quát liên lạc được với các lănh tụ khởi nghĩa bèn vứt bỏ chức Giáo thụ quèn. Ông mượn cớ pḥ Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, ḿnh làm quốc sư đứng lên kêu gọi nhân dân vùng này khởi nghĩa đánh đổ triều Nguyễn. Đáng tiếc là cuộc khởi nghĩa lại sớm thất bại. Cao Bá Quát hi sinh trong một cuộc chiến với quân triều đ́nh. Sau khi ông mất, nhà Nguyễn đă trả thù ḍng họ này một cách dă man bằng cách thi hành lệnh tru di tam tộc cả ḍng họ.
| 2.Sự nghiệp thơ văn. |
-Sáng tác của Cao Bá Quát chủ yếu bằng chữ Hán, chữ Nôm cũng có nhưng ít.
Khác với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát sống vào thời kỳ chính sách đề cao chữ Hán
của nhà Nguyễn đă có ảnh hưởng sâu rộng trong giới nho sĩ. Có lẽ Cao Bá Quát
chịu ảnh hưởng của chủ trương này.
-Về tác phẩm chữ Hán ông có hai tập thơ: Chu Thần thi tập và Cúc Đường
thi thảo. Cả hai tập thơ này có tên chung là Cao Bá Quát thi tập. Số bài thơ của
hai tập thơ này chưa rơ là bao nhiêu nhưng chắc chắn nhiều hơn số hiện nay chúng
ta sưu tập được: 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi. Sau khi nhà thơ qua đời, tác
phẩm của ông cũng phải chịu sự bạc đăi của triều đ́nh nhà Nguyễn.
-Về mặt chữ Nôm: ông có bài phú nổi tiếng Tài tử đa cùng (Người tài giỏi
có nhiều điều cùng khổ).
Ngoài ra ông c̣n có một số bài thơ Đường luật và ca trù.
II.MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC TRONG THƠ CAO BA
QUÁT.
| 1.Thơ ông chứa đựng một nội dung hiện thực phong
phú. |
-Thơ văn Cao Bá Quát thuộc khuynh hướng phê phán hiện thực, bộ mặt của xă hội đương thời
được phản ánh khá rộng răi, đa dạng và phong phú trong tác phẩm của ông. Chẳng
hạn qua thơ văn của ông người ta có thể thấy cuộc sống thiếu thốn, vất vả của
một nhà nho nghèo có hoài băo, tâm huyết đến cuộc sống của một kẻ bị tù tội oan
uổng; những sức ép tàn bạo bằng ngục tù, roi đ̣n của nhà Nguyễn đối với những
con người có tài năng, có tư tưởng tiến bộ rồi cuộc đời cùng quẫn của nhân dân
lao động trong xă hội đương thời. Cũng như bao nhà thơ tiến bộ khác, Cao Bá Quát
cũng bắt đầu từ những vấn đề của cá nhân để đi đến những vấn đề có tính xă hội
và càng về sau thơ văn ông càng giàu tính hiện thực. Từ những chi tiết mang tính hiện
thực ấy ta thấy hiện lên bộ mặt của một chế độ đă già cỗi, tàn bạo, bất nhân
đáng nguyền rủa và đáng bị tiêu diệt.
| 2. Thơ Cao Bá Quát chứa đựng nhiều t́nh cảm tốt đẹp, nhiều tư tưởng tiến bộ. |
Thơ văn Cao Bá Quát là sản phẩm tinh thần của một con người có nhân cách
cứng cỏi, trí tuệ sáng suốt; một tâm hồn lộng gió thời đại, một trái tim nhạy
bén giàu cảm xúc. V́ vậy thơ văn ông chứa đựng nhiều t́nh cảm tốt đẹp, nhiều tư
tưởng tiến bộ.
2.2.1.Ḷng yêu nước và tự hào dân tộc.
-Khâm
phục và ngưỡng mộ những người anh hùng cứu nước, ông viết các bài
thơ Vịnh Phù Đổng Thiên Vương, Vịnh
Trần Hưng Đạo...Qua việc ca ngợi những người anh hùng đó Cao Bá Quát bộc lộ ước
muốn cứu dân, cứu nước của ḿnh. Ông như t́m thấy sự tiếp sức từ trong lịch sử
của dân tộc. Đây là điểm khác biệt giữa thơ vịnh lịch sử của ông và các nhà thơ
khác (họ vịnh lịch sử để quay lưng với hiện thực cuộc sống).
-Cao
Bá Quát c̣n là con người say mê với những cảnh đẹp của non sông đất
nước, ông ca ngợi những cảch đẹp ấy.
Hầu hết các danh lam thắng cảnh của miền Bắc, ông đều có đến thăm và đề thơ ngâm
vịnh như: núi Ba V́, hồ Tây, núi Thúy Dục, sông Hương. Nét đặc sắc của nhà thơ
khi miêu tả các cảnh này là ở chỗ ông không miêu tả nó theo lối của những ẩn sĩ
đi du ngoạn để chữa bệnh tinh thần mà lại kèm theo hào khí dân tộc. Dải sông
Hương mềm mại đến thế mà khi hiện lên trong thơ ông vẫn mang một hào khí hùng
tráng:
Trường giang như kiếm lập thanh thiên
(Con sông dài như thanh kiếm dựng giữa trời xanh)
(Buổi sáng qua sông Hương).
Núi Dục Thúy, núi Tản Viên, hồ Tây từ lâu đă trở thành niềm tự hào của
đất nước và đặc biệt là là h́nh tượng núi Tản đă từng tượng trưng cho khí phách
hào hùng của dân tộc ta. Và trong thơ Cao Bá Quát nét đặc sắc là câu tự vấn của tác giả: Non sông như
thế, ḿnh th́ sao đây? khi đứng trước những thắng cảnh ấy. T́nh cảm của ông bao
giờ cũng là t́nh cảm hai chiều: Yêu thương và trách nhiệm. Đây không phải là
điều dễ t́m thấy ở các nhà thơ đương thời.
-Đặc biệt trong thời đại sống của ḿnh Cao Bá Quát đă ư thức, đă băn
khoăn cho số mệnh của đất nước trước hiểm họa xâm lăng từ phương Tây.
2.2.2.Ḷng yêu thương con người nghèo khổ, bất
hạnh.
Đây là nét đặc sắc nổi bật nhất, phân cách giữa Cao Bá Quát và các nhà
thơ đương thời. Cao Bá Quát có một ư thức v́ dân thực sự, ông đă đứng về phía
quần chúng lao động để thông cảm với những nỗi khổ đói cơm, rách áo của họ.
-Nhà thơ đă thực sự xúc động trước những t́nh cảnh đói cơm, rách áo của
những người dân nghèo:
+Bài thơ Dọc đường gặp người đói giúp ta cảm nhận được một tấm ḷng yêu
thương với t́nh cảm dạt dào.
+Bài Người tát nước trên đồng cao buổi sángtáïc giả miêu tả cảnh những
người lao động đang tát nước trên đồng cao. Buổi sáng sương núi c̣n dày đặc,
trời rét, bụng đói, môi run cầm cập mà cứ phải luôn tay kéo gàu.
+Bài Cô gái từ trên cầu trở về lúc buổi tối (Mộ kiều qui nữ) tả cảnh buổi
chiều tối, trời rét, một cô gái phải đi bán áo để mua cám cho gia đ́nh, khi trở
về qua cầu gió hun hút thổi mà cô gái vẫn thản nhiên bước đi bởi ḷng cô như ấm
lên khi nghĩ tới người nhà đang tựa cửa chờ ḿnh.
-Cao Bá Quát cũng đă nh́n thấy được nguyên nhân của sự đói khổ của quần
chúng lao động là do sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị. V́ thế nhà thơ
đă hết sức căm giận và trực tiếp phê phán chính sách cai trị hà khắc của triều
đ́nh nhà Nguyễn. Ḷng yêu thương quần chúng của Cao Bá Quát cũng đă biến thành
trách nhiệm, đây cũng là nét đặc sắc của tác giả này. Ông băn khoăn, day dứt về
trách nhiệm của ḿnh đối với dân. Có lúc ông tỏ ra bực tức v́ thấy ḿnh đă già,
đă bất lực:
Ḷng thẹn với ḷng này hóa lăo
Cúi đầu lẳng lặng dựa bên tường
2.2.3.Thơ ông chứa đựng nhiều t́nh cảm đậm đà, chung
thủy
trong quan hệ bè bạn, gia đ́nh, làng xóm.Thời kỳ bị giam, nhà thơ đă viết
nhiều bài thơ thể hiện ḷng thương vợ, nhớ con, nhớ quê hương, bạn bè da
diết.
-Ở bài thơ Tiếp thư của vợ gửi áo rét, bút và vài thứ nhà thơ đă viết
những câu thơ thật xúc động:
Trước đèn thư mở lệ muôn hàng
Hồn gửi pḥng the luống vấn vương
-Bài Mộng vong nữ
(Chiêm bao thấy con gái đă mất) là tiếng nói yêu thương, đau xót thể hiện
một tâm hồn giàu chất nhân văn của nhà thơ. Tronh mơ ông thấy người con gái đă
mất trở về với quần áo mong manh, rách nát, sắc diện thê thiết.
-Bài Trả lời người bạn hỏi thăm viết khi bị thải về nhà:
Nhớ bạn mỗi ngày tính đến trăm lần
2.2.4.Thơ ông c̣n chứa đựng nhiều tư tưởng tiến
bộ.
-Ông là người có thái độ đúng đắn trước sức mạnh vật chất của người
phương Tây. Ông không tỏ ra khiếp sợ tuy có ngạc nhiên. Bài thơ Hồng mao hỏa
thuyền ca ông miêu tả con tàu không buồm, không chèo, không người đẩy mà đi
ngang, chạy ngược nhanh như ngựa phi. Khói phun ngùn ngụt, sóng tung tóe ầm ầm
như sóng. Nhưng kết thúc bài thơ, ông kết luận đầy khí phách, cảnh cáo con tàu
đừng chủ quan khi đến biển Đông. Bởi sóng nước ở đây không dễ dàng như bể Tây
đâu.
-Ông có một thái độ đúng đắn và tiến bộ trước lối học từ chương khoa cử
của nền giáo dục phong kiến từ ngàn đời nay. Cao Bá Quát là người đầu tiên dám
phê phán và phủ định lối học đó, ông coi lối học từ chương là tṛ nhai văn nhá
chữ, là lối học trẻ con, hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thực tế. Ông phê phán
bằng lời và cả hành động của ḿnh. Việc ông chữa các bài phạm húy tựu trung cũng
mang ư nghĩa phản kháng, phê phán, xuất phát từ chỗ ông không đồng ư với những
phép tắc ngu xuẩn của trường thi thời bấy giờ.
-Ông quan tâm đến tác dụng của văn thơ và đề xuất một số quan niệm về văn
thơ rất tiến bộ. Ông cho rằng thơ vừa phải có quy cách vừa phải có tính t́nh
nhưng tính t́nh là cái quyết định.
| 3.Thơ Cao Bá Quát in đậm dấu ấn bản lĩnh và phong cách
nhà thơ. |
Cao
Bá Quát là một con người phóng túng, có nhân cách cứng cỏi, có tâm hồn, có trái
tim giàu cảm xúc. Những điều đó đă in đậm vào sáng tác và trở thành phong cách
riêng của nhà thơ, phong cách đó tạm quy vào mấy nét sau:
-Sáng tác của ông mang tính chất phóng túng: Tiêu biểu nhất là trong thơ
chữ Hán, ông sử dụng nhiều h́nh tượng mới mẻ, có nhiều tứ thơ đột xuất. Nói tới
hoa mai, các nhà thơ xưa thường ca ngợi sự trắng trong và tinh khiết của nó. Cao
Bá Quát cũng ca ngợi cái tinh khiết, cái trắng trong đó của hoa mai nhưng thiết
thực hơn ông muốn tự tay ḿnh gieo lên núi một rừng mai để rồi khi xuân đến mai
sẽ xanh tươi điểm tô cho bầu trời, mai sẽ trở thành bức tranh tuyệt tác cho đời
xem chung (Tài mai). Nói đến ḍng sông Hương của Huế, người ta thường nghĩ tới
một ḍng sông hiền ḥa mềm mại, nhưng dưới con mắt của Cao Bá Quát th́ sông
Hương lại giống như một thanh kiếm dựng đứng giữa trời xanh. Bài phú Tài tử đa
cùng cũng là một hiện tượng đặc biệt. Do tính chất biền ngẫu của câu văn nên phú
thường có cái g̣ bó của nó nhưng đọc bài phú của Cao Bá Quát ta thấy ng̣i bút
của ông vẫn phóng túng hết mực. Ông vẫn diễn tả được một cách sôi nổi cái háo
hức của tuổi trẻ. Trong bài phú ông dùng nhiều động từ diễn tả hành động mạnh
bạo để thể hiện tư tưởng lành mạnh, tiến bộ của ḿnh.
-Thơ Cao Bá Quát kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và suy nghĩ, giữa t́nh
cảm và lí trí. Lí trí làm cho t́nh cảm của nhà thơ trở nên sâu sắc hơn, đậm đà
hơn ngược lại t́nh cảm làm cho suy nghĩ của nhà thơ trở nên đúng đắn hơn. Ông
luôn băn khoăn về con đường đi của ḿnh, về trách nhiệm của một nhà nho đối với
nhân dân.
-Hiện thực trong thơ ông nôm na mà bay bổng (chất thơ) để nói rơ sự việc
Cao Bá Quát đă không ngại đi vào những chi tiết chân thực nhất của cuộc
sống.
Cao Bá Quát là nhà thơ lớn nhất trong khuynh hướng phê phán hiện thực của
văn học nửa đầu thế kỷ XIX. Đóng góp của thơ văn Cao Bá Quát trước hết là ở nội
dung, cái hơn người của ông là nội dung tư tưởng, là ḷng dũng cảm, là sự sáng suốt
cả về chính trị lẫn văn hóa. Cuộc đời của ông vẫn là một bài học quí, khi cần
thiết ông biết ném cây bút để nắm lấy Long tuyền.